Cây vàng đắng: Vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại

Cây Vàng đắng (Coscinium fenestratum) từ lâu đã được biết đến như một vị thuốc quý trong y học cổ truyền, đồng thời cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng để chiết xuất berberine – một hoạt chất có nhiều ứng dụng trong y học hiện đại. Với những đặc điểm sinh học độc đáo và công dụng đa dạng, cây Vàng đắng ngày càng được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi.

Tên gọi, danh pháp

Tên tiếng Việt: Vàng đắng.

Tên gọi khác: Vàng đằng, Hoàng đằng lá trắng, cây Mỏ vàng.

Tên khoa học: Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.

Chi Coscinium, họ Menispermaceae (họ Tiết dê), bộ Ranunculales.

Đặc điểm sinh học

Cây Vàng đắng thuộc họ Menispermaceae (họ Tiết dê), là loài thực vật dây leo thân gỗ, thường mọc bò trên mặt đất hoặc leo lên các cây gỗ lớn. Thân cây có đường kính từ 5 - 10 cm, vỏ ngoài ban đầu màu trắng bạc, khi già chuyển sang màu vàng ngà hoặc nâu xù xì. Lá cây mọc so le, phiến lá hình bầu dục, dài khoảng 9 - 20 cm, màu xanh bóng, nhẵn và cứng. Hoa nhỏ, có màu trắng hoặc vàng, trong khi quả có hình trái xoan, ban đầu màu xanh và chuyển sang vàng khi chín.

Phân bố và thu hái

Vàng đắng có nguồn gốc từ Malaysia và phân bố rộng rãi ở các khu vực rừng núi của Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Sri Lanka và Ấn Độ. Tại Việt Nam, cây tập trung chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nghệ An. Việc thu hái cây diễn ra quanh năm, thường vào mùa thu. Sau khi thu hái, thân và rễ cây được cạo bỏ lớp vỏ ngoài (hoặc giữ nguyên), thái mỏng rồi phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ từ 50 - 60°C.

Thành phần hoá học

Nhiều thành phần khác nhau đã được phân lập từ Coscinium fenestratum và cấu trúc của chúng đã được làm sáng tỏ. Chúng thuộc các nhóm alkaloid khác nhau, tổng cộng có 32 hợp chất, trong đó có 2 alkaloid benzylisoquinoline, 3 alkaloid aporphine, 12 alkaloid protoberberine bậc bốn, 10 alkaloid 8-oxoprotoberberine, 3 alkaloid tetrahydroprotoberberine, một số alkaloid nhỏ cũng như ceryl-alcohol, saponin, hentriacontane, sitosterol glucoside, acide palmitic, acide oleic.

Thân cây Coscinium fenestratum từ Thái Lan cung cấp các alkaloid protoberberine mới. Nguyên lý hoạt động của loại cây này được xác định là berberine (C20H18NO4Cl), một loại alkaloid isoquinoline.

Berberine hiện diện ở cả bộ phận sinh dưỡng và sinh sản, cho thấy berberine được tổng hợp ở mọi bộ phận của cây (rễ non = 0,15%, thân non = 0,10%, cuống lá = 0,11%, lá mỏng = 0,037%, hoa đực = 0,02% , hoa cái = 0,026%, quả = 0,001%, phần già hơn của rễ (đường kính 3,1cm) = 1,65% và phần già hơn của thân (đường kính 6,2cm) = 1,775% trọng lượng khô, dữ liệu chưa được công bố). Thân gỗ và rễ C. fenestratum có một số alkaloid isoquinoline khác như palmatine, tetrahydropalmatine, crebanine và jatrorhizine.

