KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN TRONG TIÊM TRUYỀN CỦA SINH VIÊN KHOA Y- DƯỢC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng và một số yếu tố liên quan về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đối tượng nghiên cứu là Sinh viên năm 2, năm 3, năm 4 học khối ngành thuộc khoa Y- Dược trường Đại học Trà Vinh bao gồm ngành Y đa khoa và ngành Điều dưỡng.. Kết quả: tỉ lệ sinh viên có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền lần lượt là 63,8%, 81,7%và 87,9%. Kết luận: nghiên cứu cho thấy cần phải nâng cao kiến thức của sinh viên về phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền để đảm bảo sinh viên có kiến thức tốt nhất trước khi đi thực tập lâm sàng. Từ khóa : kiến thức, thái độ, thực hành, phơi nhiễm Abstract Objective: Determine the rate of knowledge, attitude, correct practice and some related factors on preventing and handling exposure to sharp objects in intravenous injection. Methods: Cross-sectional descriptive study, the research subjects were 2nd, 3rd, and 4th year students studying majors in the Faculty of Medicine and Pharmacy at Tra Vinh University, including General Medicine and Nursing. Results: The percentage of students with correct knowledge, attitudes, and practices on preventing and handling exposure to sharp objects in injection is 63.8%, 81.7%, and 87.9%, respectively. Conclusion: Research shows that it is necessary to improve students' knowledge about preventing and managing exposure to sharp objects in intravenous injection to ensure students have the best knowledge before going to clinical practice. Key-words: knowledge, attitudes, practices, exposure

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Phơi nhiễm do vật sắc nhọn là một trong những tai nạn nghề nghiệp xảy ra thường xuyên và phổ biến tại các cơ sở y tế trên thế giới và Việt Nam. Tại Việt Nam nhân viên thường xuyên thực hiện các kỹ thuật tiêm truyền có tần suất phơi nhiễm cao với tỉ lệ là 79,6% [10]. Phơi nhiễm do vật sắc nhọn có thể xảy ra nhiều hơn ở những đối tượng thiếu kinh nghiệm, mệt mỏi, mất tập trung, luôn trong trạng thái lo lắng và thường xuyên tiếp xúc với môi trường làm việc mới khẩn trương như sinh viên thuộc khối ngành khoa học sức khỏe [30]. Tổn thương do vật sắc nhọn có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe phổ biến nhất là viêm gan B, viêm gan C, virus gây suy giảm chức năng miễn dịch ở người [31][34]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hà tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2018, ghi nhận có đến 54,3% sinh viên và không biết đã tiêm vắc xin viêm gan B chưa, 32,6% sinh viên biết để dự phòng phơi nhiễm với vật sắc nhọn cần xử lý đúng kim truyền ngay sau khi sử dụng [8]. Qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy kiến thức về phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên còn rất nhiều hạn chế, điều này có thể gây ra hậu quả rất lớn đến sức khỏe, tinh thần và chất lượng học tập của sinh viên. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên khoa Y- Dược trường Đại học Trà Vinh’’.

II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Biện pháp phòng rủi ro do vật sắc nhọn cho NVYT [2]

Truyền thông trên các phương tiện thông tin công cộng về nguy cơ của tiêm và khuyến khích giảm số lượng mũi tiêm không cần thiết. Sử dụng thuốc bằng đường uống khi có thể, lấy bệnh phẩm tập trung để tránh lấy máu nhiều lần [2].

Loại bỏ mối nguy hại: Sử dụng các thiết bị thay thế không kim để nối các phần của hệ thống đường truyền tĩnh mạch, hoặc sử dụng các loại kim luồn an toàn (đã và đang được sử dụng ở một số cơ sở y tế). Tuy nhiên các dụng cụ này có thể có chi phí cao hơn, song nếu sử dụng nhiều thì giá thành sẽ hạ. Liên hệ thực tế để nhận dạng các thao tác thực hành tiêm có nguy cơ cho người bệnh và các thực hành có nguy cơ cho cán bộ y tế, hạ giá thành sản phẩm mũi kim an toàn bằng giá thành mũi kim thông thường để khuyến khích người sử dụng nhiều kéo theo giá thành sản phẩm hạ [2].

Đào tạo NVYT: cập nhật các kiến thức, thực hành tiêm an toàn và thận trọng khi làm các thủ thuật liên quan đến tiêm và xử lí các vật sắc nhọn khác [2].

Biện pháp kiểm soát thực hành: những người thực hiện các thủ thuật phải luôn luôn cảnh giác những nguy cơ tổn thương khi tiến hành các thủ thuật và các dụng cụ sắc nhọn.

2.2. Biện pháp xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

Sơ cứu ngay sau phơi nhiễm.

Báo cáo người phụ trách và làm biên bản:

Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm

Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm.

Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm.

