Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

Nhiễm trùng huyết là bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, có tỉ lệ tử vong cao. Đặc điểm lâm sàng của bệnh biểu hiện đa dạng. Cần biết các tác nhân gây nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS giúp tiếp cận và chọn lựa điều trị ban đầu.

Đặt vấn đề: Nhiễm trùng huyết là bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, có tỉ lệ tử vong cao. Đặc điểm lâm sàng của bệnh biểu hiện đa dạng. Cần biết các tác nhân gây nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS giúp tiếp cận và chọn lựa điều trị ban đầu.

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết cục điều trị bệnh nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả các bệnh nhân nhiễm trùng huyết, có kết quả cấy máu dương tính tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới..

Kết quả nghiên cứu: Trong 184 bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết, giới nam chiếm đa số, bệnh nhân giai đoạn AIDS chiếm 87,2%. Các triệu chứng lâm sàng đa dạng, có thể chồng lấp. Tác nhân gây bệnh thường gặp là vi nấm (51,6%), vi trùng (48,4%), đa tác nhân (6%). Vi khuẩn gram dương thường gặp là S. aureus, Streptococcus spp; vi khuẩn gram âm: Salmonella spp, E. coli, K. pneumoniae; vi nấm: C. neoformans, T.marneff ei. Tỉ lệ tử vong: 35,5%,.

Kết luận: Nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS là một bệnh thường gặp, tỉ lệ tử vong cao. Tác nhân vi nấm chiếm nhiều nhất, vi trùng có khuynh hướng gia tăng ngang bằng với vi nấm.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh cảnh lâm sàng của nhiễm trùng huyết trên cơ địa bị ức chế miễn dịch như nhiễm HIV/AIDS có thể không điển hình. Cơ địa người nhiễm HIV/ AIDS có thể dễ bị nhiễm một số tác nhân vi khuẩn, vi rút hoặc nấm khác so với cơ địa người không nhiễm, đòi hỏi sự thay đổi về lựa chọn thuốc điều trị đặc hiệu. Trong khoảng năm 2009 - 2019, tình hình nhiễm HIV/AIDS và phác đồ điều trị đã có nhiều thay đổi (1). Điều đó có thể làm giảm đi số lượng các bệnh nhân nhiễm HIV vào giai đoạn AIDS. Trong bối cảnh này, có thể có sự thay đổi trong bệnh cảnh lâm sàng và phổ tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, các tác nhân gây bệnh và kết quả điều trị ở bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết; với mong muốn đóng góp vào kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị, kế hoạch lựa chọn kháng sinh ban đầu phù hợp, cải thiện tỉ lệ tử vong cho bệnh nhân HIV/AIDS.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh nhân nhiễm trùng huyết cơ địa nhiễm HIV/AIDS.

2. Mô tả các tác nhân gây nhiễm trùng huyết thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

Dân số đích: Bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết do vi trùng. Dân số nghiên cứu: Bệnh nhân nhiễm HIV mắc nhiễm trùng huyết, có kết quả cấy máu dương tính, điều trị tại Khoa Nhiễm E, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trong thời gian thu nhận mẫu.

Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân đạt đủ các tiêu chuẩn: người lớn (≥15 tuổi), được chẩn đoán xác định nhiễm HIV/AIDS theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế, có kết quả cấy máu dương tính. Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào NC, cấy máu ngoại nhiễm.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả.

Thời gian nghiên cứu: tháng 06/2021 đến tháng 05/2021. Cỡ mẫu: Ước tính cỡ mẫu (số bệnh nhân nhiễm trùng huyết có cấy máu dương tính) theo công thức: n=Z2(1- α/2) (p( 1-p))/ε2. Chọn p = 15,2% (tỉ lệ cấy máu dương tính ở BN nhiễm HIV/ AIDS của Nguyễn Lê Như Tùng 2009), sai số: 6%, độ tin cậy 95%. Vậy cỡ mẫu ước tính: 137 ca.

