Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

Nhiễm trùng huyết là bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, có tỉ lệ tử vong cao. Đặc điểm lâm sàng của bệnh biểu hiện đa dạng. Cần biết các tác nhân gây nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS giúp tiếp cận và chọn lựa điều trị ban đầu.

Đặt vấn đề: Nhiễm trùng huyết là bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, có tỉ lệ tử vong cao. Đặc điểm lâm sàng của bệnh biểu hiện đa dạng. Cần biết các tác nhân gây nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS giúp tiếp cận và chọn lựa điều trị ban đầu.

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết cục điều trị bệnh nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả các bệnh nhân nhiễm trùng huyết, có kết quả cấy máu dương tính tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới..

Kết quả nghiên cứu: Trong 184 bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết, giới nam chiếm đa số, bệnh nhân giai đoạn AIDS chiếm 87,2%. Các triệu chứng lâm sàng đa dạng, có thể chồng lấp. Tác nhân gây bệnh thường gặp là vi nấm (51,6%), vi trùng (48,4%), đa tác nhân (6%). Vi khuẩn gram dương thường gặp là S. aureus, Streptococcus spp; vi khuẩn gram âm: Salmonella spp, E. coli, K. pneumoniae; vi nấm: C. neoformans, T.marneff ei. Tỉ lệ tử vong: 35,5%,.

Kết luận: Nhiễm trùng huyết của bệnh nhân HIV/AIDS là một bệnh thường gặp, tỉ lệ tử vong cao. Tác nhân vi nấm chiếm nhiều nhất, vi trùng có khuynh hướng gia tăng ngang bằng với vi nấm.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh cảnh lâm sàng của nhiễm trùng huyết trên cơ địa bị ức chế miễn dịch như nhiễm HIV/AIDS có thể không điển hình. Cơ địa người nhiễm HIV/ AIDS có thể dễ bị nhiễm một số tác nhân vi khuẩn, vi rút hoặc nấm khác so với cơ địa người không nhiễm, đòi hỏi sự thay đổi về lựa chọn thuốc điều trị đặc hiệu. Trong khoảng năm 2009 - 2019, tình hình nhiễm HIV/AIDS và phác đồ điều trị đã có nhiều thay đổi (1). Điều đó có thể làm giảm đi số lượng các bệnh nhân nhiễm HIV vào giai đoạn AIDS. Trong bối cảnh này, có thể có sự thay đổi trong bệnh cảnh lâm sàng và phổ tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, các tác nhân gây bệnh và kết quả điều trị ở bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết; với mong muốn đóng góp vào kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị, kế hoạch lựa chọn kháng sinh ban đầu phù hợp, cải thiện tỉ lệ tử vong cho bệnh nhân HIV/AIDS.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh nhân nhiễm trùng huyết cơ địa nhiễm HIV/AIDS.

2. Mô tả các tác nhân gây nhiễm trùng huyết thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

Dân số đích: Bệnh nhân HIV/AIDS bị nhiễm trùng huyết do vi trùng. Dân số nghiên cứu: Bệnh nhân nhiễm HIV mắc nhiễm trùng huyết, có kết quả cấy máu dương tính, điều trị tại Khoa Nhiễm E, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trong thời gian thu nhận mẫu.

Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân đạt đủ các tiêu chuẩn: người lớn (≥15 tuổi), được chẩn đoán xác định nhiễm HIV/AIDS theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế, có kết quả cấy máu dương tính. Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào NC, cấy máu ngoại nhiễm.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả.

Thời gian nghiên cứu: tháng 06/2021 đến tháng 05/2021. Cỡ mẫu: Ước tính cỡ mẫu (số bệnh nhân nhiễm trùng huyết có cấy máu dương tính) theo công thức: n=Z2(1- α/2) (p( 1-p))/ε2. Chọn p = 15,2% (tỉ lệ cấy máu dương tính ở BN nhiễm HIV/ AIDS của Nguyễn Lê Như Tùng 2009), sai số: 6%, độ tin cậy 95%. Vậy cỡ mẫu ước tính: 137 ca.