Tư vấn và điều trị sau phơi nhiễm

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên năm 2, năm 3, năm 4 học khối ngành thuộc khoa Y- Dược trường Đại học Trà Vinh bao gồm ngành Y đa khoa và ngành Điều dưỡng.

Tiêu chuẩn chọn: Sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu đã học qua môn Điều dưỡng cơ sở, môn Điều dưỡng cơ bản - Cấp cứu ban đầu, môn học Kiểm soát nhiễm khuẩn và đang thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang.

Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên không có mặt tại cơ sở y tế trong thời gian nghiên cứu hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu.

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: tại trường Đại học Trà Vinh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang trong thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 04/2021.

3.3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

3.4. Cỡ mẫu - kỹ thuật chọn mẫu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả:

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ  PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN TRONG TIÊM TRUYỀN  CỦA SINH VIÊN KHOA Y- DƯỢC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết trong nghiên cứu

Z: Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% (α=0,05) tương đương với Z (1-α/2)=1,96

tỉ lệ: P= 81% (tỉ lệ sinh viên có kiến thức đúng về phòng chống tổn thương do vật sắc nhọn trong thực hành lâm sàng là 81% [9]).

d: Sai số chấp nhận được tương ứng với độ tin cậy 95%, d=0.05

Nhóm nghiên cứu tính được 236 sinh viên, mẫu thu được là 240 sinh viên.

3.5. Phương pháp thực hiện

Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đa tầng. Các bước tiến hành gồm:

Bước 1: Phân chia mẫu làm 2 tầng:

Tầng 1: Sinh viên ngành Điều dưỡng năm 2, năm 3, năm 4 bao gồm 231 sinh

viên (trong đó có 108 sinh viên năm 2, 89 sinh viên năm 3, 34 sinh viên năm 4).

Tầng 2: Sinh viên ngành Y đa khoa bao gồm 689 sinh viên (trong đó có 320

sinh viên năm 2, 273 sinh viên năm 3, 90 sinh viên năm 4).

Bước 2: Chọn ngẫu nhiên 120 sinh viên tầng 1 và 120 sinh viên tầng 2.

3.6 Công cụ và biến số thu thập số liệu

Bộ câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên khoa Y- Dược được tham khảo từ đề tài nghiên cứu khoa học của thạc sĩ Điều dưỡng Nguyễn Thị Hà [8].

- Phiếu kiến thức có các câu hỏi từ 10 đến 34 (tổng là 24 câu) bao gồm 55 đáp án. Đánh giá mức độ kiến thức của sinh viên đạt điểm A(kiến thức đạt) khi sinh viên trả lời đúng từ 39 câu trở lên đạt từ 70% trở lên.

- Phiếu khảo sát về thái độ bao gồm 9 câu hỏi từ 35 đến 43. Nếu sinh viên đạt từ 7 điểm trở lên ( trên 70% ) được cho là thái độ tích cực, sinh viên dưới 7 điểm (< 70%) được cho là thái độ không tích cực.

Bộ câu hỏi khảo sát và đánh giá thực hành tiêm truyền về dự phòng phơi nhiễm với vật sắc nhọn được xây dựng dựa trên nội dung của quyết định số: 3671/QĐ - BYT ngày 27/9/2012”[3] và quyết định số 5771/BYT-K2ĐT ngày 30/08/2012 [3] [7] bao gồm 5 tiêu chí khảo sát sinh viên. Số điểm tối đa đánh giá thực hành là 10 điểm, sinh viên được cho là thực hành đạt khi có số điểm khảo sát đạt từ 7 điểm trở lên (≥ 70%).

3.7. Thu thập và phân tích số liệu

Sau khi thu thập, số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epi data phiên bản 3.1. Số liệu được phân tích bằng phần mềm Stata 13.

3.8 Đạo đức nghiên cứu:

Mục đích và nội dung được giải thích rõ ràng để đối tượng tự nguyện tham gia. Kết quả nghiên cứu sẽ không ảnh hưởng tới bất kỳ một kết quả xếp loại hoặc học tập nào của đối tượng tham gia nghiên cứu.

IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đã có 240 sinh viên tham gia vào nghiên cứu, trong đó có 50% sinh viên học ngành Y đa khoa, 50% sinh viên học ngành Điều dưỡng, 83 sinh viên năm 2 chiếm 34,6%, 83 sinh viên năm 3 chiếm 34,6% và 74 sinh viên năm 4 chiếm 30,8%. Có đến 95,8% sinh viên được hướng dẫn học, đọc những kiến thức về phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2018 [8] là 96,8% ở nội dung hướng dẫn kiến thức phòng ngừa, 96,6% ở nội dung hướng dẫn kiến thức về xử trí và hoàn toàn khác biệt so với kết quả của Sehan A năm 2015 là tất cả sinh viên không được đào tạo về tổn thương do vật sắc nhọn [35].