Phương pháp thống kê: Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Cách tiến hành: thu thập số liệu về yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục điều trị của các bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu nhập viện từ tháng 6/2020 - tháng 5/2021.

Kỹ thuật đo lường biến số

Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu, được thực hiện tại phòng xét nghiệm của bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Kỹ thuật cấy máu và xác định tác nhân gây bệnh: Cấy máu áp dụng kỹ thuật cấy máu bằng chai cấy máu tự động (BACTEC 9240, Bact/ ALERT 3D). Sau khi có kết quả cấy dương tính, mẫu máu sẽ được cấy chuyển lên thạch và định danh bằng phương pháp sinh hóa thường quy hoặc bằng phương pháp MALDI- TOF.

Y đức: Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của bệnh viện Bệnh Nhiệt đới thông qua theo số 1584/QĐ – BVBNĐ (ngày 10 tháng 09 năm 2020).

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

KẾT QUẢ

Từ tháng 6/2020 đến tháng 5/2021, tổng cộng có 184 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu

Kết quả phân lập chung

Có 77 bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn (41,8%), 96 bệnh nhân nhiễm vi nấm (52,2%) và có 11 bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân (6%). Trong số 184 bệnh nhân, có 195 mẫu máu dương tính. Tác nhân vi khuẩn gram dương chiếm 36 ca (18,5%), vi khuẩn gram âm: 57 ca (29,2%), nấm: 101 ca (51,8%), 1 trường hợp vi khuẩn kháng acid - cồn.

Bảng 1: Đặc điểm của bệnh nhân nhiễm trùng huyết theo nhóm tác nhân gây bệnh (n = 184)

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

(Phép kiểm chi bình phương, a: phép kiểm Mann - Whitney. *: không thỏa điều kiện phép kiểm chi bình phương.)

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh.

Sốt là triệu chứng thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ 92,4%. Số ngày sốt trung vị là 10 ngày (1 - 90 ngày). Có sự khác biệt giữa thời gian sốt của các nhóm vi khuẩn và vi nấm: tác nhân vi khuẩn là 5 ngày (0 - 90 ngày), thấp hơn so với của vi nấm là 14 ngày (1 - 60 ngày) (phép kiểm Mann - Whitney, độ tin cậy 95%, p < 0,005). (Bảng 1)

Đặc điểm vi sinh của các tác nhân gây bệnh

Có sự khác biệt về thời gian trung vị cấy máu dương tính ở các tác nhân (p < 0,05 với độ tin cậy 95%): nhóm vi khuẩn là 17 giờ (4 - 48 giờ), nhóm vi nấm là 63 giờ (13 - 215 giờ). 1 ca cấy máu trực khuẩn kháng acid cồn, thời gian cấy dương là 377 giờ (biểu đồ 3.3).

Biểu đồ 1: Thời gian cấy máu dương tính các mẫu bệnh phẩm (n = 195)

(Phép kiểm Kruskal - Wallis)
(Phép kiểm Kruskal - Wallis)

Có 77 bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn, 96 bệnh nhân nhiễm vi nấm và có 11 bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân.

Bảng 2. Kết quả định danh tác nhân gây nhiễm trùng huyết (n = 194) *

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

(a : 3 trường hợp S. pneumoniae, các tác nhân còn lại ca: S. salivarius, S.agalactiae, S.dysgalactae, S.oralis , S.parasangunis, S.pyogenes, S.sanguinis; b : V. albensis (1 ca) và V. vulnificus (1 ca); c : Candida tropicalis (1 ca) và Candida colliculosa (1 ca). * : 1 trường hợp vi khuẩn kháng acid cồn nhưng không định danh được với năng lực phòng vi sinh hiện tại).

Kết cục điều trị

Bảng 4. Kết quả điều trị của bệnh nhân nhiễm trùng huyết

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

Tỉ lệ tử vong chung của bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS bị nhiễm trùng huyết là 35,3%. Ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân, tỉ lệ tử vong cao nhất, tỉ lệ 63,6%.

