Định hướng cải tiến nội dung đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp để đáp ứng nhu cầu lao động tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam là vùng công nghiệp lớn, đóng góp tích cực cho quá trình tăng trưởng của nền kinh tế đất nước bằng phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng cao, đi trước, thúc đẩy quá trình chuyển tải xuất nhập khẩu và phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ, vốn, lao động, công nghệ. Đây cũng là cửa ngõ và đầu mối giao lưu quốc tế năng động, góp phần tăng thêm sức mạnh đối trọng, nâng cao vị trí của nước ta trong đối thoại, mở rộng hợp tác, từng bước thích ứng và hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực. Do đó, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của toàn vùng nói chung và cho các khu công nghiệp nói riêng là một yêu cầu vô cùng cấp thiết.

TP. Hồ Chí Minh được coi là Trung tâm của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam

Tình hình kinh tế xã hội và sự phát triển công nghiệp ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN)

Trong mấy năm qua tốc độ tăng trưởng bình quân GDP ở vùng khá cao so với toàn quốc (11,9%). Thu ngân sách so với GDP đạt 17,37% và đóng góp 36 % tổng thu ngân sách cả nước.Với khả năng phát triển như trên, từ nay đến năm 2030 vùng sẽ đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhất so với các vùng khác trong cả nước, kể cả vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cũng như vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

Sản xuất công nghiệp là thế mạnh của vùng và có thể nói là mạnh nhất nước. Toàn vùng có trên 70 Khu công nghiệp (KCN) và Khu chế xuất (KCX)  với 29.500 cơ sở sản xuất Công nghiệp (CN), trong đó có 29.125 cơ sở ngoài quốc doanh (98,5%). Mức sản xuất của vùng chiếm 2/3 giá trị sản lượng công nghiệp của Nam Bộ và khoảng một nửa giá trị sản lượng CN cả nước. TP. Hồ Chí Minh là trung tâm CN lớn nhất chiếm 56,7% giá trị tổng sản lượng CN toàn vùng. Kế đến là tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương, các KCN đang hoạt động, cũng như các KCN đã được quy hoạch thuận lợi  về điều kiện tự nhiên, môi trường và đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) Đất nước.

Định hướng trong thời gian tới, với tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp giai đoạn 2020-2025 đạt 15-16%; giai đoạn 2026-2030 mục tiêu dự kiến phát triển lần lượt đạt khoảng 13-14%, khu vực công nghiệp thu hút thêm khoảng 800 đến 810 nghìn lao động. Đến năm 2030, ngành công nghiệp sẽ có khoảng 5,5 đến 6 triệu lao động, chiếm 37-38% tổng số lao động trên địa bàn. So với năm 2015, năng suất lao động công nghiệp (tính theo GDP) năm 2020 đạt gấp khoảng 1,46 lần, năm 2025 dự kiến gấp 3,5 -4 lần. Trong đó, một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường sự hợp tác liên kết giữa các tỉnh trong vùng và giữa vùng với các vùng kinh tế khác trong cả nước; từng bước hình thành các cụm liên kết doanh nghiệp; hình thành thêm một số khu công nghệ cao tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh.

Bình Dương cũng là một trong những địa phương có vai trò quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam

Vai trò của giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trong sự phát triển CN ở vùng KTTĐPN

Do sự phát triển CN tăng nhanh với quy mô và tốc độ cao, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN) cần nhanh chóng chuẩn bị đủ lực lượng lao động kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của toàn vùng nói chung và cho các KCN nói riêng. Theo dự báo của các Ban quản lý các KCN trong vùng, từ nay đến năm 2025, vùng sẽ thu hút thêm 3,8 triệu người vào làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, trong đó công nghiệp khoảng 43%, xây dựng 12% và các ngành dịch vụ 45%. Do đó việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp trong vùng là hết sức cần thiết, phải được coi như một trong những điều kiện tiên quyết để thành công.

GDNN theo quan điểm giáo dục toàn diện là đảm bảo người học có kiến thức kỹ thuật hệ thống và vững chắc, đồng thời có kỹ năng tay nghề cơ bản, trên cơ sở đó tạo khả năng thích ứng cao với những biến đổi kỹ thuật và công nghệ. Vì thế, GDNN bao gồm cả mặt giáo dục và mặt huấn luyện, là quá trình chuẩn bị đầy đủ nhân cách và kỹ năng thực hiện công việc cho thanh, thiếu niên bước vào cuộc sống lao động nghề nghiệp.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển CN cùng với sự chuyển dịch lao động diễn ra trên quy mô lớn giữa các ngành, chủ yếu từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giữa các địa phương trong vùng. Hệ thống GDNN trong toàn vùng phải mở rộng cả quy mô và chất lượng đào tạo, nhất là lực lượng lao động trẻ ở các vùng miền trên cả nước đến nhập cư và làm việc tại các KCN. Các cơ sở GDNN trong vùng cần tập trung đẩy mạnh phát triển các hình thức đào tạo kỹ năng chuyên nghiệp, hình thành một đội ngũ công nhân kỹ thuật và nhân viên trung cấp với phương châm đào tạo kiến thức gắn với huấn luyện nghề nghiệp, chất lượng đào tạo phải theo kịp và đáp ứng cho những ngành nghề mới phát triển theo yêu cầu của doanh nghiệp, tạo nền tảng để nâng cao, chuyên sâu vào khoa học kỹ thuật ứng dụng.

Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo, GDNN cần chú trọng đến nâng cao chất lượng đào tạo tuân theo các chuẩn chất lượng phù hợp là điều hết sức quan trọng. Dựa vào chuẩn để đánh giá mức độ chất lượng của các thành tố trong hệ thống GDNN. Quá trình đào tạo trong GDNN chịu ảnh hưởng của các điều kiện tiến hành giáo dục và đào tạo. Do vậy, muốn nâng cao chất lượng GDNN cũng cần quan tâm đến các điều kiện để tiến hành đào tạo. Nếu các điều kiện để bảo đảm chất lượng không đạt chuẩn thì sản phẩm của đào tạo khó lòng đạt chuẩn được đề ra. Do đó việc nâng cao chất lượng GDNN cần quan tâm đến các nhóm yếu tố xác định chuẩn chất lượng GDNN của quá trình đào tạo, nhóm các yếu tố liên quan đến đầu vào của quá trình đào tạo; nhóm các yếu tố liên quan đến quá trình dạy học và nhóm các yếu tố liên quan đến đầu ra của quá trình đào tạo.

Một số định hướng cải tiến nội dung đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong GDNN ở vùng KTTĐPN:

Trường Trung cấp Công nghiệp Bình Dương là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng tốt cho thị trường lao động trong khu vực.

Quá trình đào tạo trong GDNN là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh thông qua mục đích, nội dung và phương pháp đào tạo. Thực tế sản xuất với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đã phát sinh thêm nhiều ngành nghề mới với nhiều nội dung phong phú và hiện đại, do đó nội dung đào tạo của từng ngành nghề trong GDNN  phải luôn được cải tiến, cập nhật và thỏa mãn những yêu cầu của sự phát triển CN đang đặt ra.

-Cải tiến nội dung đào tạo theo hướng cơ bản và thực tiễn:

Nội dung đào tạo cần được xây dựng trên cấu trúc cơ bản của khả năng hành nghề bao gồm ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ trong các chuẩn về nghề nghiệp cần đạt được và các điều kiện thực hiện cần có. Mặt khác, nội dung đào tạo phải thực tiễn trong việc định hướng đầu ra, cụ thể là người học viên tốt nghiệp có khả năng làm được gì và có thể làm được tốt như mong đợi. Việc lựa chọn nội dung đào tạo một cách phù hợp với trình độ của người học, trình độ thực tiễn nghề nghiệp và nó là nền tảng cơ bản nhằm phát huy tính năng động và sáng tạo của người học, mục tiêu đào tạo phải xác định đúng mức, nội dung đào tạo phải thể hiện qua mục tiêu, như vậy chương trình đào tạo phải dựa trên cơ sở nhu cầu của xã hội, thực tiễn sản xuất và trên cơ sở phân tích nghề, đặc biệt là những nghề mang tính mũi nhọn cho sự phát triển CN ở trong vùng như nhóm nghề nghiệp thuộc công nghệ may mặc, giày da, chế biến gỗ xuất khẩu và các nhóm nghề công nghệ điện tử phụ trợ đang thu hút một lực lượng lao động rất lớn.

Bên cạnh đó, việc cải tiến nội dung đào tạo để tạo mọi điều kiện cho người học có thể dễ dàng học tiếp lên các mức độ chuyên môn và bậc học cao hơn. Kết cấu chương trình nội dung đào tạo theo từng môdule, nhiều môdule kết nối để tạo thành một chỉnh thể đào tạo, thích hợp và cần thiết cho mọi đối tượng đào tạo. Đặc biệt trong GDNN việc triển khai học tập theo môdule làm cho người học dễ dàng sắp xếp thời gian học tập, để sau khi học đầy đủ họ sẽ được công nhận trình độ tay nghề một cách chính thức. Theo phương thức này thì người học phải biết lựa chọn ngành nghề đó một cách tự nguyện thì việc cải tiến nội dung đào tạo trong GDNN mới đạt hiệu quả cao.

