NÂNG CAO NĂNG LỰC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

(SVK) – Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) là quá trình giáo dục hình thành cho học sinh nhân cách người lao động mới có phẩm chất, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp. GDNN có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.  Nếu GDNN phát triển và đào tạo đủ lực lượng lao động sẽ đảm bảo được tỷ lệ cơ cấu lực lượng lao động hợp lý, làm cho các ngành kinh tế phát triển bền vững. Vì vậy, việc nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trong GDNN là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao giáo dục nhân cách, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động trong thời đại mới

Bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ sư phạm của giáo viên là yếu tố cốt lõi để nâng cao chất lượng GDNN

Một trong những lý do quan trọng khiến GDNN hiện nay ở nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp đó là chất lượng đào tạo lao động, trong đó vai trò của người giáo viên (GV) trong GDNN giữ một vị trí quan trọng. Người GV trong GDNN không những phải có năng lực chuyên môn mà còn phải có năng lực sư phạm, hai yếu tố này có mối liên hệ biện chứng với nhau.

Các cơ sở GDNN muốn thực hiện việc cải tiến nội dung chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học cần phải có đội ngũ GV để thực hiện. Đồng thời, các cơ sở GDNN muốn tăng cường kỹ năng thực hành để cung cấp nguồn lao động có chất lượng cao cho thị trường lao động, đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc phục vụ cho thực hành, thực tập theo kịp công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp thì việc có một đội ngũ GV đủ năng lực để giảng dạy và hướng dẫn cho học sinh cũng là vấn đề rất quan trọng.

Ban giám hiệu trường trung cấp Công Nghiệp Bình Dương

Do đó, bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ GV trong GDNN đang là vấn đề cấp thiết đặt ra để góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong GDNN.

 Cấu trúc năng lực sư phạm của người GV trong GDNN

Năng lực là sự tổng hợp các thuộc tính độc đáo của nhân cách phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả. Năng lực sư phạm (NLSP) là đặc trưng của người GV, đặc biệt trong GDNN, năng lực sư phạm của người GV mang tính đặc thù.

NLSP là tổ hợp của nhiều yếu tố, đặc biệt là năng lực chuyên môn nghề và năng lực sư phạm chuyên biệt. Người GV trong GDNN nếu chỉ có năng lực chuyên môn nghề thì đó là nhà kỹ thuật chứ không phải là GV theo đúng nghĩa của nó. Nhiều GV có thể tiến hành hoạt động nghề nghiệp rất tốt, nhưng không dạy người khác nắm được chuyên môn nghề, vì họ không nắm vững cách thức, con đường để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho học sinh, không biết tổ chức, điều khiển quá trình GDNN. Do đó, NLSP của người GV trong GDNN là sự tổ hợp các đặc điểm tâm lý của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động sư phạm trong GDNN, để đào tạo người lao động những kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp mà xã hội đòi hỏi. Về cơ bản NLSP bao gồm các yếu tố sau:

+Năng lực chuyên môn nghề là năng lực quan trọng nhất của người GV trong GDNN. Đây làtiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng GV trong GDNN, đồng thời cũng là yếu tố để phân biệt giáo viên trong GDNN với giáo viên phổ thông. Trên cơ sở phân tích nghề theo phương pháp Dacum, người ta đã xây dựng được cấu trúc của năng lực chuyên môn nghề bao gồm: Năng lực nắm vững kiến thức chuyên môn; năng lực thực hành nghề; năng lực tổ chức quản lý sản xuất.

+Năng lực sư phạm chuyên biệt là đặc trưng của nghề dạy học nói chung và GDNN nói riêng. Năng lực sư phạm chuyên biệt quyết định sự thành công của hoạt động dạy học trong GDNN. Hoạt động của người thầy thể hiện ở tất cả các hình thức khác nhau của công tác sư phạm, nhưng tựu chung lại ở hai dạng đặc trưng: công tác dạy học và công tác giáo dục.

Người GV trong GDNN có những nhiệm vụ quan trọng là truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề cho học sinh. Nội dung này được thể hiện trong chương trình đào tạo của mỗi nghề bao gồm: kiến thức kỹ thuật cơ bản là khối kiến thức tạo nền móng để tiếp thu kiến thức các môn chuyên môn. Kiến thức chuyên môn là khối kiến thức về lý thuyết nghề, an toàn lao động, tổ chức quản lý quá trình sản xuất. Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề là nhiệm vụ quan trọng nhất quyết định đến chất lượng đào tạo trong GDNN.

Do đó, NLSP của người GV trong GDNN giữ vai trò chủ đạo, là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo. Trong thời gian học tập, học sinh được GV hướng dẫn, rèn luyện để có được các kỹ năng, kỹ xảo và những thao tác cơ bản của nghề. Rèn luyện tay nghề cho học sinh là nhiệm vụ rất nặng nề đòi hỏi người GV phải có năng lực cơ bản, phương pháp dạy học tích cực và linh hoạt để hướng dẫn học sinh hình thành được những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp để đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp.

Bồi dưỡng NLSP cho đội ngũ GV nhằm nâng cao chất lượng trong GDNN

Mục đích cơ bản và quan trọng nhất của quá trình dạy học trong GDNN là hình thành cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển tư duy và năng lực sáng tạo kỹ thuật. Trong quá trình GDNN, người GV phải giảng dạy và hướng dẫn cho học sinh: Lập được kế hoạch, quy trình sản xuất; có kỹ năng, kỹ xảo để chuẩn bị và thực hiện quá trình sản xuất; có kỹ năng, kỹ xảo điều chỉnh và kiểm tra quá trình sản xuất; bảo trì và duy trì trạng thái làm việc của các thiết bị chuyên dùng trong quá trình sản xuất.

