Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu

Cây canh châu còn có tên gọi khác là trân châu, kim châu, chanh châu, xích như và sơn minh trà… có vị chua hơi ngọt, kèm theo vị đắng, tính mát. Canh châu là dược liệu được sử dụng để điều trị bệnh sởi, thủy đậu, mụn nhọt, lở loét và bong gân.

Cây canh châu

Tên gọi khác: chanh châu, trân châu, kim châu, khan slan (Lạng Sơn), xích chu đằng, tước mai đằng.

Tên khoa học: Sageretia Theezans

Họ: Táo ta (danh pháp khoa học: Rhamnaceae)

Cây canh châu là loại cây nhỏ, dạng bụi, phân cành nhiều. Cây có cành non mềm, màu xám nhạt, có lông tơ, cành già nhẵn, màu xám nâu, có gai do cành nhỏ biến đổi. Lá mọc so le, hình bầu dục hay hình trái xoan, dài 2 – 10cm, rộng 0,8 – 5cm, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, mép có răng cưa nhỏ, mặt trên sẫm, mặt dưới nhạt có gân nổi rõ.

Cụm hoa thường mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá, hoa thường tụ họp 1 – 4 cài màu trắng, lá bắc hình tam giác có lông, đài hình chén. Quả nhỏ, hình cầu, màu đen hoặc tím nhạt. Toàn cây có lông nhỏ.

Cây canh châu được phân bố ở nhiều khu vực đặc biệt là các tỉnh thuộc Trung Quốc và Ấn Độ. Tại Việt Nam, canh chây cũng được tìm thấy rải rác ở một số địa phương. Cây canh châu thường mọc dọc theo bờ suối hoặc ven rừng, nơi có đất nâu và cát ẩm ướt, đôi khi canh châu thường mọc xen lẫn với một số cây bụi dại khác.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Cây canh châu không chỉ được trồng để làm cảnh mà còn được sử dụng để phòng, chữa bệnh

Phân bố, thu hái, chế biến cây canh châu

Cây canh châu thường mọc dọc theo bờ suối hoặc ven rừng, nơi có đất nâu và cát ẩm ướt, đôi khi canh châu thường mọc xen lẫn với một số cây bụi dại khác.

Cây canh châu được phân bố ở nhiều khu vực đặc biệt là các tỉnh thuộc Trung Quốc và Ấn Độ. Tại Việt Nam cây được trồng và mọc hoang ở các địa phương thuộc miền Bắc và miền Trung nước ta, ít thấy ở miền Nam.

Người ta thường dùng lá, cành và rễ cây canh châu để làm thuốc. Thường thu hái lá và cành tươi vào mùa xuân còn rễ cây thu hoạch vào mùa đông. Đem những lá cây, cành và rễ rửa sạch nhằm loại bỏ bụi bẩn rồi đem phơi nắng hoặc sấy khô, cất trữ và bảo quản ở những nơi khô ráo thoáng mát và nhiệt độ phòng, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Tốt nhất là nên lưu trữ dược liệu trong bao bì và đậy kín bao bì sau mỗi lần sử dụng.

Quả Canh châu có thể ăn được và được dùng như một loại trái cây thông thường. Có thể dùng cành, lá và rễ, thu hái quanh năm, đem về phơi khô hoặc sấy dùng dần. Tuy nhiên theo quan niệm dân gian, nên thu hái rễ vào mùa đông, riêng lá và cành nên thu hái vào mùa xuân hạ.

Thành phần hóa học cây canh châu

Quả

Dinh dưỡng: Độ ẩm (75.04), chất đạm thô (2.01), chất béo thô (0.84), sợi thô (3.32), tro thô (0.48) (%).

Khoáng chất: K (639.4), Ca (44.1), Mg (57.5), Na (85.1), Mn (0.8), Fe (2.1), P (84.9), Mo (1.4), B (3.6), Cu (1.6) (mg/100g trọng lượng khô).