Việc sử dụng rộng rãi ở các vùng địa lý khác nhau cần phải tiêu chuẩn hóa nguyên liệu thô và chiết xuất của C. fenestratum. Phân tích định lượng berberine được thực hiện trong dịch chiết từ các mảnh thân và rễ bằng HPLC, kiểm tra nhận dạng sắc ký lớp mỏng (TLC), đặc điểm dấu vân tay TLC và phương pháp đo mật độ TLC. Ngâm với 80% ethanol cho hàm lượng berberine cao nhất trong dịch chiết. Một enzyme tetrahydro berberine oxidase (THB) tham gia vào bước cuối cùng của quá trình sinh tổng hợp berberine, đã được tinh chế một phần từ nuôi cấy mô và tế bào thực vật. Việc bổ sung đồng sunfat trong môi trường sản xuất cũng cho thấy hoạt động của enzyme tăng lên cùng với sự gia tăng sản xuất berberine.

Cây vàng đắng: Vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại
Cây vàng đắng: Vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại

Công dụng cây vàng đắng

Theo y học cổ truyền

Tính vị, quy kinh

Tính vị: Vị khổ (đắng), tính hàn.

Quy kinh: Phế, Tỳ, Can.

Công năng, chủ trị

Công năng: Thanh nhiệt, nhuận tràng tiêu viêm, trị trùng tích, nhiệt độc.

Chủ trị: Viêm ruột, kiết lỵ, tiêu chảy, đau mắt đỏ, viêm tai, lở ngứa.

Theo y học hiện đại

Tác dụng hạ huyết áp

Nghiên cứu của Wongcome và cộng sự (2007) sử dụng chiết xuất nước từ Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr. thử nghiệm về tác dụng hạ huyết áp và giãn mạch, độc tính cấp và độc tính bán trường diễn. Nghiên cứu hiện tại chứng minh rằng chiết xuất Vàng đắng có hiệu quả trong việc giảm huyết áp ở chuột có huyết áp bình thường được gây mê.

Tác dụng này được chứng minh là liên quan đến liều và tính khởi phát nhanh. Chiết xuất cho thấy hoạt động giãn mạch độc lập và phụ thuộc vào tế bào nội mạc trong các vòng động mạch chủ bị cô lập được co lại trước bằng phenylephrine (1 microM) và KCl (60 mM). Khả năng của L-NAME (100 microM) - một chất ức chế tổng hợp nitric oxide (NO), làm giảm tác dụng giãn mạch của chiết xuất cho thấy có sự tham gia của NO.

Trong thử nghiệm độc tính cấp, liều uống 5000mg/kg chiết xuất Vàng đắng không gây tử vong hoặc thay đổi đáng kể về hành vi chung của động vật và hình dáng tổng thể của các cơ quan nội tạng. Tương tự, trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn, liều uống 2500mg/kg/ngày chiết xuất Vàng đắng cho chuột trong 90 ngày không gây ra bất kỳ thay đổi đáng kể nào về bất kỳ thông số nào quan sát được khi so sánh với động vật đối chứng.

Hơn nữa, dịch chiết của vị thuốc này không tạo ra bất kỳ tác dụng nào lên hệ thần kinh trung ương khi đánh giá hoạt động vận động tự phát ở chuột. Tuy nhiên, do một số giá trị huyết học và hóa học máu trung bình được phát hiện là khác nhau về mặt thống kê, nên cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn, bao gồm cả xét nghiệm độc tính mãn tính để xác nhận sự an toàn của loại cây này khi sử dụng trong thời gian dài.

Tác dụng chữa lành vết thương

Hoạt tính chữa lành vết thương của Coscinium fenestratum đã được đánh giá về khả năng chữa lành vết thương của nó ở hai loại mô hình vết thương được thực nghiệm gây ra ở mô hình vết thương phẫu thuật cắt bỏ trên chuột bạch tạng và mô hình vết mổ phẫu thuật.

Kết quả cho thấy chiết xuất ethanol của Coscinium fenestratum đã được kiểm tra dưới dạng chiết xuất 5% w/w và chiết xuất 10% w/w trong vết thương phẫu thuật cắt bỏ ở mặt lưng của động vật thí nghiệm. Thuốc mỡ chiết xuất 10% w/w cho thấy sự khác biệt đáng kể trong các mô hình vết thương và kết quả tương thích với kết quả của thuốc povidone iodine tiêu chuẩn (5% w/w) về khả năng co rút vết thương, thời gian biểu mô hóa và độ căng vết thương.