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

BÀN LUẬN

Nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS là bệnh lý thường gặp, khiến bệnh nhân nhập viện. Sốt là triệu chứng gặp nhiều nhất ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết, Thời gian sốt có thể là một dấu hiệu gợi ý giúp phân biệt tác nhân gây nhiễm trùng huyết do vi trùng hay vi nấm. Triệu chứng nhiễm trùng huyết của bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS rất đa dạng, bệnh nhân thường có nhiều triệu chứng chồng lấp với nhau. Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm triệu chứng đường hô hấp và tiêu hóa ở các nhóm bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn và vi nấm (bảng 1).

Có sự khác biệt về kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi so với các nghiên cứu khác. Cụ thể, kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi có sự thay đổi khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Như Tùng(2), thực hiện tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ năm 2005 - 2006. Kết quả cho thấy, tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn cao hơn so với nhiễm trùng huyết do vi nấm (48,2% so với 21,8%). Có sự xuất hiện của tác nhân vi khuẩn kháng acid - cồn (trong nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được 1 trường hợp/ 195 mẫu cấy máu. Tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn trên bệnh nhân HIV/AIDS của chúng tôi cũng gần tương đồng với nghiên cứu của Sasisopin Kiertiburanakul(3) thực hiện tại Thái Lan vào năm 2004 - 2008, thấp hơn so với nghiên cứu của L.Taramasso thực hiện tại Ý từ năm 2008 - 2015(4).

Có sự khác biệt về kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi so với các nghiên cứu khác. Cụ thể, kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi có sự thay đổi khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Như Tùng(2), thực hiện tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ năm 2005 - 2006. Kết quả cho thấy, tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn cao hơn so với nhiễm trùng huyết do vi nấm (48,2% so với 21,8%). Có sự xuất hiện của tác nhân vi khuẩn kháng acid - cồn (trong nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được 1 trường hợp/ 195 mẫu cấy máu. Tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn trên bệnh nhân HIV/AIDS của chúng tôi cũng gần tương đồng với nghiên cứu của Sasisopin Kiertiburanakul(3) thực hiện tại Thái Lan vào năm 2004 - 2008, thấp hơn so với nghiên cứu của L.Taramasso thực hiện tại Ý từ năm 2008 - 2015(4).

Sự thay đổi về t ỉ lệ tác nhân gây bệnh của chúng tôi so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Như Tùng(2) có thể do một số lý do sau đây. Thứ nhất, có sự thay đổi đối tượng bắt đầu điều trị ARV từ năm 2017: tất cả bệnh nhân mới được chẩn đoán HIV, bất kể giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào lympho T CD4 đều có chỉ định điều trị ARV. Điều này sẽ khiến giảm bớt số lượng bệnh nhân vào giai đoạn AIDS (yếu tố nguy cơ để khiến bệnh nhân nhiễm nấm huyết). Thứ hai, có sự chỉ định của dự phòng thuốc kháng nấm ở các hướng dẫn mới gần đây, do đó có thể làm giảm số lượng bệnh nhân nhiễm nấm huyết nhập viện. Do đó, trong các nghiên cứu về nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS trong kỷ nguyên của chiến lược điều trị ARV gần đây, tác nhân gây bệnh là vi khuẩn chiếm ưu thế (3,4).

