Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú

Hiện nay, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Ung thư vú gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tâm lý của phụ nữ và còn là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ ở nhiều nước.

Hiện nay, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Ung thư vú gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tâm lý của phụ nữ và còn là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ ở nhiều nước. Nghiên cứu được tiến hành với mục đích xác định tỉ lệ kiến thức đạt và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở nữ sinh viên Trường Y Dược. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên một nhóm gồm 337 nữ sinh viên đang theo học tại Trường Y Dược thuộc Trường Đại học Trà Vinh. Kết quả của nghiên cứu cho thấy chỉ có 39,8% có kiến thức về phương pháp tự khám vú được đánh giá là đạt. Trong đó, tỷ lệ có kiến thức đúng về thời gian định kì tự khám vú đạt 21,4%, về đội tuổi bắt đầu tự khám vú hàng tháng đạt 24,9%, về thời điểm tự khám vú đạt 34,4%, về lợi ích của tự khám vú đạt 32,9%, những biểu hiện sớm báo hiệu ung thư vú đạt 32,9%

Đặt vấn đề

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến thường gặp nhất trên thế giới đứng thứ hai sau ung thư phổi, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tâm lý của phụ nữ và còn là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ ở nhiều nước. Ở Việt Nam, số trường hợp mắc ung thư vú là 21.555 trường hợp chiếm (25,8%) trong tất cả các loại ung thư và số ca tử vong do ung thư vú là 9.345 trường hợp. Vì vậy, việc phòng ngừa và phát hiện sớm ung thư được xem là một trong những vấn đề sức khỏe ưu tiên hàng đầu. Tầm soát và phát hiện sớm ung thư vú sẽ giúp cho việc điều trị đơn giản hơn, hiệu quả điều trị cao hơn và chi phí điều trị thấp hơn.

Nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương và cộng sự (2020) kết quả nghiên cứu cho thấy từ 15-85% phụ nữ có kiến thức đúng về bệnh ung thư vú, tỷ lệ đạt kiến thức đúng về phát hiện sớm ung thư vú, có 55,9% biết về phương pháp tự khám vú, tỷ lệ kiến thức đúng về phòng và phát hiện sớm ung thư vú chiếm 32,5%, không đúng chiếm 67,5%.

Giáo dục sinh viên y về các phương pháp phát hiện sớm ung thư vú ở giai đoạn đầu sẽ nâng cao nhận thức về bệnh ung thư vú. Giáo dục sinh viên về bệnh ung thư vú và tự khám vú cũng sẽ ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành cũng như niềm tin về sức khỏe của họ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá năng lực của sinh viên trước khi ra trường, nhận ra những khiếm khuyết của họ và cố gắng khắc phục.

Vì vậy, sinh viên nên cần được trang bị đầy đủ các kiến thức, thực hành về phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư vú, để góp phần thúc đẩy quá trình thực hành và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế trong tương lai, trở thành tấm gương tốt cho cộng đồng. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát “ Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở nữ sinh viên Trường Y Dược, Trường Đại học Trà Vinh” với 2 mục tiêu xác định tỉ lệ kiến thức đạt và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở nữ sinh viên Trường Y Dược, Trường Đại học Trà Vinh.

Tổng quan nghiên cứu

Ung thư vú là tình trạng khối u ác tính phát triển ở các tế bào vú. Khối u ác tính là tập hợp các tế bào ung thư có thể sinh sôi rất nhanh ở các mô xung quanh, hoặc có thể lan ra (di căn) các bộ phận khác trong cơ thể, thường gặp ở xương, gan, phổi và não. Ung thư vú có thể xảy ra ở cả nam và nữ, nhưng phổ biến hơn ở phụ nữ.

Cho đến thời điểm hiện nay, căn nguyên bệnh sinh ung thư vú chưa được rõ, vì thế việc phòng ngừa còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm ra các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú: yếu tố nội tiết, yếu tố gia đình, tuổi, yếu tố liên quan đến tiền sử sản phụ khoa, yếu tố môi trường và chế độ dinh dưỡng.