Tác dụng kháng khuẩn

Bệnh lậu là một bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD), hiện vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe lớn trên toàn thế giới ở cả nam và nữ. Trong số nhiều cây thuốc, chiết xuất Coscinium fenestratum cho thấy hoạt động hiệu quả nhất chống lại Neisseria gonorrhoeae ATCC 49226 với giá trị MIC là 47,39μg/ml.

Xét nghiệm sinh học cho thấy berberine là hợp chất hoạt động của Coscinium fenestratum chống lại Neisseria gonorrhoeae. Giá trị MIC trung bình của berberine tinh khiết chống lại Neisseria gonorrhoeae ATCC 49226 và 11 chủng phân lập lâm sàng lần lượt là 13,51 và 17,66μg/ml. Không có độc tính cấp được phát hiện ở liều 5g chiết xuất thô Coscinium fenestratum trên mỗi kg.

Dịch chiết với nước của Coscinium fenestratum đã thể hiện tác dụng ức chế Clostridium tetani.

Tác dụng chống tăng đường huyết

Chiết xuất C. fenestratum trong ethanol có tác dụng chống tăng đường huyết bằng cách kích thích tiết insulin và ức chế a-glucosidase. Trong các thử nghiệm nạp glucose, maltose và sucrose đường uống, chiết xuất (250 - 1.000mg/kg) làm giảm đáng kể nồng độ glucose huyết tương tùy theo liều lượng.

Chiết xuất (1.000mg/kg) có hiệu quả nhất trong việc giảm nồng độ glucose trong huyết tương và đáp ứng gần giống với glibenclamide (5mg/kg) và acarbose (3mg/kg). Ở tuyến tụy chuột có hoạt động tuần hoàn bình thường, chiết xuất (10µg/ml) kích thích tiết insulin theo mô hình hai pha. Tuy nhiên, berberine ở cùng liều lượng với chiết xuất làm tăng nhẹ sự tiết insulin lên 1,33 lần so với nhóm đối chứng cơ bản.

Hoạt chất chống ung thư

Chiết xuất metanol của C. fenestratum cho thấy hoạt tính gây độc tế bào mạnh nhất và chứa hợp chất chính berberine với 3,68%. Sàng lọc độc tế bào của berberine đối với 10 dòng tế bào ung thư và một tế bào bình thường (PMBC) cho thấy hoạt tính gây độc tế bào cao nhất đối với các tế bào ung thư bạch cầu HL-60 với IC50 là 1,41 0,7 μg/mL. Giá trị chỉ số chọn lọc (SI) của berberine đối với tế bào HL-60 và tế bào PBMC là 0,142, cho thấy khả năng gây độc tế bào chọn lọc đối với tế bào ung thư. Berberine - hợp chất hiệu quả từ C. fenestratum, dường như có khả năng chống lại tế bào ung thư.

Hoạt chất chống oxy hóa

Tác dụng chống oxy hóa của chiết xuất từ bột thân cây Coscinium fenestratum trong metanol đã được kiểm tra bằng cách sử dụng gan chuột bị nhiễm độc carbon tetrachloride làm mô hình thí nghiệm. Chuột được điều trị bằng dịch chiết của vị thuốc trong 90 ngày (hàng ngày, uống với liều 60mg/kg thể trọng).

Quá trình peroxy hóa lipid ở chuột dùng carbon tetrachloride được chứng minh bằng sự gia tăng rõ rệt nồng độ các chất phản ứng acid thiobarbituric và liên hợp diene, đồng thời cũng phản ánh sự giảm hàm lượng glutathione trong gan.

Chuột được sử dụng dịch chiết vẫn giữ được mức độ bình thường của các thành phần này và hoạt động giảm của các enzyme chống oxy hóa, chẳng hạn như superoxide effutase, catalase, glutathione peroxidase và glutathione reductase cho thấy hiệu quả của Coscinium fenestratum trong việc chống lại stress oxy hóa do tổn thương gan.