Bảng 1. Thực trạng tiêm phòng vắc xin viêm gan B của đối tượng nghiên cứu

Thông tin

Phân loại

Số lượng

(N=240)

Tỉ lệ %

Tiêm phòng vắc xin viêm gan B

Đã tiêm

191

79,6

Chưa tiêm

44

18,3

Không biết

5

2,1

Về thực trạng tiêm phòng viêm gan B, tỉ lệ sinh viên đã tiêm phòng viêm gan B là 79,6% cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Binita Kumari Paudel năm 2013 là 44% [36], cao hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hà năm 2018 là 45,7% [8] và thấp hơn kết quả nghiên cứu trên sinh viên y khoa của tác giả Saleem Taimur và các cộng sự năm 2010 là 90% [26]. Bộ Y tế khuyến cáo sinh viên học các khối ngành y cần được tiêm phòng vắc xin viêm gan B trước khi thực tập tại bệnh viện để bảo sức khỏe của bản thân [3].

4.2. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên khoa Y- Dược

Bảng 2. Kiến thức của sinh viên về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

Nội dung

Trả lời đúng

Số lượng (N=240)

Tỉ lệ %

Kiến thức về các virus lây truyền qua đường máu thông qua vật sắc nhọn

Virus gây bệnh có thể lây truyền qua đường máu theo vật sắc nhọn (viêm gan B, C, HIV)

187

77,9

Hiện nay đã có vắc xin phòng bệnh (viêm gan B, C, HIV)

139

57,9

Kiến thức về thời điểm nhân viên y tế có thể bị tổn thương do vật sắc nhọn

Khi bẻ ống thuốc để lấy thuốc vào bơm kim tiêm

78

32,5

Trong lúc đâm và rút kim tiêm truyền cho người bệnh

231

96,3

Khi vận chuyển kim tiêm truyền đã sử dụng tới hộp an toàn

198

82,5

Trả lời đúng cả 3 ý trên

69

28,8

Kiến thức về sử dụng hộp an toàn

Hộp an toàn cần được đậy nắp kín và thay hộp mới khi đã chứa 3/4 hộp

115

47,9

Có thể tái sử dụng hộp an toàn bằng nhựa khi hộp nhựa được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y tế

212

88,3

Kiến thức về xử trí vết thương và báo cáo sau khi phơi nhiễm với vật sắc nhọn

Xử trí vết thương

91

37,9

Báo cáo đúng người sau khi bị tổn thương với vật sắc nhọn trong quá trình thực hành lâm sàng

200

83,3

Kiến thức về đánh giá nguy cơ sau phơi nhiễm với vật sắc nhọn

Nguy cơ phơi nhiễm với kim dính máu đâm xuyên phụ thuộc vào loại kim và mức độ tổn thương của vết thương

180

75

Tìm hiểu xét nghiệm máu về VGB,VGC, HIV

170

70,8

Nếu ngay sau khi phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm đã dương tính với HIV/VGB/ VGC thì do bị phơi nhiễm

110

45,8

Nếu ngay sau khi phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm âm tính với HIV thì cần làm xét nghiệm kháng thể HIV sau 3 tháng

207

86,3

Đánh giá chung về kiến thức

Đạt (trả lời đúng 70%)

153

63,8

Chưa đạt

87

36,2

Trong tổng số 240 sinh viên tham gia nghiên cứu cho thấy có 77,9% sinh viên biết được cả 3 loại virus viêm gan B, viêm gan C, HIV đều có thể lây truyền qua đường máu theo vật sắc nhọn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Rajiv Saini năm 2011 là 74% [37], thấp hơn nghiên cứu của Taimur Saleem năm 2010 là 85% [26].

Kiến thức về thời điểm NVYT có thể bị tổn thương do vật sắc nhọn cho kết quả trong tổng số 240 sinh viên chỉ có 28,8% sinh viên trả lời đúng cả 3 ý cho thấy kiến thức của sinh viên vẫn còn rất thấp. Kết quả này gần giống với kết quả nghiên cứu của thạc sĩ Điều dưỡng Nguyễn Thị Hà tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2018 là 15,8% [8]. Có thể là do sinh viên chưa là một người NVYT thực thụ, chưa được thực hành với tần suất cao nên chưa có khả năng nhận thức được thời điểm NVYT bị tổn thương vật sắc nhọn.

Liên quan đến vấn đề thu gom và xử lý rác thải y tế Bộ Y tế quy đinh hộp an toàn cần được đậy nắp kín và thay hộp mới khi đã chứa 3/4 hộp để bảo vệ an toàn cho người bệnh [5]. Trong nghiên cứu này chỉ có 47,9% sinh viên biết được điều này, kết quả này tương đương với nghiên cứu của sinh viên điều dưỡng tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội là 48,4% [8]. Khi bị tổn thương do vật sắc nhọn chỉ có 37,9% sinh viên có kiến thức xử trí vết thương đúng, kết quả không có sự khác biệt nhiều so với kết quả nghiên cứu tại trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018 là 35,6% [12]

Đối với phần tổng hợp kiến thức chung về phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền cho thấy 63,8% sinh viên đạt, tỉ lệ này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Phương Anh (2019) [11] và Nguyễn Thị Hà (2018) [7] với tỉ lệ lần lượt là 59,7% và 62,1%. Điều này cho thấy tỉ lệ sinh viên đạt về kiến thức phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn không cao bởi vì có sự khác biệt giữa lý thuyết các bạn được học và điều kiện thực tập tại khoa lâm sàng đã ảnh hưởng đến thói quen của các bạn khi thực hành.