Các biến chứng nghiêm trọng nhất của ung thư vú di căn là khi một số tế bào từ khối u vỡ ra và di chuyển đến các khu vực khác của cơ thể, có thể thông qua máu hoặc mạch bạch huyết - xâm nhập vào các mô. Khi các tế bào ung thư vú di căn, đó là phổ biến nhất là các hạch bạch huyết, phổi, gan, xương, não, và da. Nó có thể mất nhiều năm để di căn, thậm chí cả sau khi khối u vú được chẩn đoán và điều trị, trước khi ung thư đã lan rộng từ khối u ban đầu xuất hiện.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia đầu ngành ung thư và một số nghiên cứu cho thấy để giảm tỷ lệ mắc, giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú chúng ta cấn làm tốt phòng bệnh bước 1 là tuyên truyền giáo dục nâng cao hiểu biết của người dân về những yếu tố thuận lợi, những yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng đối với cộng đồng và nhất là những đối tượng nguy cơ; phòng bệnh bước 2 là phát hiện sớm bao gồm: sàng lọc chụp vú, tự khám vú và khám vú bởi nhân viên y tế.

Nghiên cứu của Abo Al-Shiekh thực hiện trên 86 đối tượng là sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu, trong đó có 58,1% học điều dưỡng và 41,9% học dinh dưỡng lâm sàng. Trong số đó, 24,4% có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư vú. Phần lớn sinh viên (80,2%) đã có thông tin trước đây về bệnh ung thư vú từ các nguồn khác nhau, nghiên cứu tại trường đại học (57%), Internet (45%) và mạng xã hội (41%). Kết quả cho thấy điểm số tốt (≥70%) về các dấu hiệu và triệu chứng cũng như các yếu tố nguy cơ của ung thư vú, tuy nhiên điểm kiến thức thấp (<70%) được phát hiện liên quan đến kiến thức chung về bệnh ung thư vú, phương pháp phát hiện và xử trí sớm và áp dụng các bước thực hành bệnh ung thư vú. Gần như tất cả sinh viên (96,5%) đã nghe nói về bệnh ung thư vú, và 69,8% biết thời điểm mắc bệnh ung thư.

Tại Việt Nam, Nguyễn Minh Phương và cộng sự (2020) nghiên cứu cứu mô tả cắt ngang trên 286 phụ nữ được lựa chọn lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Kết quả nghiên cứu cho thấy từ 15-85% phụ nữ có kiến thức đúng về bệnh ung thư vú, tỷ lệ đạt kiến thức đúng về phát hiện sớm ung thư vú, có 55,9% biết về phương pháp tự khám vú, kiến thức về khám vú để phát hiện ung thư vú tại cơ sở y tế chuyên khoa dao động từ 21-79%.

Kết quả và thảo luận

Bảng 1. Kiến thức chung về bệnh ung thư vú (n=337)

Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú

Trong các đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ 67,7% nữ sinh có kiến thức đúng về biện pháp làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú, nhưng chỉ có 33,5% có kiến thức đúng về các yếu tố nguy cơ mắc ung thư vú; 32,9% biết đúng độ tuổi dễ mắc ung thư vú là trên 35 tuổi và 41,8% biết rằng không có vaccine để phòng ngừa ung thư vú, đều đạt tỷ lệ kiến thức khá thấp. Kết quả này cho thấy, những nữ sinh viên này không nhận thức được rằng họ đang gặp phải những nguy cơ nào, cũng không biết rằng mình có thể làm gì để hạn chế những rủi ro. Chính vì vậy, những chương trình truyền thông, nâng cao kiến thức về bệnh ung thư vú là rất cần thiết đối với những sinh viên khoa Y-dược, giúp họ có nhận thức đúng về bệnh và có thực hành sớm để hạn chế rủi ro từ những yếu tố nguy cơ, đồng thời giúp sinh viên trong sự nghiệp sau này.