-Cải tiến nội dung đào tạo theo hướng hiện đại và linh họat:

Công nghệ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại rất phong phú và đổi mới liên tục cả về tính chất, phạm vi của công nghệ. Nội dung đào tạo trong GDNN cũng cần phải cải tiến để hiện đại hóa để có thể tiếp cận được những công nghệ mới mang tính nhảy vọt, đột biến, nhằm đem lại sự biến đổi sâu sắc trong đào tạo nguồn nhân lực và đáp ứng được yêu cầu phát triển CN.

Nội dung đào tạo nghề nghiệp trong quá trình đổi mới công nghệ theo hướng đi thẳng, tức là làm cho cả hai yếu tố lao động và máy móc thiết bị  cùng được tiết kiệm theo tỷ lệ thuận; hoặc đổi mới công nghệ theo hướng đi xiên, tức là làm cho yếu tố giá không thay đổi, tỷ số tối thiểu giữa máy móc thiết bị và lao động sẽ tăng lên, song sức lao động sẽ được tiết kiệm. Trong trường hợp này, để tạo ra cùng một lượng đầu ra thì chi phí lao động sẽ ít hơn là chi phí máy móc thiết bị.  Việc cải tiến nội dung đào tạo thể hiện qua sự tương tác với thị trường lao động, tiếp cận công nghệ mới, bảo đảm hình thành tri thức, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp cho người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học trực tiếp tham gia lao động nghề nghiệp chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong vùng, góp phần cho sự phát triển công nghiệp nhanh và bền vững.

Nội dung chương trình phải đảm bảo tính hiện đại và linh hoạt thể hiện thông qua các thông tin kiến thức phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc tiếp cận các công nghệ mới và các phương pháp tiên tiến trong sản xuất. Để nâng cao chất lượng GDNN, cần xây dựng các chương trình có nội dung đào tạo phù hợp với sự phát triển để người học có điều kiện nâng cao trình độ cả về kiến thức lẫn tay nghề theo nhu cầu doanh nghiệp. Việc cải tiến nội dung chương trình phải thường xuyên cập nhật, cần xác định phần cơ bản nào có tính ổn định lâu dài và phần nào cần cập nhật, bổ sung một cách linh hoạt, có như vậy mới thực hiện được mục tiêu đào tạo trong cơ chế thị trường và đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghiệp.

-Cải tiến nội dung đào tạo theo hướng tích hợp lý thuyết và thực hành:

  • Tích hợp theo mối liên hệ nội dung, bao gồm: kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, những yếu tố hoạt động sáng tạo, thế giới quan và phẩm chất đạo đức của người lao động.
  • Tích hợp theo cấu trúc của các nhân tố kiến thức, bao gồm: các sự kiện, các khái niệm, các định luật, các học thuyết.
  • Tích hợp theo cấu trúc của các khái niệm và hiện tượng, bao gồm  các nhân tố đồng bộ của khái niệm và hiện tượng, bản chất của hiện tượng và cơ chế tiến triển, mối liên hệ giữa các hiện tượng.
  • Tích hợp theo module, bao gồm những kỹ năng thao tác trong các module liên hệ được giảng dạy và lĩnh hội trong từng môdule học và có thể áp dụng trong thực hành kỹ năng nghề nghiệp.Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Nguyễn Văn Hiệp trao quyết định thành lập trường cho TS. Vũ Minh Hùng (bên phải) – Hiệu trưởng Trường TCCN Bình Dương năm 2010

Tóm lại, qua việc nghiên cứu thực trạng GDNN cùng với vai trò quan trọng của GDNN đối với sự phát triển CN ở vùng KTTĐPN thì việc cải tiến nội dung đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong GDNN theo một số định hướng nêu trên nếu được áp dụng cụ thể trong quá trình đào tạo những nghề nghiệp riêng biệt là một trong những hướng đi quan trọng góp phần nâng cao chất lượng GDNN đáp ứng được nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp trong sự phát triển công nghiệp trên địa bàn ở vùng KTTĐPN trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Báo cáo tổng kết 2015-2020 – BQL các KCN, KCX TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương.

  1. Kỷ yếu Hội thảo liên kết đào tạo và sử dụng nhân lực KCN Đồng Nai, 2019.

3.Kỷ yếu Hội thảo đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho KCX, KCN TP. Hồ Chí Minh, 2020.

4.Nguyễn Quang Huỳnh. Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổi mới phương pháp dạy-học –NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, 2006.

  1. Putnam, A.R. (2010), Problem – Based Teaching and Learning in Technology Education – U.S. Department of Education.
  2. Kaya Yilma (2008), Constructivism and Its Implications for Classroom Instruction – Educational Horizons, Marmara Univsersity, Turkey.
  3. Và một số tài liệu khác.

TS.VŨ MINH HÙNG (HT Trường Trung cấp Công nghiệp Bình Dương)