Trong nghiên cứu của chúng tôi có ghi nhận được 1 trường hợp cấy máu phân lập được trực khuẩn kháng acid - cồn. Trong khi ở Ý hoặc Thái Lan(3,4), số lượng cấy máu phân lập vi khuẩn kháng acid - cồn cao hơn 10,9% (ở Ý) và 20,1% (Thái Lan). Sự khác biệt này có thể do ở bệnh viện Bệnh Nhiệt đới chưa triển khai môi trường cấy chuyên biệt để phân lập được tác nhân này, do đó chưa thể phát hiện ra số lượng ca nhiễm trùng huyết do vi khuẩn kháng acid - cồn chính xác (5). Salmonella spp là tác nhân gây nhiễm trùng huyết vi khuẩn gram âm thường gặp nhất ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS ở các quốc gia Đông Nam Á (3). Trong khi ở các quốc gia Châu Âu như Ý, E. coli là tác nhân gây nhiễm trùng huyết hàng đầu. Bên cạnh đó, các tác nhân khác cũng chiếm tỉ lệ đáng kể gây bệnh ở người nhiễm HIV/ AIDS như nhóm trực khuẩn gram âm đường ruột (K. pneumoniae)(4).

Tác nhân vi nấm gây nhiễm trùng huyết hàng đầu ở b ệnh nhân nhiễm HIV/AIDS qua các nghiên cứu là C. neoformans, đặc biệt ở các quốc gia Châu Á, khi tỉ lệ người được điều trị ARV còn chưa cao. Tỉ lệ nhiễm nấm huyết của tác giả L.Taramasso (2008 - 2015) rất thấp, chỉ khoảng 10,9%. Trong số đó, chủ yếu là nấm Candida, khác với so với các nghiên cứu ở Việt Nam và Đông Nam Á (3). Ở Ý, bệnh nhân nhiễm HIV được phát hiện và điều trị sớm cao, do đó, số lượng bệnh nhân nhập viện trong tình trạng AIDS thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi. Bệnh nhân nhiễm nấm huyết chủ yếu là nhiễm nấm Candida, một tác nhân gây nhiễm trùng huyết liên quan đến chăm sóc y tế, cơ địa giảm bạch cầu hạt, có thực hiện nhiều thủ thuật xâm lấn (6). Đây có thể là một sự thay đổi về tác nhân vi nấm gây bệnh trong kỷ nguyên của điêu trị ARV, khi số lượng bệnh nhân nhiễm nấm huyết do các tác nhân gây bệnh trên bệnh nhân AIDS kinh điển như C. neoformans hay T. marneffei giảm dần, những tác nhân gây bệnh liên quan đến chăm sóc y tế sẽ dần nổi trội hơn như Candida spp.

Về kết quả điều trị, có 51,6% bệnh nhân trong nghiên cứu nhập ICU; 35,3% bệnh nhân tử vong. Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân HIV/AIDS là một bệnh nặng, nguy cơ tử vong cao. Do đó, cần có nhiều những nổ lực trong vấn đề chẩn đoán và điều trị bệnh nhân nhiễm trùng huyết để giảm tỉ lệ tử vong trên nhóm bệnh nhân đặc biệt này.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS là bệnh lý nặng, biểu hiện lâm sàng đa dạng, tỉ lệ tử vong cao (35,5%). Tác nhân vi nấm chiếm nhiều nhất, tuy nhiên các tác nhân vi khuẩn có xu hướng gia tăng. Để tối ưu khả năng phân lập được tác nhân, việc cấy máu ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nghi ngờ nhiễm trùng huyết, có thể áp dụng các kỹ thuật như MYCO/FLytic medium (BACTEC), BacT/ALERT MB (bằng chai cấy máu BACTEC Plus Aerobic/F, BT/ALERT MB), hoặc các hệ thống nuôi cấy có sử dụng hệ thống ly tâm cô lập để có thể giảm thời gian cấy máu dương tính hoặc tăng khả năng phát hiện các tác nhân khác (7),(8),(9).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Y T. HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC HIV/AIDS, 2019: Quyết định số 5456/ QĐ-BYT ngày 20/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội, pp. 15.

2. Nguyễn Lê Như T (2009). Đặc điểm nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí MInh.

3. Kiertiburanakul S, Watcharatipagorn S, Chongtrakool P, Santanirand P (2012). Epidemiology of bloodstream infections and predictive factors of mortality among HIVinfected adult patients in Thailand in the era of highly active antiretroviral therapy. Jpn J Infect Dis, 65 (1): 28-32.