Bảng 2. Kiến thức về các phương pháp phát hiện sớm bệnh ung thư vú

Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có tới 55,8% nữ sinh viên Trường Y Dược tham gia nghiên cứu chưa từng nghe đến phương pháp tự khám vú và chỉ có 44,2% đã từng được nghe. Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Phạm Tường Vân và cộng sự (2022) là 56,8%, nhưng thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Brun và cộng sự (2022) là 79,5% và nghiên cứu của Godfrey và cộng sự (2016) là 76,5% người tham gia đã nghe nói về tự khám vú. Tuy nhiên, chỉ có 39,8% có kiến thức về phương pháp tự khám vú được đánh giá là đạt. Trong đó, tỷ lệ có kiến thức đúng về thời gian định kì tự khám vú đạt 21,4%, về đội tuổi bắt đầu tự khám vú hàng tháng đạt 24,9%, về thời điểm tự khám vú đạt 34,4%, về lợi ích của tự khám vú đạt 32,9%, những biểu hiện sớm báo hiệu ung thư vú đạt 32,9% và kiến thức về 5 bước của qui trình tự khám vú hàng tháng đạt 73,6%. Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Phạm Tường Vân và cộng sự (2022) cho thấy có 19,7% có kiến thức đạt về phương pháp tự khám vũ [8-8]. Sự khác biệt này có thể giải thích là do nghiên cứu đó được thực hiện trên đối tượng là phụ nữ và công nhân, khác nhau về trình độ học vấn, khả năng tiếp nhận thông tin, nguồn thu thập thông tin vì thế tỷ lệ có kiến thức đạt về phương pháp tự khám vú trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của tác giả Phạm Tường Vân, tỷ lệ cao hơn không đáng kể.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy việc nhận nguồn thông tin về phòng và phát hiện sớm ung thư vú có ảnh hưởng tới kiến thức về phòng bệnh ung thư vú của đối tượng nghiên cứu. Điều này cũng phù hợp thực tế là người được tiếp cận với những nguồn thông tin thì sẽ có hiểu biết về bệnh tật hơn so với những người không không có tiếp cận nguồn thông tin, từ đó sẽ có nhận thức phù hợp tác động vào những việc làm giảm những yếu tố nguy cơ gây mắc ung thư vú.

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với kiến thức về bệnh ung thư vú

Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú
Kiến thức và một số yếu tố liên quan đến phòng và phát hiện sớm ung thư vú

Kết luận

Qua khảo sát về kiến thức và một số yếu tố liên quan về phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở nữ sinh viên Trường Y Dược, Trường Đại học Trà Vinh có 337 đối tượng tham gia nghiên cứu. tỷ lệ 67,7% nữ sinh có kiến thức đúng về biện pháp làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú, nhưng chỉ có 33,5% có kiến thức đúng về các yếu tố nguy cơ mắc ung thư vú. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có tới 55,8% nữ sinh viên Trường Y Dược tham gia nghiên cứu chưa từng nghe đến phương pháp tự khám vú và chỉ có 44,2% đã từng được nghe.

Yếu tố nhận nguồn thông tin về phòng và phát hiện sớm ung thư vú có ảnh hưởng tới kiến thức về phòng bệnh ung thư vú của đối tượng nghiên cứu. Thông qua kết quả này Nhà trường nên tăng cường thông tin về ung thư vú thông qua hỗ trợ đơn vị y tế tổ chức buổi tuyên truyền thông về phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư vú, yếu tố nguy cơ mắc ung thư vú, biểu hiện lâm sàng và biểu chứng của ung thư vú,... cho nữ sinh viên thấy được sự quan trọng trong việc phòng và phát hiện sớm ung thư vú. Bên cạnh đó nhà trường có thể tăng số tiết học lý thuyết và thực hành của bài để hướng dẫn sinh viên.

Sinh viên nên tự trang bị cho bản thân những thông tin cần thiết về ung thư vú. Nắm vững kiến thức, tác hại và biện pháp phòng ngừa của bệnh ung thư vú, để có thể chia sẻ cho bạ n bè, người thân trong gia đình và trong tương lai có thể là ở môi trường bệnh viện hoặc những buổi tuyên truyền giáo dục sức khỏe bên ngoài cộng đồng.

Tài liệu tham khảo

1. Nde, F. P., Assob, J. C. N., Kwenti, T. E., and et al (2015), “Knowledge, attitude and practice of breast self-examination among female undergraduate students in the University of Buea”. BMC research notes, 8, pp. 1-6.