Acid hữu cơ: Oxalic acid (51.8), Tartaric acid (594.4), Malic acid (2631.5), Lactic acid (1237.4), Citric acid (189.1), Succinic acid (576.6) (mg/100g trọng lượng khô).

Quả chứa 12 axit béo, bao gồm axit béo bão hòa và axit béo không bão hòa. Axit linoleic được phát hiện là axit béo chiếm ưu thế, tiếp theo là axit oleic và axit palmitic. Ngoài ra, lượng axit béo không no trong quả (74,96%) cao hơn so với axit béo no (25,04%) nên tỷ lệ không no so với no là 2,5.

Quả cũng chứa một lượng lớn anthocyanin. Tổng số anthocyanin được tìm thấy trong trái cây tươi là 520,8 mg/100g trọng lượng tươi, được biểu thị bằng đương lượng xyanua 3-glucoside.

Bộ phận khác

Các hợp chất có hoạt tính sinh học khác nhau như friedelin, axit synergic, beta-sitosterol, daucosterol, axit gluco-synrigic và taraxerol đã được phân lập từ các bộ phận trên mặt đất của Canh châu. Một số glycoside flavanol, cụ thể là 7-O-methylmearnsitrin, myricentrin, kaempferol 3-O-R-L-rhamonopyranoside, europetin 3-O-R-L-rhamonisde và 7-O-methyl quercetin 3-O-R-L-rhamnopyranoside đã được cô lập từ lá.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Hoa canh châu mọc thành chùm dài khoảng 2.5 – 5cm và có màu trắng xanh nhạt

Công dụng cây canh châu

Canh châu có tính mát, vị đắng, hơi chua, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, giải độc.

Trong đông y, Canh châu được dùng làm thuốc đắp vết thương tên đạn, với tên vị thuốc là Xích chu; chữa sưng mặt, sưng mình, đậu sởi, chữa tắc tia sữa hoặc lở loét không ra da gom miệng, chữa bị thương sai khớp bong gân và mụn nhọt.

Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ và lá cây được dùng trị cảm mạo, ho, viêm gan, lở ngứa và đòn ngã. Ở Quảng Tây, rễ được dùng trị ho do phế nhiệt và lá dùng ngoài trị mụn nhot sưng lở.

Tác dụng dược lý cây canh châu

Chống oxy hóa: Các phần chiết xuất từ ​​lá giàu Flavonoid thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Ngoài ra, hàm lượng anthocyanin cao trong quả có thể chứng tỏ quả nên được sử dụng như một thành phần trong chất bổ sung chống oxy hóa. Tác dụng chống oxy hóa đã được chứng minh thông qua hoạt động nhặt gốc tự do DPPH và khả năng khử Sắt.

Chống tiểu đường: Nghiên cứu cho thấy phân đoạn EtOAc từ quả thể hiện hiệu quả ức chế enzym α-glucosidase cao nhất, tiếp theo là phân đoạn nước, dịch chiết EtOH 70% và phần BuOH. Sự hiện diện ở mức độ cao của các hoạt động ức chế này trong phần EtOAc cho thấy rằng chất chiết xuất từ ​​quả S. theezans có khả năng ngăn chặn sự gia tăng Glucose sau ăn của tinh bột, cho thấy tác dụng chống tiểu đường tiềm năng.

Chống hình thành sắc tố: Phần n-hexane của quả thể hiện hoạt tính chống tạo hắc tố đáng kể trong số các phần dung môi khác nhau mà không làm giảm khả năng tồn tại của các tế bào u ác tính của chuột B16F10. Nó ngăn chặn sự biểu hiện của tyrosinase và protein liên quan đến tyrosinase 1 (TRP1). Việc giảm biểu hiện yếu tố phiên mã liên quan đến microphthalmia (MITF) được thực hiện qua trung gian bởi con đường truyền tín hiệu Akt/glycogen synthase kinase 3 beta (GSK3β), giúp thúc đẩy quá trình giảm β-catenin. Các thành phần có hoạt tính sinh học chịu trách nhiệm về hoạt tính chống tạo hắc tố được xác định là metyl linoleat và metyl linolenat.

