Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu

Cây canh châu còn có tên gọi khác là trân châu, kim châu, chanh châu, xích như và sơn minh trà… có vị chua hơi ngọt, kèm theo vị đắng, tính mát. Canh châu là dược liệu được sử dụng để điều trị bệnh sởi, thủy đậu, mụn nhọt, lở loét và bong gân.

Cây canh châu

Tên gọi khác: chanh châu, trân châu, kim châu, khan slan (Lạng Sơn), xích chu đằng, tước mai đằng.

Tên khoa học: Sageretia Theezans

Họ: Táo ta (danh pháp khoa học: Rhamnaceae)

Cây canh châu là loại cây nhỏ, dạng bụi, phân cành nhiều. Cây có cành non mềm, màu xám nhạt, có lông tơ, cành già nhẵn, màu xám nâu, có gai do cành nhỏ biến đổi. Lá mọc so le, hình bầu dục hay hình trái xoan, dài 2 – 10cm, rộng 0,8 – 5cm, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, mép có răng cưa nhỏ, mặt trên sẫm, mặt dưới nhạt có gân nổi rõ.

Cụm hoa thường mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá, hoa thường tụ họp 1 – 4 cài màu trắng, lá bắc hình tam giác có lông, đài hình chén. Quả nhỏ, hình cầu, màu đen hoặc tím nhạt. Toàn cây có lông nhỏ.

Cây canh châu được phân bố ở nhiều khu vực đặc biệt là các tỉnh thuộc Trung Quốc và Ấn Độ. Tại Việt Nam, canh chây cũng được tìm thấy rải rác ở một số địa phương. Cây canh châu thường mọc dọc theo bờ suối hoặc ven rừng, nơi có đất nâu và cát ẩm ướt, đôi khi canh châu thường mọc xen lẫn với một số cây bụi dại khác.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Cây canh châu không chỉ được trồng để làm cảnh mà còn được sử dụng để phòng, chữa bệnh

Phân bố, thu hái, chế biến cây canh châu

Cây canh châu thường mọc dọc theo bờ suối hoặc ven rừng, nơi có đất nâu và cát ẩm ướt, đôi khi canh châu thường mọc xen lẫn với một số cây bụi dại khác.

Cây canh châu được phân bố ở nhiều khu vực đặc biệt là các tỉnh thuộc Trung Quốc và Ấn Độ. Tại Việt Nam cây được trồng và mọc hoang ở các địa phương thuộc miền Bắc và miền Trung nước ta, ít thấy ở miền Nam.

Người ta thường dùng lá, cành và rễ cây canh châu để làm thuốc. Thường thu hái lá và cành tươi vào mùa xuân còn rễ cây thu hoạch vào mùa đông. Đem những lá cây, cành và rễ rửa sạch nhằm loại bỏ bụi bẩn rồi đem phơi nắng hoặc sấy khô, cất trữ và bảo quản ở những nơi khô ráo thoáng mát và nhiệt độ phòng, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Tốt nhất là nên lưu trữ dược liệu trong bao bì và đậy kín bao bì sau mỗi lần sử dụng.

Quả Canh châu có thể ăn được và được dùng như một loại trái cây thông thường. Có thể dùng cành, lá và rễ, thu hái quanh năm, đem về phơi khô hoặc sấy dùng dần. Tuy nhiên theo quan niệm dân gian, nên thu hái rễ vào mùa đông, riêng lá và cành nên thu hái vào mùa xuân hạ.

Thành phần hóa học cây canh châu

Quả

Dinh dưỡng: Độ ẩm (75.04), chất đạm thô (2.01), chất béo thô (0.84), sợi thô (3.32), tro thô (0.48) (%).

Khoáng chất: K (639.4), Ca (44.1), Mg (57.5), Na (85.1), Mn (0.8), Fe (2.1), P (84.9), Mo (1.4), B (3.6), Cu (1.6) (mg/100g trọng lượng khô).

Acid hữu cơ: Oxalic acid (51.8), Tartaric acid (594.4), Malic acid (2631.5), Lactic acid (1237.4), Citric acid (189.1), Succinic acid (576.6) (mg/100g trọng lượng khô).

Quả chứa 12 axit béo, bao gồm axit béo bão hòa và axit béo không bão hòa. Axit linoleic được phát hiện là axit béo chiếm ưu thế, tiếp theo là axit oleic và axit palmitic. Ngoài ra, lượng axit béo không no trong quả (74,96%) cao hơn so với axit béo no (25,04%) nên tỷ lệ không no so với no là 2,5.