2. WHO (2020), “New Global Cancer Data: GLOBOCAN 2020”, Cổng thông tin điện tử: https://gco.iarc.fr/.

3. Koc, G., Gulen-Savas, H., Ergol, S., and et al (2019), “Female university students' knowledge and practice of breast self-examination in Turkey”, Nigerian journal of clinical practice, 22 (3), pp. 410-415.

4. Nguyễn Minh Phương, Lê Thị Kim Định, Lê Thị Ngọc Thảnh, và cộng sự (2021), “Nghiên cứu kiến thức, thực hành về phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ 18-60 tuổi tại Thành phố Cần Thơ năm 2020”. Tạp chí Y học Việt Nam, 498 (1), tr. 59-64.

5. Trần Văn Thuấn (2007), “Sàng lọc và phát hiện sớm bệnh ung thư vú”, NXB Y học Hà Nội. 6. Bộ Y Tế. Chuẩn năng lực cơ bản điều dưỡng Việt Nam. Ban hành kèm theo quyết định 1352/ QĐ - BYT, ngày 24/4/2012 của Bộ Y tế.

6. Bệnh viện Hồng Ngọc, Ung thư vú: nguyên nhân và cách điều trị, Cổng thông tin điện tử: https:// hongngochospital.vn/ung-thu-vu-nguyen-nhanva-cach-dieu-tri/.

7. . Abo Al-Shiekh, S. S., Ibrahim, M. A., Alajerami, Y. S. (2021), “Breast cancer knowledge and practice of breast self-examination among female university students, Gaza”, The Scientific World Journal, 2021.

8. Phạm Tường Vân, Đào Trung Nguyên, Trần Thị Thanh Hương (2022), “Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng và phát hiện sớm ung thư vú của phụ nữ ở công ty Cổ phần May 10 năm”, Tạp chí Y học Việt Nam, 516 (2), tr. 237-241.

9. Brun, L. V. C., Béhanzin, L., Togbenon, N. D. L., and et al (2022), “Knowledge, Attitudes and Practice Regarding Breast Cancer among Parakou University Female Students in 2021”, Open Journal of Pathology, 13 (1), pp. 28-39.

10. Godfrey, K., Agatha, T., Nankumbi, J. (2016), “Breast cancer knowledge and breast selfexamination practices among female university students in Kampala, Uganda: a descriptive study”, Oman Medical Journal, 31 (2), pp. 129..

ThSDD. Vũ Thị Đào - ThSDD. Trần Thị Hồng Phương - BSCKI. Nguyễn Thị Ngoãn - BSCKI. Trần Văn Bội - CNDD. Lê Nguyễn Quốc Trường/Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Dự báo thời tiết ngày 20/3/2026: Bắc Bộ sáng sớm có sương mù nhẹ rải rác

Dự báo thời tiết ngày 20/3/2026: Bắc Bộ sáng sớm có sương mù nhẹ rải rác

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia vừa đưa ra thông tin dự báo thời tiết Hà Nội và các khu vực khác trên cả nước ngày 20/3/2026.
Trung tướng Đặng Hồng Đức: Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an cần thúc đẩy sản xuất sản phẩm thuốc y học cổ truyền

Trung tướng Đặng Hồng Đức: Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an cần thúc đẩy sản xuất sản phẩm thuốc y học cổ truyền

Ngày 17/3, tại Hà Nội, Trung tướng Đặng Hồng Đức, Ủy viên trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an chủ trì buổi làm việc với Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an về các mặt công tác của đơn vị.
Lần đầu tiên ghép tạng domino tại Việt Nam: Mở rộng cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân

Lần đầu tiên ghép tạng domino tại Việt Nam: Mở rộng cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân

Việt Nam vừa ghi dấu một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực ghép tạng khi lần đầu tiên thực hiện thành công ca ghép tạng theo chuỗi liên hoàn đặc biệt (domino) - kỹ thuật y học hiện đại giúp tối ưu hóa nguồn tạng hiến, mở ra cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân cùng lúc.