Chống virus: Chất chiết xuất từ ​​nước của lá có hoạt tính chống virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thông qua việc ức chế Protease HIV loại 1.

Chống ung thư: Trong số các tế bào ung thư khác nhau ở người được thử nghiệm, khả năng gây độc tế bào tối đa được tìm thấy trong các tế bào ung thư vú ở người MDA-MB-231 với chiết xuất methanol, cloroform, etyl axetat, n-butanol và phần nước từ cành Canh châu.

Điều trị bằng chiết xuất lá hoặc cành Canh châu làm giảm khả năng sống sót của tế bào và gây ra quá trình chết theo chương trình trong các tế bào ung thư đại trực tràng ở người SW480. Cơ chế là gây ra sự suy giảm cyclin D1 phụ thuộc vào GSK3β và tăng biểu hiện HO-1 thông qua kích hoạt Nrf2 thông qua kích hoạt p38 phụ thuộc vào ROS, dẫn đến giảm khả năng tồn tại trong các tế bào SW480.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Cây canh châu từ lâu được y học cổ truyền sử dụng trong chữa bệnh

Bài thuốc chữa bệnh từ cây canh châu

Chữa thủy đậu: Chuẩn bị 1 nắm lá canh châu, rửa sạch với muối loãng và vớt ra rổ cho ráo nước. Vò lá nhẹ để khi nấu tiết ra nhiều tinh dầu hơn. Cho lá vào ấm sắc cùng với nửa lít nước, sắc tới khi cạn còn một nửa.Đợi nguội rồi lọc lấy nước và uống 3 lần trong ngày. Uống liên tục vài ngày để thấy hiệu quả các nốt thủy đậu sẽ lặn xuống.

Hỗ trợ điều trị bệnh sởi: Lấy 20g lá và cành cây canh châu, kết hợp với 12g săn dây cùng với hương nhu, 18g tầm gửi cây khế, cam thảo dây và hoắc hương mỗi vị 8 gram. Đem tất cả các vị thuốc rửa sạch dưới vòi nước để loại bỏ bụi bẩn và các tạp chất. Sau đó đem nấu các vị thuốc cùng với 400 ml nước, nấu cô đặc cho đến khi còn khoảng 200 ml nước. Chia phần nước thuốc vừa sắc đặc thành hai phần nhỏ để uống mỗi ngày. Kiên trì sử dụng bài thuốc này liên tục trong vòng 5 ngày hoặc cho đến khi tình trạng bệnh thuyên giảm dần. Đồng thời, có thể kết hợp cùng với việc lấy lá canh châu để nấu nước tắm hằng ngày.

Chữa ghẻ lở, ghẻ nước: Sử dụng một nắm cành và lá cây canh châu, sau đó đem rửa sạch bằng nước để loại bỏ bụi bẩn rồi nấu cô đặc, lấy phần nước rửa lên vùng da nổi ghẻ lở. Áp dụng bài thuốc cho đến khi tình trạng bệnh dần cải thiện.

Chữa vết thương chảy máu: Chuẩn bị lá chanh châu, lá đuôi tôm mỗi thứ 1 nắm nhỏ tầm 20g, đinh hương 1 nụ. Đem tất cả rửa sạch, để ráo nước và giã nhỏ đắp vào vết thương. Ngày có thể đổi lá thuốc vài lần, đắp 2 – 3 ngày cho vết thương liền miệng thì thôi.

Trà canh châu giúp giải khát và phòng ngừa sởi: Chuẩn bị lá vối và canh châu. Sắc lấy nước uống hằng ngày.