Bảng 3. Thái độ của sinh viên về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn

Nội dung

Thái độ đúng

Số lượng

(N= 240)

tỉ lệ %

Đồng ý nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ tổn thương do kim tiêm truyền cho nhân viên y tế là do thực hiện tiêm an toàn

162

67,5

Đồng ý xử trí đúng vết thương ngay sau phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền có thể làm giảm nguy cơ lây nhiễm với HIV,VGB,VGC

222

92,5

Đồng ý sau khi tiêm cho người bệnh mà bị kim tiêm đâm vào tay gây ra vết thương nhỏ thì không cần thiết báo cáo với người phụ trách/quản lý

196

81,7

Đồng ý sau khi tiêm cho người bệnh mà bị kim tiêm đâm vào tay, tâm lý người bị kim đâm rất sợ hãi và lo lắng bị lây nhiễm với HIV,VGB,VGC

225

93,8

Đồng ý cần được đào tạo thêm về kiến thức và kĩ năng về phòng và xử trí với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

231

96,3

Đánh giá chung về thái độ

Tích cực ( ≥ 7 điểm)

196

81,7

Chưa tích cực (< 7 điểm)

44

18,3

Khi được hỏi về nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ tổn thương do kim tiêm truyền cho NVYT là do thực hiện tiêm an toàn thì có đến 67,5% sinh viên không đồng ý với ý kiến trên, tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà (2018) là 59,1%. Nghiên cứu chỉ ra rằng có đến 96,3% sinh viên mong muốn được đào tạo thêm về kiến thức và kĩ năng phòng ngừa phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền tương đương với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hà năm 2018 là 96,1% [8]. Có sự tương đồng này là do sinh viên nhận thấy kiến thức và kĩ năng xử trí khi bị tổn thương do vật sắc nhọn của mình còn hạn chế, kĩ năng lâm sàng còn kém trong khi đó nguy tổn thương do vật sắc nhọn có thể xảy ra bất cứ lúc nào khi thực tập và các bạn cần được trang bị kiến thức nhiều hơn nữa nhằm bảo vệ bản thân mình.

Bảng 4. Thực hành về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên

Thực hành

Thực hành đúng

Số lượng ( N=240 )

tỉ lệ %

Thùng đựng vật sắc nhọn và thùng đựng chất thải sau tiêm đúng quy định

238

99,2

Bông gạc đúng quy định

233

97,1

Dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc

118

49,2

Không dùng tay đậy nắp kim tiêm

187

77,9

Nhặt kim bằng pen cho vào hộp an toàn

191

79,6

Đánh giá chung về thực hành

Thực hành đạt (7 điểm)

211

87,9

Thực hành chưa đạt (< 7 điểm)

29

12,1

Tỉ lệ sinh viên thực hành đạt trong tiêm truyền về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong nghiên cứu này là 87,9% tương đương với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Khánh năm 2018 có đến 89,5% điều dưỡng thực hành tốt trong dự phòng viêm gan B nghề nghiệp [13], cao hơn so với nghiên cứu tại trường Trung Cấp Y tế tỉnh Kon Tum năm 2016 là 54,4% [6]. Tuy nhiên chỉ có 49,2% sinh viên dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc, có đến 44,6% sinh viên không dùng gạc vô khuẩn để bẻ ống thuốc, hành động này rất dễ dẫn đến nguy cơ tổn thương vật sắc nhọn.

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên khoa Y - Dược

Bảng 5. Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với kiến thức phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

Nội dung

Kiến thức (n, %)

Giá trị PR

CI

Giá trị p*

Đạt

Chưa đạt

Năm học

Năm thứ 2

49(59)

34(41)

1

Năm thứ 3

45(54,2)

38 (45,8)

0,92

0,7 - 1,2

0,532

Năm thứ 4

59 (79,7)

15 (20,3)

1,35

1,1 - 1,7

0,006

Yêu nghành đang học

Không

11 (36,7)

19 (63,3)

1,84

1,1 - 3,0

0,001

142 (67,6)

68 (32,4)

Ngành học

Điều dưỡng

54 (45)

66 (55)

0,55

0,4 - 0,7

<0,001

Y đa khoa

99 (82,5)

21 (17,5)