Cùng chuyên mục

[Infographic] 7 loại dược liệu giúp cải thiện giấc ngủ

[Infographic] 7 loại dược liệu giúp cải thiện giấc ngủ

Giấc ngủ đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần. Bên cạnh việc duy trì lối sống lành mạnh, một số loại dược liệu có thể hỗ trợ thư giãn thần kinh, giúp cơ thể dễ đi vào giấc ngủ hơn. Dưới đây là những dược liệu quen thuộc, được dùng trong các loại trà hoặc nước uống giúp cải thiện giấc ngủ.
Nước gạo rang - Thức uống “dưỡng vị” trong y học cổ truyền

Nước gạo rang - Thức uống “dưỡng vị” trong y học cổ truyền

Trong kho tàng ẩm thực và kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe của người Việt, nhiều thức uống giản dị lại mang giá trị dưỡng sinh đáng kể. Nước gạo rang là một ví dụ điển hình. Từ những hạt gạo quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày, khi được rang thơm và nấu thành nước, thức uống này không chỉ có hương vị dễ chịu mà còn được y học cổ truyền đánh giá là có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể.
Cây lá bỏng - “Tủ thuốc xanh” trong vườn nhà

Cây lá bỏng - “Tủ thuốc xanh” trong vườn nhà

Cây lá bỏng (còn gọi là sống đời) thường được trồng làm cảnh hoặc làm thuốc. Theo kinh nghiệm dân gian, loại cây này không chỉ dễ trồng mà còn có nhiều tác dụng như thanh nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ làm lành vết thương và giảm ho. Từ lâu, lá bỏng đã trở thành vị thuốc quen thuộc trong nhiều bài thuốc đơn giản, dễ áp dụng tại nhà.
Y học cổ truyền Việt Nam cùng y học hiện đại trong kỉ nguyên vươn mình của đất nước - Những vấn đề cần quan tâm để phát triển bền vững

Y học cổ truyền Việt Nam cùng y học hiện đại trong kỉ nguyên vươn mình của đất nước - Những vấn đề cần quan tâm để phát triển bền vững

Tạp chí Sức Khoẻ Việt trân trọng giới thiệu bài viết: "Y học cổ truyền Việt Nam cùng y học hiện đại trong kỉ nguyên vươn mình của đất nước - Những vấn đề cần quan tâm để phát triển bền vững" của TTND. GS. TS Trương Việt Bình - Chủ tịch Hội Nam Y Việt Nam.
Hạ khô thảo - Dược liệu giúp thanh nhiệt và hỗ trợ huyết áp

Hạ khô thảo - Dược liệu giúp thanh nhiệt và hỗ trợ huyết áp

Trong kho tàng dược liệu của y học cổ truyền, hạ khô thảo là một vị thuốc quen thuộc, được sử dụng để thanh nhiệt, tiêu viêm và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý. Loài cây này mọc hoang ở nhiều nơi, dễ thu hái và có giá trị dược tính đáng chú ý, đặc biệt trong các bài thuốc liên quan đến gan, huyết áp và các chứng viêm.
Cây thành ngạnh và những công dụng bất ngờ trong y học cổ truyền

Cây thành ngạnh và những công dụng bất ngờ trong y học cổ truyền

Trong kho tàng dược liệu của y học cổ truyền Việt Nam, nhiều loại cây mọc hoang trong tự nhiên lại có giá trị chữa bệnh. Cây thành ngạnh là một trong số đó. Dù không quá phổ biến trong đời sống hằng ngày, nhưng theo kinh nghiệm dân gian, loại cây này được sử dụng để hỗ trợ điều trị nhiều vấn đề sức khỏe, đặc biệt liên quan đến tiêu hóa và giải độc cơ thể.