Quả cũng chứa một lượng lớn anthocyanin. Tổng số anthocyanin được tìm thấy trong trái cây tươi là 520,8 mg/100g trọng lượng tươi, được biểu thị bằng đương lượng xyanua 3-glucoside.

Bộ phận khác

Các hợp chất có hoạt tính sinh học khác nhau như friedelin, axit synergic, beta-sitosterol, daucosterol, axit gluco-synrigic và taraxerol đã được phân lập từ các bộ phận trên mặt đất của Canh châu. Một số glycoside flavanol, cụ thể là 7-O-methylmearnsitrin, myricentrin, kaempferol 3-O-R-L-rhamonopyranoside, europetin 3-O-R-L-rhamonisde và 7-O-methyl quercetin 3-O-R-L-rhamnopyranoside đã được cô lập từ lá.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Hoa canh châu mọc thành chùm dài khoảng 2.5 – 5cm và có màu trắng xanh nhạt

Công dụng cây canh châu

Canh châu có tính mát, vị đắng, hơi chua, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, giải độc.

Trong đông y, Canh châu được dùng làm thuốc đắp vết thương tên đạn, với tên vị thuốc là Xích chu; chữa sưng mặt, sưng mình, đậu sởi, chữa tắc tia sữa hoặc lở loét không ra da gom miệng, chữa bị thương sai khớp bong gân và mụn nhọt.

Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ và lá cây được dùng trị cảm mạo, ho, viêm gan, lở ngứa và đòn ngã. Ở Quảng Tây, rễ được dùng trị ho do phế nhiệt và lá dùng ngoài trị mụn nhot sưng lở.

Tác dụng dược lý cây canh châu

Chống oxy hóa: Các phần chiết xuất từ ​​lá giàu Flavonoid thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Ngoài ra, hàm lượng anthocyanin cao trong quả có thể chứng tỏ quả nên được sử dụng như một thành phần trong chất bổ sung chống oxy hóa. Tác dụng chống oxy hóa đã được chứng minh thông qua hoạt động nhặt gốc tự do DPPH và khả năng khử Sắt.

Chống tiểu đường: Nghiên cứu cho thấy phân đoạn EtOAc từ quả thể hiện hiệu quả ức chế enzym α-glucosidase cao nhất, tiếp theo là phân đoạn nước, dịch chiết EtOH 70% và phần BuOH. Sự hiện diện ở mức độ cao của các hoạt động ức chế này trong phần EtOAc cho thấy rằng chất chiết xuất từ ​​quả S. theezans có khả năng ngăn chặn sự gia tăng Glucose sau ăn của tinh bột, cho thấy tác dụng chống tiểu đường tiềm năng.

Chống hình thành sắc tố: Phần n-hexane của quả thể hiện hoạt tính chống tạo hắc tố đáng kể trong số các phần dung môi khác nhau mà không làm giảm khả năng tồn tại của các tế bào u ác tính của chuột B16F10. Nó ngăn chặn sự biểu hiện của tyrosinase và protein liên quan đến tyrosinase 1 (TRP1). Việc giảm biểu hiện yếu tố phiên mã liên quan đến microphthalmia (MITF) được thực hiện qua trung gian bởi con đường truyền tín hiệu Akt/glycogen synthase kinase 3 beta (GSK3β), giúp thúc đẩy quá trình giảm β-catenin. Các thành phần có hoạt tính sinh học chịu trách nhiệm về hoạt tính chống tạo hắc tố được xác định là metyl linoleat và metyl linolenat.

Chống virus: Chất chiết xuất từ ​​nước của lá có hoạt tính chống virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thông qua việc ức chế Protease HIV loại 1.

Chống ung thư: Trong số các tế bào ung thư khác nhau ở người được thử nghiệm, khả năng gây độc tế bào tối đa được tìm thấy trong các tế bào ung thư vú ở người MDA-MB-231 với chiết xuất methanol, cloroform, etyl axetat, n-butanol và phần nước từ cành Canh châu.