Khi tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với kiến thức phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn cho thấy có 82,5% sinh viên ngành Y đa khoa có kiến thực đạt cao hơn nhóm sinh viên ngành Điều dưỡng là 45%. Những sinh viên trả lời là yêu ngành học có tỉ lệ kiến thức đạt cao gấp 1,84 lần so với sinh viên trả lời là không yêu ngành (PR=1,84, p=0,001). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Vì vậy có mối liên quan giữa yếu tố ngành học và yêu ngành học với kiến thực phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan giữa năm học (sinh viên năm 4) với kiến thức phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền. sinh viên viên năm 4 có kiến thức đạt cao nhất chiếm 79,7%, trong khi đó sinh viên năm 2 lại có kiến thức đạt chiếm tỉ lệ 59% cao hơn sinh viên năm 3 chỉ chiếm 54,2%. Kết quả này tương đương với với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Thơ năm 2015 khi sinh viên năm 3 lại có kiến thức về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn cao gấp 2,8 so với sinh viên năm 4, có ý nghĩa thống kê p < 0,05 [9].

Bảng 6. Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với thái độ phòng và xử trí phơi nhiễm

Nội dung

Thái độ(n,%)

Giá trị PR

Khoảng tin cậy

(CI)

Giá trị p*

Tích cực

Chưa tích cực

Năm học

Năm thứ 2

63 (75,9)

20 (24,1)

1

Năm thứ 3

69 (83,1)

14 (16,9)

1,09

0,9 - 1,3

0,251

Năm thứ 4

64 (86,5)

10 (13,5)

1,13

1 - 1,3

0,09

Yêu ngành học

174 (82,9)

36 (17,1)

1,11

0,9 - 1,4

0,207

Không

22 (73,3)

8 (26,7)

Ngành học

Điều dưỡng

88 (73,3)

32 (26,7)

0,81

0,7 - 0,9

0,0008

Y đa khoa

108 (90)

12 (10)

Kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thái độ tích cực giữa các nhóm sinh viên học ngành Y đa khoa và ngành Điều dưỡng. Trong đó sinh viên Y đa khoa có thái độ tích cực chiếm 90% cao gấp 0,8 lần so với sinh viên Điều dưỡng 73,3%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,05. Điều này có thể do các bạn sinh viên Y đa khoa được học chuyên sâu về bệnh học nên các bạn sẽ có kiến thức và nhận thức tốt hơn so với các bạn sinh viên Điều dưỡng, đồng thời có thể kết quả kiến thức đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn ở sinh viên Y đa khoa cao hơn Điều dưỡng do vậy sinh viên Y đa khoa sẽ có thái độ tích cực chiếm tỉ lệ cao hơn các bạn sinh viên học ngành Điều dưỡng.

Bảng 7. Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với thực hành phòng và xử trí phơi nhiễm

Nội dung

Thực hành

Giá trị PR

CI

Giá trị p*

Đạt

Chưa đạt

Năm học

Năm thứ 2

67 (80,7)

16 (19,3)

0,03

Năm thứ 3

74 (89,6)

9 (10,8)

Năm thứ 4

70 (94,6)

4 (5,41)

Yêu nghành đang học

188 (89,5)

22 (10,5)

1,16

1,0-1,4

0,043

Không

23 (76,7)

7 (23,3)

Ngành học

Điều dưỡng

107 (89,2)

13 (10,8)

1,02

0,9-1,1

0,552

Y đa khoa

104 (86,7)

16 (13,3)

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên có năm học càng cao thì tỉ lệ thực hành đạt càng cao. tỉ lệ sinh viên năm 2, năm 3, năm 4 có thực hành đạt lần lượt là 80,7%, 89,6%, 94,6%. sinh viên có thời gian thực hành lâm sàng nhiều sẽ có kỹ năng thực hành tốt hơn so với các bạn sinh viên có thời gian thực tập ngắn hơn. Nghiên cứu ghi nhận có mối liên quan giữa năm học với thực hành đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền với p=0,03.

4. Kết luận

Dựa vào kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sinh viên có thái độ tích cực về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền chiếm đến 81,7%, có 87,9% sinh viên thực hành đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền. Tuy nhiên chỉ có 63,8% sinh viên có kiến thức đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền do đó chúng tôi kiến nghị như sau: cần phải nâng cao kiến thức của sinh viên về phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền để đảm bảo sinh viên có kiến thức tốt nhất trước khi đi thực tập lâm sàng, thực hành và hướng dẫn các bạn sinh viên cách xử trí vết thương sau khi phơi nhiễm, hướng dẫn phương pháp bẻ ống thuốc an toàn cần được thực hiện, phương pháp xử lí kim tiêm truyền sau khi sử dụng, nguyên tắc sử dụng hộp an toàn.