Các tin khác

Chữa bệnh không dùng thuốc: Giá trị của châm cứu và dưỡng sinh trong y học cổ truyền

Chữa bệnh không dùng thuốc: Giá trị của châm cứu và dưỡng sinh trong y học cổ truyền

Không chỉ nổi tiếng với các bài thuốc thảo dược, y học cổ truyền Việt Nam còn có nhiều phương pháp trị liệu không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt và dưỡng sinh. Dựa trên nguyên lý cân bằng âm dương, điều hòa khí huyết, các liệu pháp này ngày càng được quan tâm trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt khi bệnh mạn tính gia tăng và xu hướng sống khỏe tự nhiên trở nên phổ biến.
Hoa và sức khỏe phái đẹp - Liệu pháp dịu dàng từ thiên nhiên

Hoa và sức khỏe phái đẹp - Liệu pháp dịu dàng từ thiên nhiên

Không chỉ mang vẻ đẹp thanh tao và hương thơm dễ chịu, nhiều loài hoa còn được y học cổ truyền xem như những vị thuốc quý giúp bồi bổ cơ thể, điều hòa khí huyết và chăm sóc sắc đẹp. Từ hoa cúc, hoa hồng đến hoa nhài hay hoa sen, mỗi loài hoa đều chứa những dược tính tự nhiên góp phần giúp phụ nữ khỏe - đẹp hơn mỗi ngày.
Phát triển Y học cổ truyền Việt Nam trong thế kỷ XXI

Phát triển Y học cổ truyền Việt Nam trong thế kỷ XXI

Tạp chí Sức khoẻ Việt trân trọng giới thiệu bài viết "Phát triển Y học cổ truyền Việt Nam trong thế kỷ XXI" của TTND. GS. TS Trương Việt Bình - Chủ tịch Hội Nam Y Việt Nam.
Rau răm: Từ thảo mộc vườn nhà đến vị thuốc dân gian

Rau răm: Từ thảo mộc vườn nhà đến vị thuốc dân gian

Không chỉ là loại rau gia vị góp mặt trong nhiều món ăn truyền thống, rau răm còn được y học cổ truyền và một số nghiên cứu hiện đại ghi nhận với nhiều lợi ích đáng chú ý. Tuy nhiên, sử dụng thế nào để tốt cho sức khỏe là điều không phải ai cũng hiểu rõ.
Thuốc nam trong hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp ở người cao tuổi

Thuốc nam trong hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp ở người cao tuổi

Đau nhức xương khớp là tình trạng phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt khi thời tiết thay đổi, trời lạnh hoặc ẩm ướt. Không chỉ gây khó khăn trong vận động, các bệnh lý xương khớp còn ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống và tâm lý của người già. Bên cạnh các phương pháp điều trị của y học hiện đại, y học cổ truyền với hệ thống thuốc nam phong phú được xem là giải pháp hỗ trợ an toàn, phù hợp với thể trạng người cao tuổi nếu được sử dụng đúng cách.
Dược liệu sạch - điều kiện sống còn của ngành Nam y

Dược liệu sạch - điều kiện sống còn của ngành Nam y

Với Nam y, phần lớn các bài thuốc dựa vào cây thuốc bản địa thì chất lượng dược liệu càng đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường dược liệu ngày càng mở rộng, câu chuyện đảm bảo nguồn dược liệu sạch, có truy xuất nguồn gốc và đạt chuẩn đang trở thành một trong những vấn đề cốt lõi đối với sự phát triển bền vững của y học cổ truyền Việt Nam.
Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông 2026: Lan tỏa giá trị y đức, phát huy tinh hoa y học cổ truyền

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông 2026: Lan tỏa giá trị y đức, phát huy tinh hoa y học cổ truyền

Trong không khí rực rỡ của mùa xuân Bính Ngọ 2026, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông đã trở thành một điểm đến tâm linh, văn hóa và sức khỏe đặc biệt đối với người dân và du khách trên khắp cả nước.
Chăm sóc chủ động – Chìa khóa cho một đời sống cân bằng

Chăm sóc chủ động – Chìa khóa cho một đời sống cân bằng

(SKV) - Có một sự thật giản dị nhưng không phải ai cũng kịp nhận ra: cơ thể luôn thì thầm trước khi buộc phải “lên tiếng” bằng bệnh tật. Đó có thể là những cơn mệt mỏi thoáng qua, vài đêm ngủ chập chờn, cảm giác căng thẳng kéo dài hay những rối loạn nhẹ trong sinh hoạt thường ngày. Mỗi tín hiệu ấy là một lời nhắc nhở rằng chúng ta đã sống quá nhanh, quá vội mà quên lắng nghe chính mình.
[E-Magazine] Cây quất - “Món quà sức khỏe” từ thiên nhiên