Điều trị bằng chiết xuất lá hoặc cành Canh châu làm giảm khả năng sống sót của tế bào và gây ra quá trình chết theo chương trình trong các tế bào ung thư đại trực tràng ở người SW480. Cơ chế là gây ra sự suy giảm cyclin D1 phụ thuộc vào GSK3β và tăng biểu hiện HO-1 thông qua kích hoạt Nrf2 thông qua kích hoạt p38 phụ thuộc vào ROS, dẫn đến giảm khả năng tồn tại trong các tế bào SW480.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Cây canh châu từ lâu được y học cổ truyền sử dụng trong chữa bệnh

Bài thuốc chữa bệnh từ cây canh châu

Chữa thủy đậu: Chuẩn bị 1 nắm lá canh châu, rửa sạch với muối loãng và vớt ra rổ cho ráo nước. Vò lá nhẹ để khi nấu tiết ra nhiều tinh dầu hơn. Cho lá vào ấm sắc cùng với nửa lít nước, sắc tới khi cạn còn một nửa.Đợi nguội rồi lọc lấy nước và uống 3 lần trong ngày. Uống liên tục vài ngày để thấy hiệu quả các nốt thủy đậu sẽ lặn xuống.

Hỗ trợ điều trị bệnh sởi: Lấy 20g lá và cành cây canh châu, kết hợp với 12g săn dây cùng với hương nhu, 18g tầm gửi cây khế, cam thảo dây và hoắc hương mỗi vị 8 gram. Đem tất cả các vị thuốc rửa sạch dưới vòi nước để loại bỏ bụi bẩn và các tạp chất. Sau đó đem nấu các vị thuốc cùng với 400 ml nước, nấu cô đặc cho đến khi còn khoảng 200 ml nước. Chia phần nước thuốc vừa sắc đặc thành hai phần nhỏ để uống mỗi ngày. Kiên trì sử dụng bài thuốc này liên tục trong vòng 5 ngày hoặc cho đến khi tình trạng bệnh thuyên giảm dần. Đồng thời, có thể kết hợp cùng với việc lấy lá canh châu để nấu nước tắm hằng ngày.

Chữa ghẻ lở, ghẻ nước: Sử dụng một nắm cành và lá cây canh châu, sau đó đem rửa sạch bằng nước để loại bỏ bụi bẩn rồi nấu cô đặc, lấy phần nước rửa lên vùng da nổi ghẻ lở. Áp dụng bài thuốc cho đến khi tình trạng bệnh dần cải thiện.

Chữa vết thương chảy máu: Chuẩn bị lá chanh châu, lá đuôi tôm mỗi thứ 1 nắm nhỏ tầm 20g, đinh hương 1 nụ. Đem tất cả rửa sạch, để ráo nước và giã nhỏ đắp vào vết thương. Ngày có thể đổi lá thuốc vài lần, đắp 2 – 3 ngày cho vết thương liền miệng thì thôi.

Trà canh châu giúp giải khát và phòng ngừa sởi: Chuẩn bị lá vối và canh châu. Sắc lấy nước uống hằng ngày.

Chữa rôm sảy, mụn nhọt do nóng trong người: Lấy 24g cả lá, cành và rễ rồi thêm vào 20g mỗi loại các dược liệu: hạ khô thảo, rễ cây cỏ xước, bồ công anh, 10 gam lá đơn đỏ. Bạn lấy tất cả những dược liệu này, đem đi rửa sạch rồi bỏ vào nồi, thêm 750ml nước, sắc lên. Nên uống hỗn hợp này ngay khi chúng còn ấm và uống với liều lượng 2 lần/ngày.

Bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây canh châu
Lá của canh châu được sử dụng để phòng ngừa và điều trị bệnh sởi, ngứa da do ghẻ nước, rôm sảy,…

Thúc sởi mọc nhanh: Chuẩn bị 30 gram rễ cây canh châu hoặc 40 gram lá cây canh châu, đem rửa sạch dược liệu để thải bỏ tạp chất rồi thái thành từng đoạn nhỏ. Sau đó, sắc các vị thuốc trên cùng với 500 ml nước lọc, sắc cô đặc cho đến khi thuốc còn khoảng 300 ml nước. Chia phần thuốc đã cô đặc thành 3 phần nhỏ để uống trong ngày. Lưu ý, uống thuốc ngay khi thuốc còn nóng, nếu thuốc đã nguội thì cần hâm hóng lại trước khi sử dụng.

Chữa vết thương lâu liền miệng (dùng với vết thương nhỏ và không quá sâu): Dùng lá canh châu, lá thồm lồm (lượng bằng nhau), đinh hương một nụ. Rửa sạch tất cả dược liệu, để ráo nước rồi giã nát đắp vào vết thương. Thực hiện đến khi vết thương liền miệng thì ngưng.