4. Taramasso L, Tatarelli P, Di Biagio A (2016). Bloodstream infections in HIV-infected patients. Virulence, 7 (3): 320-8.

5. Ceia F, Santos-Silva A, Alves J, Silva-Pinto A, Oliveira O, et al (2019). Mycobacterial blood cultures in the diagnosis of tuberculosis in human immunodeficiency virus-infected patients: are they useful? Clin Microbiol Infect, 25 (2): 264-265.

6. Pappas P G, Kauffman C A, Andes D R, Clancy C J, Marr K A, et al (2016). Clinical Practice Guideline for the Management of Candidiasis: 2016 Update by the Infectious Diseases Society of America. Clin Infect Dis, 62 (4): e1-50.

7. Gary V D. Detection of bacteremia: Blood cultures and other diagnostic tests. 2021 [cited 17/08/2021; Available from: https:// www.uptodate.com/contents/detectionof-bacteremia-blood-cultures-and-otherdiagnostic-tests?search=Detection%20 of%20bacteremia:%20Blood%20 cultures%20and%20other%20 diagnostic%20tests&source=search_ result&selectedTitle=1~150&usage_ type=default&display_rank=1.

8. Arendrup M C, Boekhout T, Akova M, Meis J F, Cornely O A, et al (2014). ESCMID and ECMM joint clinical guidelines for the diagnosis and management of rare invasive yeast infections. Clin Microbiol Infect, 20 Suppl 376-98.

9. Ellen Jo Baron P D (2005). Cumitech #1c Blood Cultures IV. American Society for Microbiology.

Hồ Quang Minh, Lê Thị Dưng, Nguyễn Thị Ngọc Thanh, Lê Thị Quỳnh Ngân, Nguyễn Thị Thu Yến, Nguyễn Hữu Hiền, Nguyễn Đình Hiếu, Đào Thị Thanh Huyến, Đặng Thị Hồng Mụi, Trần Lệ Hằng Nga, Đường Ngọc Lan/BV Nhiệt đới; Võ Triều Lý/ ĐH Y dược TP.HCM
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Châu Âu phê duyệt thuốc tiêm ngừa HIV dùng 6 tháng/lần

Châu Âu phê duyệt thuốc tiêm ngừa HIV dùng 6 tháng/lần

Lenacapavir - loại thuốc tiêm do Công ty Gilead Sciences (Mỹ) phát triển - đã được Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA) khuyến nghị phê duyệt, mở ra hy vọng thay đổi cục diện phòng chống HIV trên toàn cầu.
Đảm bảo chất lượng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV tại An Giang

Đảm bảo chất lượng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV tại An Giang

Sở Y tế An Giang vừa ban hành Công văn số 1481/SYT-NVY về việc tăng cường triển khai hoạt động, đảm bảo chất lượng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV (PrEP).
Loại bỏ virus HIV khỏi tế bào: Bước tiến trong việc điều trị căn bệnh thế kỷ

Loại bỏ virus HIV khỏi tế bào: Bước tiến trong việc điều trị căn bệnh thế kỷ

Mới đây, các nhà khoa học đã thử nghiệm thành công việc loại bỏ virus HIV khỏi tế bào.

Cùng chuyên mục

Sơn tra - Dược liệu dân dã hỗ trợ tiêu hóa và khí huyết

Sơn tra - Dược liệu dân dã hỗ trợ tiêu hóa và khí huyết

Sơn tra là một vị thuốc quý trong kho tàng y học cổ truyền, thường được biết đến không chỉ như một loại quả ăn được mà còn là dược liệu đem lại giá trị bồi bổ sức khỏe toàn diện. Từ lâu, nhân dân ta đã sử dụng sơn tra trong các bài thuốc điều trị rối loạn tiêu hóa, hỗ trợ tim mạch và nâng cao thể trạng.
Thuyền thoái (xác ve sầu) – Dược liệu tán phong nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ trị ho khàn tiếng và bệnh ngoài da