Hoạt chất chống độc gan

Hoạt tính chống độc gan của chiết xuất thân cây Coscinium fenestratum trong metanol đã được nghiên cứu chống lại bệnh gan do carbon tetrachloride gây ra ở chuột. Chuột bị nhiễm độc gan được điều trị bằng MEC trong thời gian 90 ngày (60mg/kg thể trọng, hàng ngày, đường uống bằng cách đặt nội khí quản).

Tác dụng chống độc gan được nghiên cứu bằng cách thử nghiệm hoạt động của các enzyme đánh dấu huyết thanh ở gan. Hoạt động của tất cả các enzym đánh dấu như aspartate aminotransferase (AST), alanine aminotransferase (ALT), phosphatase kiềm, gamma glutamyl transpeptidase, lactate dehydrogenase và glucose (6) phosphate dehydrogenase đã cho thấy mức tăng đáng kể ở chuột được xử lý bằng carbon tetrachloride được phục hồi đáng kể theo hướng gần như trở về mức bình thường ở động vật được dùng dịch chiết Vàng đắng.

Cây vàng đắng: Vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại
Công dụng cây vàng đắng

Liều dùng & cách dùng

Ngày dùng từ 4g - 6g, thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Dạng thuốc viên uống từ 0,02 - 0,2g, dạng dung dịch dùng ngoài từ 0,5 - 1%.

Bài thuốc kinh nghiệm

Bài thuốc hỗ trợ điều trị lỵ và viêm đường niệu

Huyết dụ, Mộc thông, Vàng đắng, mỗi thứ 12g. Đem các vị thuốc sắc lấy nước uống, ngày dùng 1 thang, chia thành 2 lần, uống trong 5 - 7 ngày.

Bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm tai có mủ

Phèn chua 10g, bột Vàng đắng 20g.Tán nhuyễn, trộn đều và thổi vào tai. Thực hiện 2 - 3 lần/ ngày liên tục trong vài ngày.

Bài thuốc hỗ trợ điều trị kiết lỵ

Mức hoa trắng và bột Vàng đắng hoặc cao Cỏ sữa lá lớn và bột Vàng đắng. Trộn đều, vo thành hoàn và dùng uống hằng ngày.

Bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm kẽ chân

Kha tử 10g, Vàng đắng 15g. Đem các vị thuốc giã nát, sắc đặc và hòa vào nước ấm, dùng nước ngâm chân từ 1 - 2 lần/ ngày.

Bài thuốc hỗ trợ điều trị mắt sưng đỏ và có màng

Phèn chua và Vàng đắng theo tỉ lệ 1:4. Tán nhỏ các vị thuốc, sau đó đem chưng cách thủy và gạn lấy nước, nhỏ mắt.

Lưu ý: Chỉ được thực hiện khi có sự tư vấn và hướng dẫn của bác sĩ.

Bài thuốc hỗ trợ điều trị mắt đau, sưng đỏ và thường xuyên chảy nước

Cam thảo 2g, Phòng phong, Kinh giới, Bạch chỉ, Long đởm thảo và Cúc hoa mỗi loại 4g, Mật mông hoa 9g, Vàng đắng 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia thành 2 lần uống, trong 3 - 5 ngày.

Bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm ruột kiết lỵ

Lá mơ 20g, Cỏ sữa lá lớn 20g, Vàng đắng 14g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia thành 2 lần uống, trong 3 - 5 ngày.

Cây vàng đắng: Vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại
Công dụng cây vàng đắng

Lưu ý

Người có thể trạng hàn, hư hàn hoặc đang có tình trạng huyết hàn không nên sử dụng vị thuốc này.

Vàng đắng có thể được dùng để chế thành thuốc nhỏ mắt. Tuy nhiên việc tự thực hiện dung dịch nhỏ mắt tại nhà có thể không đảm bảo vô khuẩn và gây ra tình trạng bội nhiễm khiến bệnh nghiêm trọng hơn. Vì vậy, người bệnh chỉ nên thực hiện khi có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền.