Chữa rôm sảy, mụn nhọt do nóng trong người: Lấy 24g cả lá, cành và rễ rồi thêm vào 20g mỗi loại các dược liệu: hạ khô thảo, rễ cây cỏ xước, bồ công anh, 10 gam lá đơn đỏ. Bạn lấy tất cả những dược liệu này, đem đi rửa sạch rồi bỏ vào nồi, thêm 750ml nước, sắc lên. Nên uống hỗn hợp này ngay khi chúng còn ấm và uống với liều lượng 2 lần/ngày.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Lá của canh châu được sử dụng để phòng ngừa và điều trị bệnh sởi, ngứa da do ghẻ nước, rôm sảy,…

Thúc sởi mọc nhanh: Chuẩn bị 30 gram rễ cây canh châu hoặc 40 gram lá cây canh châu, đem rửa sạch dược liệu để thải bỏ tạp chất rồi thái thành từng đoạn nhỏ. Sau đó, sắc các vị thuốc trên cùng với 500 ml nước lọc, sắc cô đặc cho đến khi thuốc còn khoảng 300 ml nước. Chia phần thuốc đã cô đặc thành 3 phần nhỏ để uống trong ngày. Lưu ý, uống thuốc ngay khi thuốc còn nóng, nếu thuốc đã nguội thì cần hâm hóng lại trước khi sử dụng.

Chữa vết thương lâu liền miệng (dùng với vết thương nhỏ và không quá sâu): Dùng lá canh châu, lá thồm lồm (lượng bằng nhau), đinh hương một nụ. Rửa sạch tất cả dược liệu, để ráo nước rồi giã nát đắp vào vết thương. Thực hiện đến khi vết thương liền miệng thì ngưng.

Lưu ý khi sử dụng cây canh châu

Ngoài việc sử dụng đúng thuốc, đúng liều lượng, người đọc cần lưu ý đến các vấn đề khi sử dụng các bài thuốc từ Canh châu như:

Những trường hợp bị dị ứng hoặc quá mẫn cảm với một số thành phần có trong dược liệu của cây canh châu.

Những trường hợp người bệnh bị tỳ vị hư hạn, đại tiện phân lỏng không được các bài thuốc từ cây canh châu.

Tóm lại, cây canh châu là vị thuốc đông y được sử dụng khá phổ biến trong các bài thuốc y học cổ truyền, với công dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết. Tuy nhiên, công dụng chữa bệnh của cây canh châu chưa được giới y học hiện đại nghiên cứu và đưa ra công bố. Do đó, người bệnh không tự ý sử dụng các bài thuốc từ cây canh châu khi chưa có sự đồng ý của bác sĩ./.

Thúy Hà (t/h)
https://suckhoeviet.org.vn

Cùng chuyên mục

Hội chẩn đa chuyên khoa: Chuẩn mực mới, hy vọng mới cho người bệnh ung thư

Hội chẩn đa chuyên khoa: Chuẩn mực mới, hy vọng mới cho người bệnh ung thư

Trong bức tranh y tế toàn cầu, ung thư không chỉ là một thách thức y khoa đơn thuần mà đã trở thành gánh nặng kinh tế - xã hội, đe dọa trực tiếp đến nguồn lực lao động và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như Việt Nam. Tuy nhiên, khi những rào cản về phát hiện muộn đang là 'điểm nghẽn' ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thì sự tiến bộ của công nghệ sinh học đã mở ra một vận hội mới, trong đó hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) đang được đánh giá là "chìa khóa" sống còn trong cuộc chiến chống ung thư.
Ăn nhiều trứng muối dễ bị nhiễm độc chì

Ăn nhiều trứng muối dễ bị nhiễm độc chì

Con trai tôi 16 tuổi, rất thích món cháo trắng ăn cùng trứng muối. Gần như mỗi tuần cháu phải ăn đến 3-4 lần. Mong chuyên mục cho biết, cháu ăn như vậy có nhiều không? Mỗi tuần cháu nên ăn mấy quả?
Bộ Y tế đặt mục tiêu nâng tầm dược liệu Việt Nam