Thuyền thoái (xác ve sầu) – Dược liệu tán phong nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ trị ho khàn tiếng và bệnh ngoài da

Thuyền thoái là phần xác lột của ve sầu, được sử dụng khá phổ biến trong y học cổ truyền. Theo Đông y, vị thuốc này có tác dụng giải biểu nhiệt, tuyên phế, tán phong nhiệt, tiêu viêm, thường được dùng trong các chứng sốt cao co giật, đau đầu chóng mặt do phong nhiệt, khàn tiếng – mất tiếng, mày đay, mụn nhọt, ban chẩn và một số bệnh lý da liễu khác.
Huyết kiệt – dược liệu giúp hoạt huyết, cầm máu, giúp vết thương nhanh lên da non

Huyết kiệt – dược liệu giúp hoạt huyết, cầm máu, giúp vết thương nhanh lên da non

Trong kho dược liệu Đông y, Huyết kiệt được nhận diện rất đặc trưng: một loại nhựa khô màu đỏ như máu, giòn, dễ vỡ, thường được dùng với mục đích hoạt huyết – tán ứ, sinh tân, giảm đau và hỗ trợ hồi phục da. Từ những vết bầm tím do chấn thương, tụ máu sưng đau, đến các tình trạng xuất huyết ngoài da, mụn nhọt lở loét… Huyết kiệt xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian và y học cổ truyền như một “vị thuốc cầm máu – liền da” quen thuộc.
Gai dầu (cần sa) trong y học cổ truyền: Ranh giới mong manh giữa vị thuốc và hiểm họa

Gai dầu (cần sa) trong y học cổ truyền: Ranh giới mong manh giữa vị thuốc và hiểm họa

Gai dầu – còn gọi là cần sa – được nhắc đến trong y học cổ truyền thông qua hạt Hỏa ma nhân với công dụng nhuận tràng, hỗ trợ tiêu hóa. Tuy nhiên, đây cũng là dược liệu tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu sử dụng sai cách. Việc hiểu đúng bản chất, công dụng và giới hạn an toàn của gai dầu là điều cần thiết để tránh những hệ lụy khó lường cho sức khỏe.
Giá trị của cây bình vôi trong kho tàng y học cổ truyền

Giá trị của cây bình vôi trong kho tàng y học cổ truyền

Trong kho tàng dược liệu truyền thống của người Việt, cây bình vôi là một vị thuốc quen thuộc. Bình vôi được y học cổ truyền ghi nhận với nhiều công dụng quý, đặc biệt trong hỗ trợ an thần, cải thiện giấc ngủ và điều hòa khí huyết.
Bất ngờ với lợi ích sức khỏe của lá ớt

Bất ngờ với lợi ích sức khỏe của lá ớt

Trong đời sống, cây ớt không chỉ được biết đến với quả cay nồng mà lá ớt cũng là một vị thuốc quen thuộc, gắn liền với nhiều bài thuốc dân gian. Theo y học cổ truyền, lá ớt mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nếu được sử dụng đúng cách và hợp lý.

Các tin khác

Hồi đầu thảo – dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày

Hồi đầu thảo – dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày

Hồi đầu thảo là một dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền, có tính bình, vị đắng, thường được sử dụng trong các bài thuốc hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày, trị mụn nhọt, viêm gan mạn tính và một số chứng bệnh do khí huyết ứ trệ. Việc sử dụng hồi đầu thảo đúng cách, đúng liều lượng được cho là mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt với phụ nữ.
Ban hành phác đồ điều trị 16 bệnh phổ biến: Kết hợp tinh hoa y học cổ truyền và hiện đại

Ban hành phác đồ điều trị 16 bệnh phổ biến: Kết hợp tinh hoa y học cổ truyền và hiện đại