Lưu ý khi sử dụng cây canh châu

Ngoài việc sử dụng đúng thuốc, đúng liều lượng, người đọc cần lưu ý đến các vấn đề khi sử dụng các bài thuốc từ Canh châu như:

Những trường hợp bị dị ứng hoặc quá mẫn cảm với một số thành phần có trong dược liệu của cây canh châu.

Những trường hợp người bệnh bị tỳ vị hư hạn, đại tiện phân lỏng không được các bài thuốc từ cây canh châu.

Tóm lại, cây canh châu là vị thuốc đông y được sử dụng khá phổ biến trong các bài thuốc y học cổ truyền, với công dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết. Tuy nhiên, công dụng chữa bệnh của cây canh châu chưa được giới y học hiện đại nghiên cứu và đưa ra công bố. Do đó, người bệnh không tự ý sử dụng các bài thuốc từ cây canh châu khi chưa có sự đồng ý của bác sĩ./.

Thúy Hà (t/h)
https://suckhoeviet.org.vn

Cùng chuyên mục

Sơn tra - Dược liệu dân dã hỗ trợ tiêu hóa và khí huyết

Sơn tra - Dược liệu dân dã hỗ trợ tiêu hóa và khí huyết

Sơn tra là một vị thuốc quý trong kho tàng y học cổ truyền, thường được biết đến không chỉ như một loại quả ăn được mà còn là dược liệu đem lại giá trị bồi bổ sức khỏe toàn diện. Từ lâu, nhân dân ta đã sử dụng sơn tra trong các bài thuốc điều trị rối loạn tiêu hóa, hỗ trợ tim mạch và nâng cao thể trạng.
Thuyền thoái (xác ve sầu) – Dược liệu tán phong nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ trị ho khàn tiếng và bệnh ngoài da

Thuyền thoái (xác ve sầu) – Dược liệu tán phong nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ trị ho khàn tiếng và bệnh ngoài da

Thuyền thoái là phần xác lột của ve sầu, được sử dụng khá phổ biến trong y học cổ truyền. Theo Đông y, vị thuốc này có tác dụng giải biểu nhiệt, tuyên phế, tán phong nhiệt, tiêu viêm, thường được dùng trong các chứng sốt cao co giật, đau đầu chóng mặt do phong nhiệt, khàn tiếng – mất tiếng, mày đay, mụn nhọt, ban chẩn và một số bệnh lý da liễu khác.
Huyết kiệt – dược liệu giúp hoạt huyết, cầm máu, giúp vết thương nhanh lên da non

Huyết kiệt – dược liệu giúp hoạt huyết, cầm máu, giúp vết thương nhanh lên da non

Trong kho dược liệu Đông y, Huyết kiệt được nhận diện rất đặc trưng: một loại nhựa khô màu đỏ như máu, giòn, dễ vỡ, thường được dùng với mục đích hoạt huyết – tán ứ, sinh tân, giảm đau và hỗ trợ hồi phục da. Từ những vết bầm tím do chấn thương, tụ máu sưng đau, đến các tình trạng xuất huyết ngoài da, mụn nhọt lở loét… Huyết kiệt xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian và y học cổ truyền như một “vị thuốc cầm máu – liền da” quen thuộc.
Gai dầu (cần sa) trong y học cổ truyền: Ranh giới mong manh giữa vị thuốc và hiểm họa

Gai dầu (cần sa) trong y học cổ truyền: Ranh giới mong manh giữa vị thuốc và hiểm họa

Gai dầu – còn gọi là cần sa – được nhắc đến trong y học cổ truyền thông qua hạt Hỏa ma nhân với công dụng nhuận tràng, hỗ trợ tiêu hóa. Tuy nhiên, đây cũng là dược liệu tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu sử dụng sai cách. Việc hiểu đúng bản chất, công dụng và giới hạn an toàn của gai dầu là điều cần thiết để tránh những hệ lụy khó lường cho sức khỏe.
Giá trị của cây bình vôi trong kho tàng y học cổ truyền

Giá trị của cây bình vôi trong kho tàng y học cổ truyền

Trong kho tàng dược liệu truyền thống của người Việt, cây bình vôi là một vị thuốc quen thuộc. Bình vôi được y học cổ truyền ghi nhận với nhiều công dụng quý, đặc biệt trong hỗ trợ an thần, cải thiện giấc ngủ và điều hòa khí huyết.
Bất ngờ với lợi ích sức khỏe của lá ớt

Bất ngờ với lợi ích sức khỏe của lá ớt

Trong đời sống, cây ớt không chỉ được biết đến với quả cay nồng mà lá ớt cũng là một vị thuốc quen thuộc, gắn liền với nhiều bài thuốc dân gian. Theo y học cổ truyền, lá ớt mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nếu được sử dụng đúng cách và hợp lý.