Phương pháp thống kê: Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Cách tiến hành: thu thập số liệu về yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục điều trị của các bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu nhập viện từ tháng 6/2020 - tháng 5/2021.

Kỹ thuật đo lường biến số

Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu, được thực hiện tại phòng xét nghiệm của bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Kỹ thuật cấy máu và xác định tác nhân gây bệnh: Cấy máu áp dụng kỹ thuật cấy máu bằng chai cấy máu tự động (BACTEC 9240, Bact/ ALERT 3D). Sau khi có kết quả cấy dương tính, mẫu máu sẽ được cấy chuyển lên thạch và định danh bằng phương pháp sinh hóa thường quy hoặc bằng phương pháp MALDI- TOF.

Y đức: Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của bệnh viện Bệnh Nhiệt đới thông qua theo số 1584/QĐ – BVBNĐ (ngày 10 tháng 09 năm 2020).

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

KẾT QUẢ

Từ tháng 6/2020 đến tháng 5/2021, tổng cộng có 184 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu

Kết quả phân lập chung

Có 77 bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn (41,8%), 96 bệnh nhân nhiễm vi nấm (52,2%) và có 11 bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân (6%). Trong số 184 bệnh nhân, có 195 mẫu máu dương tính. Tác nhân vi khuẩn gram dương chiếm 36 ca (18,5%), vi khuẩn gram âm: 57 ca (29,2%), nấm: 101 ca (51,8%), 1 trường hợp vi khuẩn kháng acid - cồn.

Bảng 1: Đặc điểm của bệnh nhân nhiễm trùng huyết theo nhóm tác nhân gây bệnh (n = 184)

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

(Phép kiểm chi bình phương, a: phép kiểm Mann - Whitney. *: không thỏa điều kiện phép kiểm chi bình phương.)

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh.

Sốt là triệu chứng thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ 92,4%. Số ngày sốt trung vị là 10 ngày (1 - 90 ngày). Có sự khác biệt giữa thời gian sốt của các nhóm vi khuẩn và vi nấm: tác nhân vi khuẩn là 5 ngày (0 - 90 ngày), thấp hơn so với của vi nấm là 14 ngày (1 - 60 ngày) (phép kiểm Mann - Whitney, độ tin cậy 95%, p < 0,005). (Bảng 1)

Đặc điểm vi sinh của các tác nhân gây bệnh

Có sự khác biệt về thời gian trung vị cấy máu dương tính ở các tác nhân (p < 0,05 với độ tin cậy 95%): nhóm vi khuẩn là 17 giờ (4 - 48 giờ), nhóm vi nấm là 63 giờ (13 - 215 giờ). 1 ca cấy máu trực khuẩn kháng acid cồn, thời gian cấy dương là 377 giờ (biểu đồ 3.3).

Biểu đồ 1: Thời gian cấy máu dương tính các mẫu bệnh phẩm (n = 195)

(Phép kiểm Kruskal - Wallis)
(Phép kiểm Kruskal - Wallis)

Có 77 bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn, 96 bệnh nhân nhiễm vi nấm và có 11 bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân.

Bảng 2. Kết quả định danh tác nhân gây nhiễm trùng huyết (n = 194) *

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

(a : 3 trường hợp S. pneumoniae, các tác nhân còn lại ca: S. salivarius, S.agalactiae, S.dysgalactae, S.oralis , S.parasangunis, S.pyogenes, S.sanguinis; b : V. albensis (1 ca) và V. vulnificus (1 ca); c : Candida tropicalis (1 ca) và Candida colliculosa (1 ca). * : 1 trường hợp vi khuẩn kháng acid cồn nhưng không định danh được với năng lực phòng vi sinh hiện tại).

Kết cục điều trị

Bảng 4. Kết quả điều trị của bệnh nhân nhiễm trùng huyết

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

Tỉ lệ tử vong chung của bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS bị nhiễm trùng huyết là 35,3%. Ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết đa tác nhân, tỉ lệ tử vong cao nhất, tỉ lệ 63,6%.