Tham khảo: Lý Luận Cơ Bản Y Học Cổ Truyền và Y học Cổ Truyền Cơ sở Và Bệnh Học Y Học Cổ Truyền

Trần Trịnh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Tác dụng chữa bệnh nổi bật của cây Vàng đắng

Tác dụng chữa bệnh nổi bật của cây Vàng đắng

Trong kho tàng dược liệu của y học cổ truyền Việt Nam, cây Vàng đắng (tên khoa học Coscinium fenestratum) là một trong những vị thuốc nam quý hiếm, nổi bật với tác dụng hạ nhiệt, thanh nhiệt, giải độc và điều trị hiệu quả nhiều bệnh lý thường gặp như lỵ, sốt rét, đau mắt, tiêu hóa kém. Cây phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và miền Nam nước ta, đặc biệt là vùng rừng núi như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước...
Cây vàng đắng: Công dụng, cách dùng trị bệnh

Cây vàng đắng: Công dụng, cách dùng trị bệnh

Cây Vàng Đắng, còn được biết đến với nhiều tên gọi như loong t’rơn, kơ trơng, dây đằng giang, hoàng đằng, hoàng đằng lá trắng và dây khai, nổi bật với vị đắng và tính lạnh. Loại cây này không chỉ phổ biến ở các vùng núi rừng Đông Nam Bộ mà còn xuất hiện tại Tây Nguyên, mang trong mình giá trị dược liệu quý báu. Người dân từ lâu đã tin tưởng và sử dụng cây vàng đắng để điều trị nhiều chứng bệnh như kiết lỵ, viêm phế quản, và lở ngứa ngoài da.

Cùng chuyên mục

10 thói quen hàng ngày giúp đẩy lùi nguy cơ bệnh tim mạch

10 thói quen hàng ngày giúp đẩy lùi nguy cơ bệnh tim mạch

Bệnh tim mạch hiện vẫn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng phần lớn yếu tố nguy cơ tim mạch có thể được kiểm soát thông qua lối sống. Những thói quen nhỏ nhưng duy trì đều đặn mỗi ngày có thể giúp giảm đáng kể rủi ro và cải thiện sức khỏe tim mạch về lâu dài.
5 loại quả màu đỏ giúp trái tim khỏe mạnh mỗi ngày

5 loại quả màu đỏ giúp trái tim khỏe mạnh mỗi ngày

Để bảo vệ sức khỏe tim mạch, đôi khi giải pháp không nằm ở những viên bổ sung đắt tiền mà hiện diện ngay trong giỏ trái cây hằng ngày. Nhiều loại quả có màu đỏ rực rỡ được chứng minh giàu chất chống oxy hóa, vitamin và hợp chất tự nhiên giúp giảm viêm, hạ huyết áp và cải thiện lưu lượng máu – những yếu tố then chốt trong phòng ngừa bệnh tim mạch.
Bác sĩ chỉ ra 3 thói quen đơn giản giúp trái tim khỏe mạnh mỗi ngày

Bác sĩ chỉ ra 3 thói quen đơn giản giúp trái tim khỏe mạnh mỗi ngày

Bệnh tim mạch không phải là một tình trạng khẩn cấp xảy ra trong ngày một ngày hai, mà là một tiến trình âm thầm kéo dài nhiều năm, thậm chí hàng chục năm. Theo thống kê y tế, tim mạch hiện là nguyên nhân gây ra khoảng 1/3 số ca tử vong trên toàn cầu, trở thành “kẻ sát nhân thầm lặng” đe dọa sức khỏe cộng đồng.
Chế biến nông sản, thủy sản: Hướng đi bền vững cho kinh tế nông thôn gắn với sức khỏe và môi trường

Chế biến nông sản, thủy sản: Hướng đi bền vững cho kinh tế nông thôn gắn với sức khỏe và môi trường

Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp ngày càng chịu nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu, thị trường tiêu thụ và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, chế biến nông sản, thủy sản không còn là khâu phụ trợ, mà đang trở thành “chìa khóa” mở ra hướng phát triển bền vững cho kinh tế nông thôn, đồng thời góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường sinh thái.
Từ nông sản thô đến sản phẩm tiêu dùng: Bài toán chế biến sau thu hoạch gắn với sức khỏe và môi trường