Bộ Y tế vừa ban hành 16 bài hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh theo y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Đây là căn cứ để các cơ sở y tế trên toàn quốc xây dựng hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền và hiện đại tại đơn vị.
Dế – “vị thuốc” dân gian trong Đông y: Công dụng, cách dùng và những lưu ý an toàn

Dế – “vị thuốc” dân gian trong Đông y: Công dụng, cách dùng và những lưu ý an toàn

Tóm tắt: Không chỉ là loài côn trùng quen thuộc ở đồng ruộng, dế (dế mèn, dế dũi…) từ lâu còn được ghi nhận trong y học cổ truyền như một dược liệu có tính hàn, vị mặn, thường được dân gian ứng dụng để hỗ trợ bí tiểu, sỏi đường tiết niệu, táo bón và một số trường hợp sinh khó.
Xịt xoang Triệu Minh – Bài thuốc từ tình thương và trí tuệ

Xịt xoang Triệu Minh – Bài thuốc từ tình thương và trí tuệ

Trong dòng chảy hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ, giữa bộn bề của cuộc sống đô thị nơi con người ngày càng xa rời với thiên nhiên và cội nguồn vẫn còn đó những con người lặng thầm bền bỉ gìn giữ những giá trị cổ truyền dân tộc – không chỉ bằng tri thức mà bằng cả tâm nguyện và lòng từ bi. Một trong những hình ảnh đáng kính ấy là sư thầy Thích Đàm Thái – một nữ tu người dân tộc Dao, hiện đang trụ trì tại chùa Quang Phúc (Phường Thanh Liệt, Thành phố Hà Nội), tác giả bài thuốc gia truyền “Xịt xoang Triệu Minh”.
Cát sâm – “Sâm nam” mộc mạc và giá trị bền vững trong y học cổ truyền

Cát sâm – “Sâm nam” mộc mạc và giá trị bền vững trong y học cổ truyền

Trong kho tàng dược liệu phong phú của y học cổ truyền Việt Nam, cát sâm là một vị thuốc quen thuộc nhưng không phô trương, được dân gian tin dùng từ lâu đời nhờ tính mát, dễ sử dụng và khả năng bồi bổ cơ thể một cách bền bỉ. Dược liệu này thường xuất hiện trong các bài thuốc thanh nhiệt, bổ tỳ phế, trị ho nhiều đờm, nhức đầu, bí tiểu và hỗ trợ phục hồi thể trạng cho người suy nhược.
Cây nắp ấm – Từ loài cây bắt mồi đến vị thuốc Đông y quen thuộc

Cây nắp ấm – Từ loài cây bắt mồi đến vị thuốc Đông y quen thuộc

Không chỉ được biết đến như một loài cây cảnh độc đáo có khả năng bắt côn trùng, cây Nắp ấm (còn gọi là cây Bình nước) từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền như một vị thuốc thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý thường gặp. Trong bối cảnh xu hướng quay trở lại với thảo dược tự nhiên ngày càng rõ nét, Nắp ấm đang dần được nhìn nhận lại dưới góc độ dược liệu có giá trị.
Cây đuôi công – Dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều trị đau nhức, bong gân

Cây đuôi công – Dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều trị đau nhức, bong gân

Từ lâu trong dân gian và y học cổ truyền, cây đuôi công đã được biết đến như một loại dược liệu có thể hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý như đau nhức xương khớp, bong gân, phong thấp, mát gan, giảm đau dạ dày. Với hình dáng đẹp, màu hoa nổi bật, cây đuôi công vừa được trồng làm cảnh, vừa được khai thác làm thuốc. Tuy nhiên, đây là vị thuốc có độc tính, đòi hỏi người sử dụng phải hiểu rõ đặc điểm, công dụng và những lưu ý quan trọng trước khi áp dụng.
Cao ban long – Dược liệu quý cổ truyền, dùng đúng cách để phát huy giá trị bồi bổ

Cao ban long – Dược liệu quý cổ truyền, dùng đúng cách để phát huy giá trị bồi bổ