Khảo sát tác nhân gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

BÀN LUẬN

Nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS là bệnh lý thường gặp, khiến bệnh nhân nhập viện. Sốt là triệu chứng gặp nhiều nhất ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết, Thời gian sốt có thể là một dấu hiệu gợi ý giúp phân biệt tác nhân gây nhiễm trùng huyết do vi trùng hay vi nấm. Triệu chứng nhiễm trùng huyết của bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS rất đa dạng, bệnh nhân thường có nhiều triệu chứng chồng lấp với nhau. Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm triệu chứng đường hô hấp và tiêu hóa ở các nhóm bệnh nhân nhiễm trùng huyết do vi khuẩn và vi nấm (bảng 1).

Có sự khác biệt về kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi so với các nghiên cứu khác. Cụ thể, kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi có sự thay đổi khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Như Tùng(2), thực hiện tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ năm 2005 - 2006. Kết quả cho thấy, tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn cao hơn so với nhiễm trùng huyết do vi nấm (48,2% so với 21,8%). Có sự xuất hiện của tác nhân vi khuẩn kháng acid - cồn (trong nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được 1 trường hợp/ 195 mẫu cấy máu. Tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn trên bệnh nhân HIV/AIDS của chúng tôi cũng gần tương đồng với nghiên cứu của Sasisopin Kiertiburanakul(3) thực hiện tại Thái Lan vào năm 2004 - 2008, thấp hơn so với nghiên cứu của L.Taramasso thực hiện tại Ý từ năm 2008 - 2015(4).

Có sự khác biệt về kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi so với các nghiên cứu khác. Cụ thể, kết quả phân lập tác nhân của nghiên cứu chúng tôi có sự thay đổi khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Như Tùng(2), thực hiện tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ năm 2005 - 2006. Kết quả cho thấy, tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn cao hơn so với nhiễm trùng huyết do vi nấm (48,2% so với 21,8%). Có sự xuất hiện của tác nhân vi khuẩn kháng acid - cồn (trong nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được 1 trường hợp/ 195 mẫu cấy máu. Tỉ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn trên bệnh nhân HIV/AIDS của chúng tôi cũng gần tương đồng với nghiên cứu của Sasisopin Kiertiburanakul(3) thực hiện tại Thái Lan vào năm 2004 - 2008, thấp hơn so với nghiên cứu của L.Taramasso thực hiện tại Ý từ năm 2008 - 2015(4).

Sự thay đổi về t ỉ lệ tác nhân gây bệnh của chúng tôi so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Như Tùng(2) có thể do một số lý do sau đây. Thứ nhất, có sự thay đổi đối tượng bắt đầu điều trị ARV từ năm 2017: tất cả bệnh nhân mới được chẩn đoán HIV, bất kể giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào lympho T CD4 đều có chỉ định điều trị ARV. Điều này sẽ khiến giảm bớt số lượng bệnh nhân vào giai đoạn AIDS (yếu tố nguy cơ để khiến bệnh nhân nhiễm nấm huyết). Thứ hai, có sự chỉ định của dự phòng thuốc kháng nấm ở các hướng dẫn mới gần đây, do đó có thể làm giảm số lượng bệnh nhân nhiễm nấm huyết nhập viện. Do đó, trong các nghiên cứu về nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS trong kỷ nguyên của chiến lược điều trị ARV gần đây, tác nhân gây bệnh là vi khuẩn chiếm ưu thế (3,4).