[E-Magazine] Cây quất - “Món quà sức khỏe” từ thiên nhiên

Cây quất không chỉ quen thuộc trong dịp Tết mà còn là một loại cây mang lại giá trị sức khỏe đáng chú ý. Từ quả đến vỏ, quất được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực và các bài thuốc dân gian nhờ đặc tính giàu tinh dầu, vitamin và hợp chất sinh học. Dưới góc nhìn của cả y học cổ truyền và y học hiện đại, quất được đánh giá là thực phẩm - dược liệu tự nhiên giúp hỗ trợ hô hấp, tiêu hóa và tăng cường sức đề kháng, đặc biệt phù hợp trong giai đoạn giao mùa và những thời điểm cơ thể dễ suy giảm miễn dịch.
Nâng cao năng lực khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền

Nâng cao năng lực khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền

Y học cổ truyền Việt Nam là kết tinh của trí tuệ dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Xem thêm
​Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: Pho sử sống của Y đức và Khát vọng tự chủ Y học dân tộc

​Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: Pho sử sống của Y đức và Khát vọng tự chủ Y học dân tộc

Trong tiết xuân của ngày rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ, ngành Y tế Việt Nam lại cùng hướng về Y Miếu (Hà Nội) và mảnh đất Liêu Xá (Hưng Yên) để tưởng niệm 235 năm ngày mất của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Sự kiện không chỉ là nghi thức tâm linh, mà còn là dịp để nhìn lại giá trị xuyên thời đại của một hệ thống tư tưởng y học đồ sộ.
Khai Xuân Hội tụ: Liên minh các Hội Y tế và Công ty CP Ao Vua hướng về cội nguồn Tản Viên Sơn

Khai Xuân Hội tụ: Liên minh các Hội Y tế và Công ty CP Ao Vua hướng về cội nguồn Tản Viên Sơn

[Ba Vì, ngày 28/02/2026] – Trong tiết trời xuân ấm áp và linh thiêng của vùng đất Ba Vì, một sự kiện gặp gỡ đầy ý nghĩa đã diễn ra, đánh dấu sự gắn kết bền chặt giữa các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và doanh nghiệp vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe Nhân dân.
Hội Nam Y Việt Nam Khai xuân Bính Ngọ- Kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955- 27/2/2026)

Hội Nam Y Việt Nam Khai xuân Bính Ngọ- Kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955- 27/2/2026)

Trong không khí hân hoan của những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nam Y Việt Nam đã long trọng tổ chức Buổi lễ Khai xuân và Kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 – 27/02/2026). Đây là dịp để các thế hệ thầy thuốc nhìn lại chặng đường vẻ vang, đồng thời thắp sáng tinh thần “Nam dược trị Nam nhân”.
Lan tỏa tinh thần y đức và phát huy giá trị thuốc Nam

Lan tỏa tinh thần y đức và phát huy giá trị thuốc Nam

Nhân dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 – 27/2/2026) và khai Xuân năm Bính Ngọ, Chi hội Nam y Thái Nguyên đã long trọng tổ chức buổi gặp mặt đầu Xuân dành cho các hội viên là thầy thuốc, y sĩ, lương y và những người làm công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tại Văn phòng Chi hội.
Hội Nam Y Việt Nam và Công ty CP Tập đoàn Ao Vua trao tặng 300 suất quà tết tại Cẩm Thủy- Thanh Hóa

Hội Nam Y Việt Nam và Công ty CP Tập đoàn Ao Vua trao tặng 300 suất quà tết tại Cẩm Thủy- Thanh Hóa

Sáng ngày 3/2/2026, tại trụ sở UBND xã Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, Hội Nam Y Việt Nam phối hợp cùng Công ty CP Tập đoàn Ao Vua đã tổ chức chương trình trao tặng quà Tết cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn và gia đình chính sách trên địa bàn.
Phiên bản di động