Các tin khác

Hồi đầu thảo – dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày

Hồi đầu thảo – dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày

Hồi đầu thảo là một dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền, có tính bình, vị đắng, thường được sử dụng trong các bài thuốc hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày, trị mụn nhọt, viêm gan mạn tính và một số chứng bệnh do khí huyết ứ trệ. Việc sử dụng hồi đầu thảo đúng cách, đúng liều lượng được cho là mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt với phụ nữ.
Ban hành phác đồ điều trị 16 bệnh phổ biến: Kết hợp tinh hoa y học cổ truyền và hiện đại

Ban hành phác đồ điều trị 16 bệnh phổ biến: Kết hợp tinh hoa y học cổ truyền và hiện đại

Bộ Y tế vừa ban hành 16 bài hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh theo y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Đây là căn cứ để các cơ sở y tế trên toàn quốc xây dựng hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền và hiện đại tại đơn vị.
Dế – “vị thuốc” dân gian trong Đông y: Công dụng, cách dùng và những lưu ý an toàn

Dế – “vị thuốc” dân gian trong Đông y: Công dụng, cách dùng và những lưu ý an toàn

Tóm tắt: Không chỉ là loài côn trùng quen thuộc ở đồng ruộng, dế (dế mèn, dế dũi…) từ lâu còn được ghi nhận trong y học cổ truyền như một dược liệu có tính hàn, vị mặn, thường được dân gian ứng dụng để hỗ trợ bí tiểu, sỏi đường tiết niệu, táo bón và một số trường hợp sinh khó.
Xịt xoang Triệu Minh – Bài thuốc từ tình thương và trí tuệ

Xịt xoang Triệu Minh – Bài thuốc từ tình thương và trí tuệ

Trong dòng chảy hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ, giữa bộn bề của cuộc sống đô thị nơi con người ngày càng xa rời với thiên nhiên và cội nguồn vẫn còn đó những con người lặng thầm bền bỉ gìn giữ những giá trị cổ truyền dân tộc – không chỉ bằng tri thức mà bằng cả tâm nguyện và lòng từ bi. Một trong những hình ảnh đáng kính ấy là sư thầy Thích Đàm Thái – một nữ tu người dân tộc Dao, hiện đang trụ trì tại chùa Quang Phúc (Phường Thanh Liệt, Thành phố Hà Nội), tác giả bài thuốc gia truyền “Xịt xoang Triệu Minh”.
Cát sâm – “Sâm nam” mộc mạc và giá trị bền vững trong y học cổ truyền

Cát sâm – “Sâm nam” mộc mạc và giá trị bền vững trong y học cổ truyền

Trong kho tàng dược liệu phong phú của y học cổ truyền Việt Nam, cát sâm là một vị thuốc quen thuộc nhưng không phô trương, được dân gian tin dùng từ lâu đời nhờ tính mát, dễ sử dụng và khả năng bồi bổ cơ thể một cách bền bỉ. Dược liệu này thường xuất hiện trong các bài thuốc thanh nhiệt, bổ tỳ phế, trị ho nhiều đờm, nhức đầu, bí tiểu và hỗ trợ phục hồi thể trạng cho người suy nhược.
Cây nắp ấm – Từ loài cây bắt mồi đến vị thuốc Đông y quen thuộc

Cây nắp ấm – Từ loài cây bắt mồi đến vị thuốc Đông y quen thuộc

Không chỉ được biết đến như một loài cây cảnh độc đáo có khả năng bắt côn trùng, cây Nắp ấm (còn gọi là cây Bình nước) từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền như một vị thuốc thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý thường gặp. Trong bối cảnh xu hướng quay trở lại với thảo dược tự nhiên ngày càng rõ nét, Nắp ấm đang dần được nhìn nhận lại dưới góc độ dược liệu có giá trị.
Cây đuôi công – Dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều trị đau nhức, bong gân

Cây đuôi công – Dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều trị đau nhức, bong gân