Trong kho tàng y học cổ truyền, cao ban long được xếp vào nhóm dược liệu quý, thường xuất hiện trong các bài thuốc bồi bổ cơ thể, hỗ trợ xương khớp, sinh tinh và nâng cao thể trạng. Tuy nhiên, cũng như nhiều vị thuốc bổ khác, cao ban long không phải ai dùng cũng phù hợp, việc sử dụng cần đúng liều, đúng đối tượng và có hiểu biết đầy đủ để đảm bảo an toàn, hiệu quả.
Màng tang – Dược liệu giàu tinh dầu, hỗ trợ tiêu hóa và giảm đau

Màng tang – Dược liệu giàu tinh dầu, hỗ trợ tiêu hóa và giảm đau

Trong kho tàng dược liệu Đông y, màng tang là loại cây được đánh giá cao nhờ hàm lượng tinh dầu dồi dào, mang lại nhiều tác dụng dược lý quan trọng. Từ lâu, dược liệu này đã được sử dụng để hỗ trợ điều trị đầy hơi, tiêu chảy, đau bụng kinh niên, phong thấp, đau nhức xương khớp, phù chân kéo dài. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả và đảm bảo an toàn, người dùng cần hiểu rõ đặc điểm, công dụng cũng như cách sử dụng đúng của vị thuốc này.
Ý dĩ: Từ bài thuốc dân gian đến những lưu ý khoa học cho người dùng

Ý dĩ: Từ bài thuốc dân gian đến những lưu ý khoa học cho người dùng

Trong kho tàng dược liệu Đông y, ý dĩ là cái tên quen thuộc, xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian và y thư cổ. Không chỉ được biết đến với công dụng hỗ trợ điều trị ho, phong thấp, sỏi tiết niệu, ý dĩ còn được nhiều người truyền tai nhau như một “bí quyết” giúp làm đẹp da, giảm cân. Tuy nhiên, các thầy thuốc Đông y đều khuyến cáo: ý dĩ là vị thuốc, không phải thực phẩm dùng tùy tiện, nếu lạm dụng hoặc dùng sai cách có thể gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.
Xem thêm
Gala Chào xuân 2026 - “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II: Diễn đàn kết nối tri thức và tôn vinh thương hiệu Việt

Gala Chào xuân 2026 - “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II: Diễn đàn kết nối tri thức và tôn vinh thương hiệu Việt

Tại Trường Đại học Nam Cần Thơ, Gala Chào xuân 2026 – “Tinh hoa Thương hiệu Việt” lần thứ II quy tụ đại diện Hội Nam Y Việt Nam, giới chuyên gia, doanh nghiệp và các đơn vị đồng hành trong không khí trang trọng, ấm áp.
Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Ngày 14/01/2026, thực hiện kế hoạch hoạt động Quý I/2026, Chi hội Nam y tỉnh An Giang phối hợp Hội Chữ thập đỏ xã Thường Phước (tỉnh Đồng Tháp) tổ chức chương trình khám bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho 200 người dân địa phương.
Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Thực hiện chương trình công tác năm 2025, Chi hội Nam y tỉnh An Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động vào ngày 03/01/2025 tại phường Tân Châu, tỉnh An Giang.
Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Năm 2025 ghi dấu một giai đoạn hoạt động sôi động, nhiều điểm nhấn của Hội Nam y Việt Nam trong bối cảnh phong trào bảo tồn, phát triển y học cổ truyền và Nam y tiếp tục nhận được sự quan tâm của xã hội.
Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

(SKV) - Trong không khí trang trọng và phấn khởi, sáng ngày 21/12 Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập gắn với Hội thảo khoa học “Kế thừa, phát huy di sản Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh trong nghiên cứu và phát triển Y Dược học cổ truyền”. Sự kiện là dấu mốc quan trọng, nhìn lại chặng đường hình thành – phát triển của Viện, đồng thời mở ra những định hướng mới cho y dược học cổ truyền Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và đổi mới.
Phiên bản di động