Do đó, để nâng cao chất lượng dạy học trong GDNN, cần bồi dưỡng cho đội ngũ GV có đủ năng lực để hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản, bao gồm:

Năng lực dạy học: Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên năng lực sư phạm của người GV, bởi vì nhiệm vụ chính của giáo viên là dạy học. Năng lực dạy học được tạo thành bởi các thành tố sau: Năng lực chuẩn bị giáo trình, giáo án; Lựa chọn tài liệu tham khảo, xác định được mục đích yêu cầu và các kiến thức, kỹ năng cơ bản; Lựa chọn được phương pháp giảng dạy, các bước hướng dẫn để hình thành kỹ năng cho học sinh, chuẩn bị vật liệu, trang thiết bị dạy học phù hợp với từng bài tập.

Đồng thời, người giáo viên phải dự kiến được những tình huống sư phạm xảy ra trong quá trình dạy học và phương án xử lý. Tất cả những yêu cầu này phải được thể hiện trong giáo án.

Năng lực tổ chức: Dạy học thực chất là quá trình tổ chức hoạt động dạy và học, vì vậy đòi hỏi người GV phải có năng lực tổ chức. Năng lực này thể hiện ở sự phối hợp nhịp nhàng những hoạt động của GV và học sinh trong giờ dạy lý thuyết, thực hành nghề, tham quan thực tế và các hoạt động ngoại khoá.

Năng lực thực hiện: NLSP của người GV chỉ thực sự được bộc lộ khi tiến hành dạy học. Người GV phải tổ chức được toàn bộ hoạt động của giờ học: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, hướng dẫn bài mới, củng cố kỹ năng, kiến thức và hướng dẫn cho học sinh nội dung và phương pháp luyện tập. Tất cả các công việc này người GV phải độc lập giải quyết trong quá trình dạy học đặc biệt là dạy thực hành trong GDNN.

Mặt khác, muốn nâng cao được NLSP cần bồi dưỡng cho người GV trong GDNN có những năng lực cần thiết sau:

Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Bằng ngôn ngữ, người GV truyền tải thông tin đến học sinh, điều khiển quá trình học tập, rèn luyện của học sinh. GV có ngôn ngữ rõ ràng, diễn cảm sẽ giúp cho học sinh hiểu bài tốt hơn, học sinh sẽ tập trung chú ý trong giờ học. Ngôn ngữ nói phải tiếp cận được với ngôn ngữ viết thì hiệu quả truyền tải thông tín trong giảng dạy mới cao.

Năng lực sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học: Trong GDNN việc dạy thực hành là yếu tố quan trọng, người GV phải có năng lực sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học, biết đưa mô hình, học cụ cho học sinh quan sát, thực hành đúng lúc, để tập trung sự chú ý của người học. Ngày nay nền khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, các công nghệ mới xuất hiện và cạnh tranh nhau, đòi hỏi người GV phải biết tiếp cận và sử dụng các thiết bị dạy học mới, khai thác được các thiết bị phương tiện dạy học đáp ứng được sự phát triển công nghệ trong đào tạo kỹ năng nghề nghiệp.

Năng lực giao tiếp: Thực chất dạy học là quá trình giao tiếp giữa GV và học sinh. Năng lực này bao gồm những hành động liên quan đến việc xác lập có tính chất sư phạm những mối liên hệ giữa GV và học sinh. Năng lực giao tiếp được thể hiện trong việc đánh giá và phát triển nhu cầu của học sinh để phối hợp hoạt động dạy và học. Năng lực giao tiếp của GV còn được thể hiện ở sự lịch thiệp trong ứng xử sư phạm.

Năng lực kiểm tra, đánh giá: Cùng với năng lực dạy học, người GV phải có năng lực kiểm tra, đánh giá. Năng lực này rất quan trọng nhờ đó mà người GV nắm được trình độ, khả năng tiếp thu bài của học sinh, để kịp thời cải tiến phương pháp dạy học. Ngoài việc đánh giá kết quả học tập của học sinh người GV phải biết tự đánh giá những thành công, hạn chế của từng bài giảng để có biện pháp khắc phục, thúc đẩy được ý thức tự học, tự rèn luyện của học sinh và bản thân mình.

Năng lực giáo dục: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của người GV trong là hình thành nhân cách người lao động mới cho thế hệ trẻ. Muốn vậy người GV phải có năng lực giáo dục. Năng lực đó được thể hiện ở khả năng cảm hóa, thuyết phục học sinh của người GV. Người GV cần phải biết đặc điểm tâm lý của từng học sinh, để có phương pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng. Đặt biệt, người GV phải thực sự gương mẫu, là tấm gương về đạo đức nhà giáo cho học sinh noi theo.

TS. Vũ Minh Hùng trao bằng tốt nghiệp cho các sinh viên

Tóm lại, qua nghiên cứu thực trạng chất lượng GDNN và nhu cầu phát triển công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thì việc bồi dưỡng NLSP cho đội ngũ GV trong GDNN là hết sức cần thiết. Để có thể đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, bồi dưỡng năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm cho đội ngũ GV là vấn đề đang được quan tâm hiện nay của các trường, cơ sở GDNN góp phần đào tạo được đội ngũ lao động chất lượng cao, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

TS. Vũ Minh Hùng

(HT Trường Trung cấp Công nghiệp Bình Dương)