Những khuyến cáo khi sử dụng thuốc Molnupiravir

SKV – Bộ Y tế khuyến cáo một số bệnh nhân không được sử dụng thuốc Molnupiravir trong quá trình điều trị Covid-19 như: phụ nữ đang mang thai, trẻ em…

Thuốc Molnupiravir cấp cho F0 điều trị tại nhà

Theo TS. Nguyễn Hồng Vũ – Viện Nghiên cứu ung thư City of Hope, California, Mỹ, hoạt chất chính trong thuốc điều trị Covid-19 Molnupiravir là chất β-D-N4-hydroxycytidine (gọi tắt là NHC) triphosphate. Chất này có khả năng cạnh tranh với 2 trong 4 cơ chất khi virus tổng hợp gene của nó là C (cytidine triphosphate) và U (uridine triphosphate). Do vậy, khi có sự hiện diện của thuốc Molnupiravir, thay vì sử dụng C hoặc U, nó sẽ có xác suất dùng “nhầm” hợp chất NHC triphosphate và dẫn đến đột biến gene của virus.

Đột biến này khiến cho các protein của virus tạo ra sau đó bị hư hỏng, không sử dụng được nên sẽ không sinh sản nữa. Hiện tại, Molnupiravir được cấp phép sử dụng tại hơn 10 quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật Bản và tại Việt Nam.

Căn cứ các chỉ định, các khuyến cáo của Molnupiravir được phê duyệt bởi Cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ (FDA) và Cơ quan Quản lý Dược và Sản phẩm Y tế của Anh (MHRA), Bộ Y tế đưa ra hướng dẫn sử dụng loại thuốc này.

Molnupiravir được sử dụng để điều trị Covid-19 mức độ nhẹ đến trung bình ở người trưởng thành dương tính với xét nghiệm chẩn đoán SARS-CoV-2 và có ít nhất một yếu tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng.

Khuyến cáo của Bộ Y tế nêu rõ người bệnh chỉ sử dụng thuốc Molnupiravir khi có đơn của bác sĩ theo đúng chỉ định và các giới hạn sử dụng, cảnh báo, thận trọng của thuốc. Cụ thể: Chỉ dùng trên bệnh nhân có thời gian khởi phát triệu chứng dưới 5 ngày; Không được sử dụng quá 5 ngày liên tiếp; Không được sử dụng dự phòng sau hay trước phơi nhiễm để phòng Covid-19.

Bộ Y tế cũng khuyến cáo những trường hợp không nên sử dụng thuốc:

Đối với phụ nữ có thai và cho con bú: Không được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai. Phụ nữ có khả năng mang thai nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều Molnupiravir cuối cùng; Dựa trên khả năng xảy ra các phản ứng có hại cho trẻ sơ sinh từ Molnupiravir, không khuyến cáo cho con bú trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều cuối cùng.

Đối với trẻ em và thanh thiếu niên: Không được phép sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vì có thể ảnh hưởng sự phát triển của xương và sụn.

Đối với nam giới: Có thể ảnh hưởng đến tinh trùng, mặc dù rủi ro được coi là thấp. Vì vậy, nam giới hoạt động tình dục với phụ nữ có khả năng sinh đẻ nên sử dụng phương pháp tránh thai tin cậy trong thời gian điều trị và ít nhất 3 tháng sau liều cuối cùng.

Bên cạnh đó, Bộ Y tế khuyến cáo người dân không tự ý mua, sử dụng thuốc Molnupiravir trôi nổi, không rõ nguồn gốc, xuất xứ trên thị trường. Trong quá trình sử dụng, nếu gặp phải bất kỳ phản ứng có hại nào của thuốc, F0 cần thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ để được tư vấn và xử trí kịp thời.

Theo tiến sĩ, dược sĩ Phạm Đức Hùng – Chuyên gia về miễn dịch và truyền nhiễm, Bệnh viện Cincinnati, Ohio, Mỹ, người dân sử dụng thuốc này nên có sự tư vấn kỹ càng từ dược sĩ và bác sĩ. Bởi đây là loại thuốc không dễ sử dụng.

Molnupiravir không nên dùng với mục đích phòng Covid-19. Các thuốc kháng virus khác có cơ chế là dừng quá trình vật liệu di truyền (RNA hay DNA) của virus nhân lên, trong quá trình virus phân chia. Molnupiravir không dừng quá trình này, vật liệu di truyền của virus vẫn nhân lên. Tuy nhiên, các thành phần tạo nên vật liệu này bị biến đổi. Chính vì vậy, đây là một thuốc gây đột biến gene của virus và cuối cùng làm chúng bị chết.

Tuy không được thiết kế để gây đột biến gene ở người, việc dùng thuốc kéo dài như một biện pháp đề phòng sẽ tăng nguy cơ tế bào bị đột biến.

Do đó, thuốc chỉ được khuyến cáo dùng tối đa 5 ngày với liều chỉ định. Việc tự ý dùng quá liều sẽ làm tăng nguy cơ gây đột biến (dẫn tới ung thư) của thuốc. Các thuốc kháng virus với cấu trúc giống nucleoside (thành phần tạo nên vật liệu di truyền) nói chung đều có khả năng gây nên một số độc tính nguy hiểm (đặc biệt nếu dùng quá liều) như ức chế hệ miễn dịch, gây bội nhiễm, ung thư, tan máu…

Hiện tại, Bộ Y tế đã cấp phép cho 3 đơn vị được phân phối thuốc Molnupiravir tại Việt Nam bao gồm:

Thuốc Molnupiravir (400 mg) dạng viên nang cứng do Công ty Cổ phần Dược phẩm Boston Việt Nam sản xuất có giá là 11.500 đồng/viên. Dạng hộp có 1, 2, 5 vỉ x 10 viên/vỉ.

Giá của thuốc Molnupiravir (200 mg) dạng viên nang của Công ty Cổ phần hóa – dược phẩm Mekophar có giá 8.765 đồng/viên. Dạng hộp 10 vỉ x 10 viên.

Đơn vị thứ 3 được Cục Quản lý Dược Bộ Y tế công bố giá bán là Công ty TNHH liên doanh Stellapharm chi nhánh 1 có giá 12.500 đồng/viên (dạng viên nang cứng), mỗi hộp 1 vỉ hoặc 2 vỉ x 10 viên./.

Nguyễn  Sơn (TH)