Bộ Y tế đặt mục tiêu nâng tầm dược liệu Việt Nam

Sự kiện kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Viện Dược liệu không chỉ là dịp nhìn lại chặng đường phát triển của ngành dược liệu, mà còn đặt ra yêu cầu mới: biến tiềm năng tài nguyên bản địa thành năng lực sản xuất, nghiên cứu và thương mại hóa bền vững.
Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Trong kho tàng y học cổ truyền, ngưu bàng từ lâu đã được xem là một vị thuốc đa dụng. Không chỉ xuất hiện trong các bài thuốc dân gian, cây còn được ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe nhờ đặc tính thanh nhiệt, giải độc và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh thường gặp.
Những "vị thuốc thanh nhiệt" từ thiên nhiên theo y học cổ truyền

Những "vị thuốc thanh nhiệt" từ thiên nhiên theo y học cổ truyền

Vào những ngày thời tiết oi bức, cơ thể dễ rơi vào trạng thái “nóng trong” với các biểu hiện như nổi mụn, táo bón, miệng khô, mất ngủ. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân chủ yếu là do nhiệt tích tụ trong cơ thể, làm mất cân bằng âm - dương. Bên cạnh việc điều chỉnh sinh hoạt, chế độ ăn uống với các loại rau có tính mát được xem là giải pháp đơn giản, hiệu quả và an toàn.
Các phương thuốc tân lương giải biểu tiêu biểu trong y học cổ truyền và ứng dụng thực tiễn

Các phương thuốc tân lương giải biểu tiêu biểu trong y học cổ truyền và ứng dụng thực tiễn

(SKV) - Các phương thuốc tân lương giải biểu gồm các vị thuốc vị cay, tính mát như Tang diệp, Cát căn, Bạc hà… dùng để phát tán phong nhiệt. Các phương thuốc tân lương giải biểu có tác dụng phát tán phong nhiệt dùng để chữa các chứng bệnh gây ra do ngoại cảm phong nhiệt: Phát sốt, ra mồ hôi, đau đầu, đau người, sợ gió, sợ lạnh, miệng khát, họng đau, ho, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng, mạch phù sác.

Các tin khác

Quế chi thang phương thuốc tiêu biểu trong nhóm tân ôn giải biểu của Y học cổ truyền

Quế chi thang phương thuốc tiêu biểu trong nhóm tân ôn giải biểu của Y học cổ truyền

(SKV) - Bài thuốc có tác dụng chủ yếu là phát tán phong hàn ở phần biểu, đồng thời điều hòa dinh – vệ, giúp cơ thể phục hồi trạng thái cân bằng. Khác với những phương thuốc phát hãn mạnh, Quế chi thang có tính phát hãn nhẹ, điều hòa, thường được sử dụng trong các trường hợp ngoại cảm phong hàn thể biểu hư – khi cơ thể đã suy yếu, xuất hiện triệu chứng sốt nhẹ, sợ gió, ra mồ hôi tự nhiên, đau đầu và mạch phù hoãn.
Đại Thanh Long Thang và những ứng dụng trong điều trị chứng ngoại cảm phong hàn

Đại Thanh Long Thang và những ứng dụng trong điều trị chứng ngoại cảm phong hàn

(SKV) - Đại thanh long thang là phương thuốc tiêu biểu thuộc nhóm tân ôn giải biểu trong Y học cổ truyền, được sử dụng để điều trị chứng ngoại cảm phong hàn kèm nội nhiệt. Bài viết nhằm phân tích thành phần, cơ chế tác dụng theo lý luận Đông y và đánh giá ứng dụng lâm sàng hiện nay. Kết quả cho thấy bài thuốc có tác dụng phát hãn giải biểu, thanh nhiệt, trừ phiền, phù hợp với các trường hợp cảm mạo phong hàn có biểu hiện không ra mồ hôi, sốt, phiền táo. Ngoài ra, bài thuốc còn được ứng dụng trong một số bệnh lý hiện đại như viêm cầu thận cấp và phù do dị ứng lạnh.
Ma Hoàng Thang: Phương tễ kinh điển và giá trị trong điều trị cảm mạo phong hàn