Từ lâu trong dân gian và y học cổ truyền, cây đuôi công đã được biết đến như một loại dược liệu có thể hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý như đau nhức xương khớp, bong gân, phong thấp, mát gan, giảm đau dạ dày. Với hình dáng đẹp, màu hoa nổi bật, cây đuôi công vừa được trồng làm cảnh, vừa được khai thác làm thuốc. Tuy nhiên, đây là vị thuốc có độc tính, đòi hỏi người sử dụng phải hiểu rõ đặc điểm, công dụng và những lưu ý quan trọng trước khi áp dụng.
Cao ban long – Dược liệu quý cổ truyền, dùng đúng cách để phát huy giá trị bồi bổ

Cao ban long – Dược liệu quý cổ truyền, dùng đúng cách để phát huy giá trị bồi bổ

Trong kho tàng y học cổ truyền, cao ban long được xếp vào nhóm dược liệu quý, thường xuất hiện trong các bài thuốc bồi bổ cơ thể, hỗ trợ xương khớp, sinh tinh và nâng cao thể trạng. Tuy nhiên, cũng như nhiều vị thuốc bổ khác, cao ban long không phải ai dùng cũng phù hợp, việc sử dụng cần đúng liều, đúng đối tượng và có hiểu biết đầy đủ để đảm bảo an toàn, hiệu quả.
Màng tang – Dược liệu giàu tinh dầu, hỗ trợ tiêu hóa và giảm đau

Màng tang – Dược liệu giàu tinh dầu, hỗ trợ tiêu hóa và giảm đau

Trong kho tàng dược liệu Đông y, màng tang là loại cây được đánh giá cao nhờ hàm lượng tinh dầu dồi dào, mang lại nhiều tác dụng dược lý quan trọng. Từ lâu, dược liệu này đã được sử dụng để hỗ trợ điều trị đầy hơi, tiêu chảy, đau bụng kinh niên, phong thấp, đau nhức xương khớp, phù chân kéo dài. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả và đảm bảo an toàn, người dùng cần hiểu rõ đặc điểm, công dụng cũng như cách sử dụng đúng của vị thuốc này.
Ý dĩ: Từ bài thuốc dân gian đến những lưu ý khoa học cho người dùng

Ý dĩ: Từ bài thuốc dân gian đến những lưu ý khoa học cho người dùng

Trong kho tàng dược liệu Đông y, ý dĩ là cái tên quen thuộc, xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian và y thư cổ. Không chỉ được biết đến với công dụng hỗ trợ điều trị ho, phong thấp, sỏi tiết niệu, ý dĩ còn được nhiều người truyền tai nhau như một “bí quyết” giúp làm đẹp da, giảm cân. Tuy nhiên, các thầy thuốc Đông y đều khuyến cáo: ý dĩ là vị thuốc, không phải thực phẩm dùng tùy tiện, nếu lạm dụng hoặc dùng sai cách có thể gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.
Xem thêm
Gala Chào xuân 2026 - “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II: Diễn đàn kết nối tri thức và tôn vinh thương hiệu Việt

Gala Chào xuân 2026 - “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II: Diễn đàn kết nối tri thức và tôn vinh thương hiệu Việt

Tại Trường Đại học Nam Cần Thơ, Gala Chào xuân 2026 – “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II quy tụ đại diện Hội Nam Y Việt Nam, giới chuyên gia, doanh nghiệp và các đơn vị đồng hành trong không khí trang trọng, ấm áp.
Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Ngày 14/01/2026, thực hiện kế hoạch hoạt động Quý I/2026, Chi hội Nam y tỉnh An Giang phối hợp Hội Chữ thập đỏ xã Thường Phước (tỉnh Đồng Tháp) tổ chức chương trình khám bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho 200 người dân địa phương.
Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Thực hiện chương trình công tác năm 2025, Chi hội Nam y tỉnh An Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động vào ngày 03/01/2025 tại phường Tân Châu, tỉnh An Giang.
Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Năm 2025 ghi dấu một giai đoạn hoạt động sôi động, nhiều điểm nhấn của Hội Nam y Việt Nam trong bối cảnh phong trào bảo tồn, phát triển y học cổ truyền và Nam y tiếp tục nhận được sự quan tâm của xã hội.
Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

(SKV) - Trong không khí trang trọng và phấn khởi, sáng ngày 21/12 Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập gắn với Hội thảo khoa học “Kế thừa, phát huy di sản Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh trong nghiên cứu và phát triển Y Dược học cổ truyền”. Sự kiện là dấu mốc quan trọng, nhìn lại chặng đường hình thành – phát triển của Viện, đồng thời mở ra những định hướng mới cho y dược học cổ truyền Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và đổi mới.
Phiên bản di động