[1]. Nguyễn Thúy Quỳnh, Dư Hồng Đức, Nguyễn Lệ Ngân, Nguyễn Phương Thùy. Thực trạng phơi nhiễm với máu, dịch của bệnh nhân và các yếu tố ảnh hưởng trong nhân viên y tế tại một số bệnh viện Việt Nam. Truy cập từ: https://moh.gov.vn/web/phong-chong-benh-nghe-nghiep/thong-tin-hoat-dong/-/asset_publisher/xjpQsFUZRw4q/content/thuc-trang-phoi-nhiem-voi-mau-dich-cua-benh-nhan-va-cac-yeu-to-anh-huong-trong-nhan-vien-y-te-tai-mot-so-benh-viet-viet-nam?inheritRedirect=false. [Ngày truy cập: 18/02/2021]

[2]. Ya-Hui Yang. The Effectiveness of a Training Program on Reducing Needlestick Injuries/Sharp Object Injuries Soon Graduate Vocational Nursing School Students in Southern Taiwan. Journal Occupational Health. 2007; 49(5):424-429.

[3]. Hala Gabr Mahmoud và các cộng sự (2013). Developing Proactive Protocol for Blood- borne and Body Fluids Infections Prevention among Students of Health Professional Colleges in King Khalid University. Journal of Education. 2013; 9(4): 38-49.

[4]. Nguyễn Thị Hà. Kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2018 [luận văn thạc sĩ], Trường Đại học Y học Hà Nội, 2019.

[5]. Bộ Y tế. Tài liệu đào tạo phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn, 2012.

[6]. Vũ Thị Thu Thủy. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng ngừa chuẩn của sinh viên điều dưỡng trường đại học Y khoa Vinh năm 2018. Tạp Chí Khoa học Điều dưỡng. 2018; 1(2): 84–89.

[7]. Hani A. Nawafleh, Shalabia El Abozead, Muwafaq M. Al Momani, Heyam Aaraj. Investigating needle stick injuries: Incidence, knowledge and perception among South Jordanian nursing students. Journal of Nursing Education and Practice. 2018; 4(9): 59-69

[8]. Saleem Taimur. Knowledge, attitudes and practices of medical students regarding needle stick injuries. Journal of the Pakistan Medical Association. 2010; 60(2):151-156

[9]. Nguyễn Thị Mai Thơ, Nguyễn Cảnh Phú. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y khoa Vinh, năm 2015. Hội nghị khoa học – công nghệ tuổi trẻ các trường đại học, cao đẳng Y – dược Việt Nam lần thứ XVIII; 2016, 399-403.

[10]. Bộ Y tế, Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, 2012.

[11]. Mỵ Thị Hải (2016), Khảo sát vết thương do dụng cụ y tế sắc nhọn gây ra cho sinh viên điều dưỡng thực tập tại bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh. [luận văn thạc sĩ], Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, 2016.

[12]. Seham A. Abd El-Hay PhD1. Prevention of Needle Stick and Sharp Injuries during Clinical Training among Undergraduate Nursing Students: Effect of Educational Program. IOSR Journal of Nursing and Health Science. 2015; 4(4): 19-32.

[13]. Binita Kumari Paudel, Kanchan Karki, Leena Dangol, Arjun Mani Guragain. Incidence Of Needle Stick Injury Among Proficiency Certificate Level Nursing Students In Kathmandu, Nepal. International journal of scientific & technology research. 2013; 9(2): 277-281.

[14]. Bộ Y tế. Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. 2011.

[15]. Nguyễn Tấn Tài. Thực trạng kiến thức, thái độ về phòng ngừa và xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018 và một số yếu tố liên quan.[luận văn thạc sĩ y tế công cộng]. Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội. 2018.

[16]. Nguyễn Phương Anh. Thực trạng kiến thức dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Tạp chí khoa học điều dưỡng. 2020; 3(2): 93–100.

[17]. Nguyễn Thị Mỹ Khánh. Kiến thức thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre năm 2018. Tạp chí Y học dự phòng. 2020; 6(30): 121-130.

[18]. Đặng Thị Thanh Thủy. Kiến thức, kỹ năng thực hành tiêm an toàn và một số yếu tố liên quan của học sinh trường Trung cấp Y tế tỉnh Kon Tum năm 2016. Đề tài cấp tỉnh, Kon Tum. 2016.

Tác giả: Bùi Thị Kim Tuyến1 ,

Nguyễn Thị Ngọc Ngoan2 ,

Trần Thị Hồng Phương 3,

Sơn Thị Bích Tiền4,

Dương Đăng Khoa5

1,2,3,4Trường Đại học Trà Vinh

4Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh

5 Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh

Cùng chuyên mục

Nấm độc khó phân biệt bằng mắt thường, chuyên gia khuyến cáo tuyệt đối không ăn

Nấm độc khó phân biệt bằng mắt thường, chuyên gia khuyến cáo tuyệt đối không ăn

Ngộ độc nấm rừng chứa độc tố amatoxin gây suy gan, thận và tử vong. Cần cảnh giác và không hái nấm hoang trong tự nhiên.
Điều trị bệnh gout từ thảo dược