Ma Hoàng Thang: Phương tễ kinh điển và giá trị trong điều trị cảm mạo phong hàn

(SKV) - Trong hệ thống phương tễ của Y học cổ truyền, Ma hoàng thang là một trong những bài thuốc tiêu biểu, xuất hiện từ Thương hàn luận và được sử dụng rộng rãi qua nhiều thế kỷ. Không chỉ mang giá trị lịch sử, bài thuốc còn thể hiện rõ tư duy biện chứng luận trị, nguyên tắc cốt lõi của Y học phương Đông khi điều trị không dựa trên tên bệnh mà dựa vào bản chất cơ chế bệnh sinh.
Phương tễ trong Y học cổ truyền: Cấu trúc lý luận, nguyên tắc vận dụng và giá trị trong thực hành lâm sàng hiện đại

Phương tễ trong Y học cổ truyền: Cấu trúc lý luận, nguyên tắc vận dụng và giá trị trong thực hành lâm sàng hiện đại

(SKV) - Trong hệ thống Y học cổ truyền (YHCT), phương tễ không chỉ là tập hợp các bài thuốc mà còn là biểu hiện tập trung của tư duy biện chứng luận trị, nền tảng cốt lõi chi phối toàn bộ hoạt động chẩn đoán và điều trị. Việc nghiên cứu phương tễ, do đó, không thể tách rời khỏi hệ thống lý luận “lý – pháp – phương – dược”, trong đó phương tễ đóng vai trò cầu nối giữa nhận thức bệnh lý và can thiệp điều trị cụ thể.
Tiểu thanh long thang: Phương thuốc tân ôn giải biểu tiêu biểu trong điều trị ho đờm do phong hàn

Tiểu thanh long thang: Phương thuốc tân ôn giải biểu tiêu biểu trong điều trị ho đờm do phong hàn

(SKV) - Tiểu thanh long thang là một phương thuốc kinh điển thuộc nhóm tân ôn giải biểu, có nguồn gốc từ y học cổ truyền phương Đông. Bài thuốc được sử dụng trong các trường hợp ngoại cảm phong hàn kèm theo nội ẩm, khi tà khí xâm nhập vào phần biểu nhưng đồng thời ảnh hưởng đến chức năng tuyên phát và túc giáng của phế.
Phương thuốc Tân ôn giải biểu “Cát căn thang” và ứng dụng

Phương thuốc Tân ôn giải biểu “Cát căn thang” và ứng dụng

(SKV) - Cát căn thang là một phương thuốc cổ phương tiêu biểu thuộc nhóm tân ôn giải biểu trong y học cổ truyền. Bài thuốc có nguồn gốc từ tác phẩm kinh điển Thương hàn luận, được sử dụng trong các trường hợp ngoại cảm phong hàn khi tà khí còn ở phần biểu nhưng đã ảnh hưởng đến cân cơ và kinh lạc.
Tọa đàm khoa học: Y học Cổ truyền- Khó khăn, Thách thức và Triển vọng phát triển trong thời đại hiện nay

Tọa đàm khoa học: Y học Cổ truyền- Khó khăn, Thách thức và Triển vọng phát triển trong thời đại hiện nay

(Hà Nội, ngày 23/03/2026) – Chiều ngày 23/3/2026, tại Hội trường Hải Thượng Lãn Ông – Học viện Y dược Cổ truyền Việt Nam, một diễn đàn khoa học quy mô lớn đã quy tụ những trí tuệ hàng đầu của ngành Y học cổ truyền (YHCT) để cùng thảo luận về con đường phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Tác dụng của muối theo y học cổ truyền