Trong nghiên cứu của chúng tôi có ghi nhận được 1 trường hợp cấy máu phân lập được trực khuẩn kháng acid - cồn. Trong khi ở Ý hoặc Thái Lan(3,4), số lượng cấy máu phân lập vi khuẩn kháng acid - cồn cao hơn 10,9% (ở Ý) và 20,1% (Thái Lan). Sự khác biệt này có thể do ở bệnh viện Bệnh Nhiệt đới chưa triển khai môi trường cấy chuyên biệt để phân lập được tác nhân này, do đó chưa thể phát hiện ra số lượng ca nhiễm trùng huyết do vi khuẩn kháng acid - cồn chính xác (5). Salmonella spp là tác nhân gây nhiễm trùng huyết vi khuẩn gram âm thường gặp nhất ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS ở các quốc gia Đông Nam Á (3). Trong khi ở các quốc gia Châu Âu như Ý, E. coli là tác nhân gây nhiễm trùng huyết hàng đầu. Bên cạnh đó, các tác nhân khác cũng chiếm tỉ lệ đáng kể gây bệnh ở người nhiễm HIV/ AIDS như nhóm trực khuẩn gram âm đường ruột (K. pneumoniae)(4).

Tác nhân vi nấm gây nhiễm trùng huyết hàng đầu ở b ệnh nhân nhiễm HIV/AIDS qua các nghiên cứu là C. neoformans, đặc biệt ở các quốc gia Châu Á, khi tỉ lệ người được điều trị ARV còn chưa cao. Tỉ lệ nhiễm nấm huyết của tác giả L.Taramasso (2008 - 2015) rất thấp, chỉ khoảng 10,9%. Trong số đó, chủ yếu là nấm Candida, khác với so với các nghiên cứu ở Việt Nam và Đông Nam Á (3). Ở Ý, bệnh nhân nhiễm HIV được phát hiện và điều trị sớm cao, do đó, số lượng bệnh nhân nhập viện trong tình trạng AIDS thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi. Bệnh nhân nhiễm nấm huyết chủ yếu là nhiễm nấm Candida, một tác nhân gây nhiễm trùng huyết liên quan đến chăm sóc y tế, cơ địa giảm bạch cầu hạt, có thực hiện nhiều thủ thuật xâm lấn (6). Đây có thể là một sự thay đổi về tác nhân vi nấm gây bệnh trong kỷ nguyên của điêu trị ARV, khi số lượng bệnh nhân nhiễm nấm huyết do các tác nhân gây bệnh trên bệnh nhân AIDS kinh điển như C. neoformans hay T. marneffei giảm dần, những tác nhân gây bệnh liên quan đến chăm sóc y tế sẽ dần nổi trội hơn như Candida spp.

Về kết quả điều trị, có 51,6% bệnh nhân trong nghiên cứu nhập ICU; 35,3% bệnh nhân tử vong. Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân HIV/AIDS là một bệnh nặng, nguy cơ tử vong cao. Do đó, cần có nhiều những nổ lực trong vấn đề chẩn đoán và điều trị bệnh nhân nhiễm trùng huyết để giảm tỉ lệ tử vong trên nhóm bệnh nhân đặc biệt này.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS là bệnh lý nặng, biểu hiện lâm sàng đa dạng, tỉ lệ tử vong cao (35,5%). Tác nhân vi nấm chiếm nhiều nhất, tuy nhiên các tác nhân vi khuẩn có xu hướng gia tăng. Để tối ưu khả năng phân lập được tác nhân, việc cấy máu ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nghi ngờ nhiễm trùng huyết, có thể áp dụng các kỹ thuật như MYCO/FLytic medium (BACTEC), BacT/ALERT MB (bằng chai cấy máu BACTEC Plus Aerobic/F, BT/ALERT MB), hoặc các hệ thống nuôi cấy có sử dụng hệ thống ly tâm cô lập để có thể giảm thời gian cấy máu dương tính hoặc tăng khả năng phát hiện các tác nhân khác (7),(8),(9).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Y T. HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC HIV/AIDS, 2019: Quyết định số 5456/ QĐ-BYT ngày 20/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội, pp. 15.

2. Nguyễn Lê Như T (2009). Đặc điểm nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí MInh.

3. Kiertiburanakul S, Watcharatipagorn S, Chongtrakool P, Santanirand P (2012). Epidemiology of bloodstream infections and predictive factors of mortality among HIVinfected adult patients in Thailand in the era of highly active antiretroviral therapy. Jpn J Infect Dis, 65 (1): 28-32.