Điều trị bệnh gout từ thảo dược

Cây Nở ngày đất hay còn gọi là cây bạc đầu, cây hoa gà trắng và có tên gọi khoa học là Gomphrena Celosioides Mart, phân bố nhiều ở các khu vực Nam Mỹ, châu Phi, châu Á và Việt Nam...
Loại trừ bệnh sốt rét, cần triển khai ngay và quyết liệt

Loại trừ bệnh sốt rét, cần triển khai ngay và quyết liệt

Vào Ngày Sốt rét Thế giới năm 2026, WHO cùng đối tác phát động chiến dịch: "Loại trừ bệnh sốt rét, cần triển khai ngay và quyết liệt".
Bác sĩ lưu ý thói quen nguy hiểm dễ gây đột quỵ khi trời nắng nóng

Bác sĩ lưu ý thói quen nguy hiểm dễ gây đột quỵ khi trời nắng nóng

Thói quen tắm ngay sau khi đi nắng về để “giải nhiệt” tưởng chừng vô hại nhưng lại là tác nhân hàng đầu dẫn đến những ca đột quỵ não nghiêm trọng.
“Thải độc” bằng chanh liều cao: Từ trào lưu mạng đến những ca nhập viện, thậm chí tử vong

“Thải độc” bằng chanh liều cao: Từ trào lưu mạng đến những ca nhập viện, thậm chí tử vong

Gần đây, trên mạng xã hội lan truyền trở lại trào lưu sử dụng nước cốt chanh, chanh muối như một “phương thuốc” chữa bách bệnh. Tin theo lời đồn, nhiều người tự ý dùng chanh liều cao hoặc bỏ điều trị y khoa, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Thực đơn dinh dưỡng bảo vệ thận cho người bị chứng thận hư

Thực đơn dinh dưỡng bảo vệ thận cho người bị chứng thận hư

Kiêng khem quá mức sẽ dẫn đến suy kiệt cơ thể, hoặc bồi bổ sai cách lại tạo gánh nặng cho thận là 2 bài toán đặt ra về vấn đề dinh dưỡng với người có hội chứng thận hư. Bổ sung dinh dưỡng đúng cách là một liệu pháp hỗ trợ để kiểm soát triệu chứng, giảm phù và hỗ trợ trong quá trình điều trị bệnh thận hư.

Các tin khác

Những thực phẩm người cao tuổi nên tránh để bảo vệ sức khỏe

Những thực phẩm người cao tuổi nên tránh để bảo vệ sức khỏe

Đối với người cao tuổi, chế độ ăn uống không chỉ đơn thuần là cung cấp năng lượng mà còn là yếu tố can thiệp trực tiếp đến diễn tiến của các bệnh lý mạn tính...
Tắm - xông - Ngâm thuốc đúng cách giúp cơ thể thải độc và tái sinh tế bào

Tắm - xông - Ngâm thuốc đúng cách giúp cơ thể thải độc và tái sinh tế bào

Có những bí quyết trường thọ ở ngay trong đời sống hằng ngày, trong nếp sinh hoạt tưởng như bình thường đến mức nhiều người không còn để ý. Tắm, xông, ngâm chân là cách giúp thân thể “thở”, giúp khí huyết lưu thông, giúp độc tố có đường đi ra ngoài, và giúp sự sống trong mỗi tế bào được làm mới mỗi ngày...
Dưỡng sinh Tâm - Thân - Ý

Dưỡng sinh Tâm - Thân - Ý

Dưỡng sinh vốn không phải chuyện tập vài động tác hay uống thêm vài vị thuốc. Đó là nghệ thuật nuôi dưỡng toàn bộ sự sống từ tế bào, hơi thở đến tâm ý bên trong. Khi thân - tâm - ý vận hành hài hòa, trường năng lượng sống được kích hoạt, con người không chỉ khỏe mạnh hơn mà còn trẻ lâu, minh mẫn và an định trước biến động đời sống...
Bị bỏng có nên bôi nghệ?

Bị bỏng có nên bôi nghệ?

Tôi vừa bị bỏng nước sôi ở tay nhìn rất sợ. Có người khuyên giã nghệ tươi và bôi ngay khi lên da non, có người lại bảo không nên. Vậy tôi phải làm thế nào bây giờ? Mong chuyên mục tư vấn giúp.
Hội chẩn đa chuyên khoa: Chuẩn mực mới, hy vọng mới cho người bệnh ung thư

Hội chẩn đa chuyên khoa: Chuẩn mực mới, hy vọng mới cho người bệnh ung thư

Trong bức tranh y tế toàn cầu, ung thư không chỉ là một thách thức y khoa đơn thuần mà đã trở thành gánh nặng kinh tế - xã hội, đe dọa trực tiếp đến nguồn lực lao động và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như Việt Nam. Tuy nhiên, khi những rào cản về phát hiện muộn đang là 'điểm nghẽn' ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thì sự tiến bộ của công nghệ sinh học đã mở ra một vận hội mới, trong đó hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) đang được đánh giá là "chìa khóa" sống còn trong cuộc chiến chống ung thư.
Ăn nhiều trứng muối dễ bị nhiễm độc chì