Tác dụng của muối theo y học cổ truyền

Muối là gia vị quen thuộc trong gian bếp. Trong y học cổ truyền, muối còn được xem là một loại “dược liệu” quan trọng, gắn liền với nhiều bài thuốc dân gian và phương pháp dưỡng sinh.
Khoai lang: Từ thực phẩm dân dã đến vị thuốc quý trong y học cổ truyền

Khoai lang: Từ thực phẩm dân dã đến vị thuốc quý trong y học cổ truyền

Khoai lang là minh chứng tiêu biểu cho triết lý “thuốc trong thức ăn” của y học cổ truyền. Với đặc tính lành tính, dễ sử dụng và giàu giá trị dinh dưỡng, khoai lang không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn góp phần phòng ngừa nhiều bệnh lý thường gặp.
Ẩm thực dưỡng sinh mùa xuân: Nuôi dưỡng cơ thể từ những món ăn thanh đạm

Ẩm thực dưỡng sinh mùa xuân: Nuôi dưỡng cơ thể từ những món ăn thanh đạm

Mùa xuân - thời điểm giao hòa của đất trời - không chỉ mang đến sức sống mới cho thiên nhiên mà còn ảnh hưởng đến cơ thể con người. Theo quan niệm của y học cổ truyền, đây là giai đoạn dương khí bắt đầu sinh trưởng, cơ thể cần được nuôi dưỡng đúng cách để thích nghi với sự thay đổi của thời tiết. Chính vì vậy, việc lựa chọn các món ăn dưỡng sinh phù hợp trong mùa xuân đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật.
Xem thêm
Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hà Nội, ngày 11/4/2026 Hội Nam Y Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Ban Thường vụ lần thứ 14. Đây là kỳ họp quan trọng nhằm đánh giá toàn diện các hoạt động trong quý 1 năm 2026, đồng thời hoạch định chiến lược trọng tâm cho năm 2026, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nam Y Việt Nam nhiệm kỳ 3 (2027–2032)
Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

HẢI PHÒNG – Trong không khí trang nghiêm của những ngày lễ hội, đoàn đại biểu Hội Nam Y Việt Nam do Thầy thuốc Nhân dân. Giáo sư. Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn, đã có chuyến hành trình đầy ý nghĩa về với vùng đất địa linh nhân kiệt Cẩm Văn – Cẩm Vũ (Cẩm Giang, Hải Phòng). Đây là hoạt động thiết thực nhằm tri ân các bậc tiền nhân, đặc biệt là Đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh – vị Thánh thuốc Nam của dân tộc.
Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

(Sức khỏe Việt) – Sáng ngày 26/03/2026, trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Bính Ngọ, Chi hội Nam y tỉnh Thái Nguyên đã trang trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Hội năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị đánh dấu bước phát triển vượt bậc của Chi hội với những thành tích xuất sắc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bảo tồn giá trị y học cổ truyền.
Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Trong không khí ấm áp của những ngày đầu xuân, Chi hội Câu lạc bộ (CLB) Healing In Balance đã tổ chức buổi gặp mặt đầy ý nghĩa, tổng kết công tác hoạt động năm 2025, đánh dấu bước phát triển mới trong việc đưa bộ môn Thiền năng lượng sinh học đến gần hơn với cộng đồng Việt Nam.
Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Ngày 21 tháng 3 năm 2026, tại Hà Nội, Hội Nam Y Việt Nam đã long trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào thi đua năm 2026. Sự kiện là dịp nhìn lại những thành tựu trong việc gìn giữ tinh hoa y học dân tộc, đồng thời kích hoạt hành trình mới vì sức khỏe cộng đồng.
Phiên bản di động