4. Taramasso L, Tatarelli P, Di Biagio A (2016). Bloodstream infections in HIV-infected patients. Virulence, 7 (3): 320-8.

5. Ceia F, Santos-Silva A, Alves J, Silva-Pinto A, Oliveira O, et al (2019). Mycobacterial blood cultures in the diagnosis of tuberculosis in human immunodeficiency virus-infected patients: are they useful? Clin Microbiol Infect, 25 (2): 264-265.

6. Pappas P G, Kauffman C A, Andes D R, Clancy C J, Marr K A, et al (2016). Clinical Practice Guideline for the Management of Candidiasis: 2016 Update by the Infectious Diseases Society of America. Clin Infect Dis, 62 (4): e1-50.

7. Gary V D. Detection of bacteremia: Blood cultures and other diagnostic tests. 2021 [cited 17/08/2021; Available from: https:// www.uptodate.com/contents/detectionof-bacteremia-blood-cultures-and-otherdiagnostic-tests?search=Detection%20 of%20bacteremia:%20Blood%20 cultures%20and%20other%20 diagnostic%20tests&source=search_ result&selectedTitle=1~150&usage_ type=default&display_rank=1.

8. Arendrup M C, Boekhout T, Akova M, Meis J F, Cornely O A, et al (2014). ESCMID and ECMM joint clinical guidelines for the diagnosis and management of rare invasive yeast infections. Clin Microbiol Infect, 20 Suppl 376-98.

9. Ellen Jo Baron P D (2005). Cumitech #1c Blood Cultures IV. American Society for Microbiology.

Hồ Quang Minh, Lê Thị Dưng, Nguyễn Thị Ngọc Thanh, Lê Thị Quỳnh Ngân, Nguyễn Thị Thu Yến, Nguyễn Hữu Hiền, Nguyễn Đình Hiếu, Đào Thị Thanh Huyến, Đặng Thị Hồng Mụi, Trần Lệ Hằng Nga, Đường Ngọc Lan/BV Nhiệt đới; Võ Triều Lý/ ĐH Y dược TP.HCM
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Châu Âu phê duyệt thuốc tiêm ngừa HIV dùng 6 tháng/lần

Châu Âu phê duyệt thuốc tiêm ngừa HIV dùng 6 tháng/lần

Lenacapavir - loại thuốc tiêm do Công ty Gilead Sciences (Mỹ) phát triển - đã được Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA) khuyến nghị phê duyệt, mở ra hy vọng thay đổi cục diện phòng chống HIV trên toàn cầu.
Đảm bảo chất lượng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV tại An Giang

Đảm bảo chất lượng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV tại An Giang

Sở Y tế An Giang vừa ban hành Công văn số 1481/SYT-NVY về việc tăng cường triển khai hoạt động, đảm bảo chất lượng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV (PrEP).
Loại bỏ virus HIV khỏi tế bào: Bước tiến trong việc điều trị căn bệnh thế kỷ

Loại bỏ virus HIV khỏi tế bào: Bước tiến trong việc điều trị căn bệnh thế kỷ

Mới đây, các nhà khoa học đã thử nghiệm thành công việc loại bỏ virus HIV khỏi tế bào.

Cùng chuyên mục

Nước gạo rang - Thức uống “dưỡng vị” trong y học cổ truyền

Nước gạo rang - Thức uống “dưỡng vị” trong y học cổ truyền

Trong kho tàng ẩm thực và kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe của người Việt, nhiều thức uống giản dị lại mang giá trị dưỡng sinh đáng kể. Nước gạo rang là một ví dụ điển hình. Từ những hạt gạo quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày, khi được rang thơm và nấu thành nước, thức uống này không chỉ có hương vị dễ chịu mà còn được y học cổ truyền đánh giá là có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể.
Cây lá bỏng - “Tủ thuốc xanh” trong vườn nhà