Từ nông sản thô đến sản phẩm tiêu dùng: Bài toán chế biến sau thu hoạch gắn với sức khỏe và môi trường

Trong nhiều năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về sản lượng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn nông sản vẫn được tiêu thụ ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp, dễ bị tác động bởi thị trường và thời vụ.
Nâng tầm đặc sản vùng miền nhờ công nghệ chế biến gắn với sức khỏe và môi trường

Nâng tầm đặc sản vùng miền nhờ công nghệ chế biến gắn với sức khỏe và môi trường

Việt Nam là quốc gia có lợi thế lớn về nông sản và đặc sản vùng miền, với sự đa dạng về khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán canh tác. Tuy nhiên, trong thời gian dài, nhiều đặc sản địa phương vẫn chủ yếu tiêu thụ ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp, khó mở rộng thị trường.

Các tin khác

Chế biến, bảo quản nông sản – nền tảng cho hệ sinh thái thực phẩm an toàn

Chế biến, bảo quản nông sản – nền tảng cho hệ sinh thái thực phẩm an toàn

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng bữa ăn và nguồn gốc thực phẩm, vấn đề an toàn thực phẩm không còn dừng lại ở khâu sản xuất ban đầu, mà đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện từ chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch đến lưu thông và tiêu dùng.
Thúc đẩy chế biến nông sản gắn với tiêu dùng lành mạnh

Thúc đẩy chế biến nông sản gắn với tiêu dùng lành mạnh

Trong bối cảnh đời sống ngày càng nâng cao, người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến việc “ăn no” mà ngày càng chú trọng “ăn đúng” và “ăn lành”. Xu hướng tiêu dùng lành mạnh đang trở thành lựa chọn phổ biến, kéo theo yêu cầu cao hơn đối với chất lượng thực phẩm.
Bảo quản nông sản theo hướng tự nhiên – Giải pháp an toàn cho sức khỏe và môi trường

Bảo quản nông sản theo hướng tự nhiên – Giải pháp an toàn cho sức khỏe và môi trường

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm và chất lượng bữa ăn, cách thức bảo quản nông sản sau thu hoạch đang trở thành vấn đề được xã hội đặc biệt chú ý. Thực tế cho thấy, việc lạm dụng hóa chất bảo quản không chỉ tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, mà còn gây áp lực lâu dài lên môi trường.
Bảo quản thủy sản: Yếu tố quyết định chất lượng và an toàn thực phẩm

Bảo quản thủy sản: Yếu tố quyết định chất lượng và an toàn thực phẩm

Thủy sản là nhóm thực phẩm giàu dinh dưỡng, đóng vai trò quan trọng trong bữa ăn của người Việt và là mặt hàng chủ lực trong phát triển kinh tế nông thôn ven biển, vùng sông nước. Tuy nhiên, đây cũng là nhóm thực phẩm dễ hư hỏng, nhạy cảm với điều kiện môi trường. Thực tế cho thấy, bảo quản thủy sản chính là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và sức khỏe người tiêu dùng.

Thực phẩm "đơn giản và rẻ" giúp kéo dài tuổi thọ: Bí mật từ các loại đậu

Tuổi thọ luôn là một trong những chủ đề được nhiều người quan tâm, đặc biệt khi chúng ta tìm cách sống khỏe mạnh và lâu dài. Theo Dan Buettner, chuyên gia của National Geographic, các loại đậu chính là thực phẩm trường thọ số một trên thế giới. Chỉ cần bổ sung một cốc đậu nấu chín mỗi ngày, bạn có thể kéo dài tuổi thọ thêm 4 năm và thậm chí tiến gần hơn đến mốc bách niên.
Những thói quen sau khi chơi thể thao có thể kích hoạt đột quỵ

Những thói quen sau khi chơi thể thao có thể kích hoạt đột quỵ

Nhiều người coi thể thao là “lá chắn” bảo vệ sức khỏe, nhưng thực tế, một số thói quen sai lầm sau vận động mạnh có thể trở thành yếu tố kích hoạt đột quỵ, kể cả ở người trẻ, trước đó không có tiền sử bệnh lý tim mạch.
8 lầm tưởng về cholesterol qua góc nhìn của bác sĩ tim mạch