Ăn nhiều trứng muối dễ bị nhiễm độc chì

Con trai tôi 16 tuổi, rất thích món cháo trắng ăn cùng trứng muối. Gần như mỗi tuần cháu phải ăn đến 3-4 lần. Mong chuyên mục cho biết, cháu ăn như vậy có nhiều không? Mỗi tuần cháu nên ăn mấy quả?
Bộ Y tế đặt mục tiêu nâng tầm dược liệu Việt Nam

Bộ Y tế đặt mục tiêu nâng tầm dược liệu Việt Nam

Sự kiện kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Viện Dược liệu không chỉ là dịp nhìn lại chặng đường phát triển của ngành dược liệu, mà còn đặt ra yêu cầu mới: biến tiềm năng tài nguyên bản địa thành năng lực sản xuất, nghiên cứu và thương mại hóa bền vững.
Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Trong kho tàng y học cổ truyền, ngưu bàng từ lâu đã được xem là một vị thuốc đa dụng. Không chỉ xuất hiện trong các bài thuốc dân gian, cây còn được ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe nhờ đặc tính thanh nhiệt, giải độc và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh thường gặp.
Những "vị thuốc thanh nhiệt" từ thiên nhiên theo y học cổ truyền

Những "vị thuốc thanh nhiệt" từ thiên nhiên theo y học cổ truyền

Vào những ngày thời tiết oi bức, cơ thể dễ rơi vào trạng thái “nóng trong” với các biểu hiện như nổi mụn, táo bón, miệng khô, mất ngủ. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân chủ yếu là do nhiệt tích tụ trong cơ thể, làm mất cân bằng âm - dương. Bên cạnh việc điều chỉnh sinh hoạt, chế độ ăn uống với các loại rau có tính mát được xem là giải pháp đơn giản, hiệu quả và an toàn.
Các phương thuốc tân lương giải biểu tiêu biểu trong y học cổ truyền và ứng dụng thực tiễn

Các phương thuốc tân lương giải biểu tiêu biểu trong y học cổ truyền và ứng dụng thực tiễn

(SKV) - Các phương thuốc tân lương giải biểu gồm các vị thuốc vị cay, tính mát như Tang diệp, Cát căn, Bạc hà… dùng để phát tán phong nhiệt. Các phương thuốc tân lương giải biểu có tác dụng phát tán phong nhiệt dùng để chữa các chứng bệnh gây ra do ngoại cảm phong nhiệt: Phát sốt, ra mồ hôi, đau đầu, đau người, sợ gió, sợ lạnh, miệng khát, họng đau, ho, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng, mạch phù sác.
Xem thêm
Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hà Nội, ngày 11/4/2026 Hội Nam Y Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Ban Thường vụ lần thứ 14. Đây là kỳ họp quan trọng nhằm đánh giá toàn diện các hoạt động trong quý 1 năm 2026, đồng thời hoạch định chiến lược trọng tâm cho năm 2026, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nam Y Việt Nam nhiệm kỳ 3 (2027–2032)
Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

HẢI PHÒNG – Trong không khí trang nghiêm của những ngày lễ hội, đoàn đại biểu Hội Nam Y Việt Nam do Thầy thuốc Nhân dân. Giáo sư. Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn, đã có chuyến hành trình đầy ý nghĩa về với vùng đất địa linh nhân kiệt Cẩm Văn – Cẩm Vũ (Cẩm Giang, Hải Phòng). Đây là hoạt động thiết thực nhằm tri ân các bậc tiền nhân, đặc biệt là Đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh – vị Thánh thuốc Nam của dân tộc.
Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

(Sức khỏe Việt) – Sáng ngày 26/03/2026, trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Bính Ngọ, Chi hội Nam y tỉnh Thái Nguyên đã trang trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Hội năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị đánh dấu bước phát triển vượt bậc của Chi hội với những thành tích xuất sắc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bảo tồn giá trị y học cổ truyền.
Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Trong không khí ấm áp của những ngày đầu xuân, Chi hội Câu lạc bộ (CLB) Healing In Balance đã tổ chức buổi gặp mặt đầy ý nghĩa, tổng kết công tác hoạt động năm 2025, đánh dấu bước phát triển mới trong việc đưa bộ môn Thiền năng lượng sinh học đến gần hơn với cộng đồng Việt Nam.
Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Ngày 21 tháng 3 năm 2026, tại Hà Nội, Hội Nam Y Việt Nam đã long trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào thi đua năm 2026. Sự kiện là dịp nhìn lại những thành tựu trong việc gìn giữ tinh hoa y học dân tộc, đồng thời kích hoạt hành trình mới vì sức khỏe cộng đồng.
Phiên bản di động