Cây lá bỏng - “Tủ thuốc xanh” trong vườn nhà

Cây lá bỏng (còn gọi là sống đời) thường được trồng làm cảnh hoặc làm thuốc. Theo kinh nghiệm dân gian, loại cây này không chỉ dễ trồng mà còn có nhiều tác dụng như thanh nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ làm lành vết thương và giảm ho. Từ lâu, lá bỏng đã trở thành vị thuốc quen thuộc trong nhiều bài thuốc đơn giản, dễ áp dụng tại nhà.
Y học cổ truyền Việt Nam cùng y học hiện đại trong kỉ nguyên vươn mình của đất nước - Những vấn đề cần quan tâm để phát triển bền vững

Y học cổ truyền Việt Nam cùng y học hiện đại trong kỉ nguyên vươn mình của đất nước - Những vấn đề cần quan tâm để phát triển bền vững

Tạp chí Sức Khoẻ Việt trân trọng giới thiệu bài viết: "Y học cổ truyền Việt Nam cùng y học hiện đại trong kỉ nguyên vươn mình của đất nước - Những vấn đề cần quan tâm để phát triển bền vững" của TTND. GS. TS Trương Việt Bình - Chủ tịch Hội Nam Y Việt Nam.
Hạ khô thảo - Dược liệu giúp thanh nhiệt và hỗ trợ huyết áp

Hạ khô thảo - Dược liệu giúp thanh nhiệt và hỗ trợ huyết áp

Trong kho tàng dược liệu của y học cổ truyền, hạ khô thảo là một vị thuốc quen thuộc, được sử dụng để thanh nhiệt, tiêu viêm và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý. Loài cây này mọc hoang ở nhiều nơi, dễ thu hái và có giá trị dược tính đáng chú ý, đặc biệt trong các bài thuốc liên quan đến gan, huyết áp và các chứng viêm.
Cây thành ngạnh và những công dụng bất ngờ trong y học cổ truyền

Cây thành ngạnh và những công dụng bất ngờ trong y học cổ truyền

Trong kho tàng dược liệu của y học cổ truyền Việt Nam, nhiều loại cây mọc hoang trong tự nhiên lại có giá trị chữa bệnh. Cây thành ngạnh là một trong số đó. Dù không quá phổ biến trong đời sống hằng ngày, nhưng theo kinh nghiệm dân gian, loại cây này được sử dụng để hỗ trợ điều trị nhiều vấn đề sức khỏe, đặc biệt liên quan đến tiêu hóa và giải độc cơ thể.
Chữa bệnh không dùng thuốc: Giá trị của châm cứu và dưỡng sinh trong y học cổ truyền

Chữa bệnh không dùng thuốc: Giá trị của châm cứu và dưỡng sinh trong y học cổ truyền

Không chỉ nổi tiếng với các bài thuốc thảo dược, y học cổ truyền Việt Nam còn có nhiều phương pháp trị liệu không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt và dưỡng sinh. Dựa trên nguyên lý cân bằng âm dương, điều hòa khí huyết, các liệu pháp này ngày càng được quan tâm trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt khi bệnh mạn tính gia tăng và xu hướng sống khỏe tự nhiên trở nên phổ biến.

Các tin khác

Hoa và sức khỏe phái đẹp - Liệu pháp dịu dàng từ thiên nhiên

Hoa và sức khỏe phái đẹp - Liệu pháp dịu dàng từ thiên nhiên

Không chỉ mang vẻ đẹp thanh tao và hương thơm dễ chịu, nhiều loài hoa còn được y học cổ truyền xem như những vị thuốc quý giúp bồi bổ cơ thể, điều hòa khí huyết và chăm sóc sắc đẹp. Từ hoa cúc, hoa hồng đến hoa nhài hay hoa sen, mỗi loài hoa đều chứa những dược tính tự nhiên góp phần giúp phụ nữ khỏe - đẹp hơn mỗi ngày.
Phát triển Y học cổ truyền Việt Nam trong thế kỷ XXI