8 lầm tưởng về cholesterol qua góc nhìn của bác sĩ tim mạch

Cholesterol cao thường không gây triệu chứng rõ ràng, nhưng lại là nguyên nhân âm thầm dẫn tới nhồi máu cơ tim, đột quỵ và nhiều biến chứng nguy hiểm. Qua thực tiễn điều trị, bác sĩ tim mạch chỉ ra những lầm tưởng phổ biến khiến nhiều người chủ quan với mỡ máu cao, từ việc đánh giá sai chỉ số xét nghiệm đến hiểu nhầm về chế độ ăn uống và thuốc điều trị.
4 mẹo đơn giản để nạp chất xơ, giảm cholesterol hiệu quả

4 mẹo đơn giản để nạp chất xơ, giảm cholesterol hiệu quả

Không cần thay đổi chế độ ăn quá khắt khe, chỉ với vài điều chỉnh nhỏ trong thói quen hằng ngày, bạn vẫn có thể tăng lượng chất xơ, cải thiện cholesterol và bảo vệ tim mạch. Câu chuyện của Rob Hobson – chuyên gia dinh dưỡng nổi tiếng tại Anh là một ví dụ điển hình.
Cách ăn uống khoa học giúp phòng ngừa và kiểm soát tăng mỡ máu

Cách ăn uống khoa học giúp phòng ngừa và kiểm soát tăng mỡ máu

Giảm chất béo xấu, tăng cường chất xơ, ưu tiên đạm thực vật, hạn chế tinh bột tinh chế và ăn nhạt hơn – đó là những nguyên tắc cốt lõi trong chế độ ăn chống tăng mỡ máu, được các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị.
Người bị mỡ máu cao có nên ăn trứng hàng ngày?

Người bị mỡ máu cao có nên ăn trứng hàng ngày?

Trứng là thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhưng với người bị mỡ máu cao, ăn bao nhiêu là đủ và ăn thế nào cho an toàn vẫn là câu hỏi gây nhiều tranh cãi. Các chuyên gia tim mạch cho rằng trứng không hoàn toàn “có tội”, vấn đề nằm ở cơ địa, bệnh nền và cách sử dụng.
Xem thêm
Gala Chào xuân 2026 - “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II: Diễn đàn kết nối tri thức và tôn vinh thương hiệu Việt

Gala Chào xuân 2026 - “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II: Diễn đàn kết nối tri thức và tôn vinh thương hiệu Việt

Tại Trường Đại học Nam Cần Thơ, Gala Chào xuân 2026 – “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II quy tụ đại diện Hội Nam Y Việt Nam, giới chuyên gia, doanh nghiệp và các đơn vị đồng hành trong không khí trang trọng, ấm áp.
Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Ngày 14/01/2026, thực hiện kế hoạch hoạt động Quý I/2026, Chi hội Nam y tỉnh An Giang phối hợp Hội Chữ thập đỏ xã Thường Phước (tỉnh Đồng Tháp) tổ chức chương trình khám bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho 200 người dân địa phương.
Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Thực hiện chương trình công tác năm 2025, Chi hội Nam y tỉnh An Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động vào ngày 03/01/2025 tại phường Tân Châu, tỉnh An Giang.
Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Năm 2025 ghi dấu một giai đoạn hoạt động sôi động, nhiều điểm nhấn của Hội Nam y Việt Nam trong bối cảnh phong trào bảo tồn, phát triển y học cổ truyền và Nam y tiếp tục nhận được sự quan tâm của xã hội.
Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

(SKV) - Trong không khí trang trọng và phấn khởi, sáng ngày 21/12 Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập gắn với Hội thảo khoa học “Kế thừa, phát huy di sản Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh trong nghiên cứu và phát triển Y Dược học cổ truyền”. Sự kiện là dấu mốc quan trọng, nhìn lại chặng đường hình thành – phát triển của Viện, đồng thời mở ra những định hướng mới cho y dược học cổ truyền Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và đổi mới.
Phiên bản di động