Phát triển Y học cổ truyền Việt Nam trong thế kỷ XXI

Tạp chí Sức khoẻ Việt trân trọng giới thiệu bài viết "Phát triển Y học cổ truyền Việt Nam trong thế kỷ XXI" của TTND. GS. TS Trương Việt Bình - Chủ tịch Hội Nam Y Việt Nam.
Rau răm: Từ thảo mộc vườn nhà đến vị thuốc dân gian

Rau răm: Từ thảo mộc vườn nhà đến vị thuốc dân gian

Không chỉ là loại rau gia vị góp mặt trong nhiều món ăn truyền thống, rau răm còn được y học cổ truyền và một số nghiên cứu hiện đại ghi nhận với nhiều lợi ích đáng chú ý. Tuy nhiên, sử dụng thế nào để tốt cho sức khỏe là điều không phải ai cũng hiểu rõ.
Thuốc nam trong hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp ở người cao tuổi

Thuốc nam trong hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp ở người cao tuổi

Đau nhức xương khớp là tình trạng phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt khi thời tiết thay đổi, trời lạnh hoặc ẩm ướt. Không chỉ gây khó khăn trong vận động, các bệnh lý xương khớp còn ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống và tâm lý của người già. Bên cạnh các phương pháp điều trị của y học hiện đại, y học cổ truyền với hệ thống thuốc nam phong phú được xem là giải pháp hỗ trợ an toàn, phù hợp với thể trạng người cao tuổi nếu được sử dụng đúng cách.
Dược liệu sạch - điều kiện sống còn của ngành Nam y

Dược liệu sạch - điều kiện sống còn của ngành Nam y

Với Nam y, phần lớn các bài thuốc dựa vào cây thuốc bản địa thì chất lượng dược liệu càng đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường dược liệu ngày càng mở rộng, câu chuyện đảm bảo nguồn dược liệu sạch, có truy xuất nguồn gốc và đạt chuẩn đang trở thành một trong những vấn đề cốt lõi đối với sự phát triển bền vững của y học cổ truyền Việt Nam.
Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông 2026: Lan tỏa giá trị y đức, phát huy tinh hoa y học cổ truyền

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông 2026: Lan tỏa giá trị y đức, phát huy tinh hoa y học cổ truyền

Trong không khí rực rỡ của mùa xuân Bính Ngọ 2026, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông đã trở thành một điểm đến tâm linh, văn hóa và sức khỏe đặc biệt đối với người dân và du khách trên khắp cả nước.
Chăm sóc chủ động – Chìa khóa cho một đời sống cân bằng

Chăm sóc chủ động – Chìa khóa cho một đời sống cân bằng

(SKV) - Có một sự thật giản dị nhưng không phải ai cũng kịp nhận ra: cơ thể luôn thì thầm trước khi buộc phải “lên tiếng” bằng bệnh tật. Đó có thể là những cơn mệt mỏi thoáng qua, vài đêm ngủ chập chờn, cảm giác căng thẳng kéo dài hay những rối loạn nhẹ trong sinh hoạt thường ngày. Mỗi tín hiệu ấy là một lời nhắc nhở rằng chúng ta đã sống quá nhanh, quá vội mà quên lắng nghe chính mình.
[E-Magazine] Cây quất - “Món quà sức khỏe” từ thiên nhiên

[E-Magazine] Cây quất - “Món quà sức khỏe” từ thiên nhiên

Cây quất không chỉ quen thuộc trong dịp Tết mà còn là một loại cây mang lại giá trị sức khỏe đáng chú ý. Từ quả đến vỏ, quất được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực và các bài thuốc dân gian nhờ đặc tính giàu tinh dầu, vitamin và hợp chất sinh học. Dưới góc nhìn của cả y học cổ truyền và y học hiện đại, quất được đánh giá là thực phẩm - dược liệu tự nhiên giúp hỗ trợ hô hấp, tiêu hóa và tăng cường sức đề kháng, đặc biệt phù hợp trong giai đoạn giao mùa và những thời điểm cơ thể dễ suy giảm miễn dịch.
Nâng cao năng lực khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền

Nâng cao năng lực khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền

Y học cổ truyền Việt Nam là kết tinh của trí tuệ dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Huyền hồ - Dược liệu hỗ trợ giảm đau và hoạt huyết

Huyền hồ - Dược liệu hỗ trợ giảm đau và hoạt huyết

Trong kho tàng dược liệu phương Đông, Corydalis yanhusuo - thường gọi là huyền hồ - được biết đến như một vị thuốc có tác dụng giảm đau và hoạt huyết. Từ lâu, dược liệu này đã được sử dụng trong y học cổ truyền để hỗ trợ điều trị đau bụng kinh, đau đầu, đau dạ dày, đau do ứ trệ khí huyết. Ngày nay, nhiều nghiên cứu hiện đại bước đầu cũng ghi nhận những hoạt chất trong huyền hồ có tiềm năng tác động lên hệ thần kinh và tuần hoàn.
Xem thêm
​Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: Pho sử sống của Y đức và Khát vọng tự chủ Y học dân tộc

​Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: Pho sử sống của Y đức và Khát vọng tự chủ Y học dân tộc

Trong tiết xuân của ngày rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ, ngành Y tế Việt Nam lại cùng hướng về Y Miếu (Hà Nội) và mảnh đất Liêu Xá (Hưng Yên) để tưởng niệm 235 năm ngày mất của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Sự kiện không chỉ là nghi thức tâm linh, mà còn là dịp để nhìn lại giá trị xuyên thời đại của một hệ thống tư tưởng y học đồ sộ.
Khai Xuân Hội tụ: Liên minh các Hội Y tế và Công ty CP Ao Vua hướng về cội nguồn Tản Viên Sơn

Khai Xuân Hội tụ: Liên minh các Hội Y tế và Công ty CP Ao Vua hướng về cội nguồn Tản Viên Sơn

[Ba Vì, ngày 28/02/2026] – Trong tiết trời xuân ấm áp và linh thiêng của vùng đất Ba Vì, một sự kiện gặp gỡ đầy ý nghĩa đã diễn ra, đánh dấu sự gắn kết bền chặt giữa các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và doanh nghiệp vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe Nhân dân.
Hội Nam Y Việt Nam Khai xuân Bính Ngọ- Kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955- 27/2/2026)

Hội Nam Y Việt Nam Khai xuân Bính Ngọ- Kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955- 27/2/2026)

Trong không khí hân hoan của những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nam Y Việt Nam đã long trọng tổ chức Buổi lễ Khai xuân và Kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 – 27/02/2026). Đây là dịp để các thế hệ thầy thuốc nhìn lại chặng đường vẻ vang, đồng thời thắp sáng tinh thần “Nam dược trị Nam nhân”.
Lan tỏa tinh thần y đức và phát huy giá trị thuốc Nam

Lan tỏa tinh thần y đức và phát huy giá trị thuốc Nam

Nhân dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 – 27/2/2026) và khai Xuân năm Bính Ngọ, Chi hội Nam y Thái Nguyên đã long trọng tổ chức buổi gặp mặt đầu Xuân dành cho các hội viên là thầy thuốc, y sĩ, lương y và những người làm công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tại Văn phòng Chi hội.
Hội Nam Y Việt Nam và Công ty CP Tập đoàn Ao Vua trao tặng 300 suất quà tết tại Cẩm Thủy- Thanh Hóa

Hội Nam Y Việt Nam và Công ty CP Tập đoàn Ao Vua trao tặng 300 suất quà tết tại Cẩm Thủy- Thanh Hóa

Sáng ngày 3/2/2026, tại trụ sở UBND xã Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, Hội Nam Y Việt Nam phối hợp cùng Công ty CP Tập đoàn Ao Vua đã tổ chức chương trình trao tặng quà Tết cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn và gia đình chính sách trên địa bàn.
Phiên bản di động