Postpartum Urinary Retention in Relation to 'Long Bi' Syndrome Patterns in Traditional Medicine

Thể bệnh bí tiểu sau sinh với các hội chứng bệnh chứng Long bế của Y học cổ truyền có mối liên quan gì?

Trên lâm sàng bí tiểu sau sinh được định nghĩa là sản phụ sau sinh được tính theo thời gian khoảng 6 giờ thai sổ trở lên bị rắc rối khi đi tiểu, đi cảm giác không hết, đi nhiều lần. Lượng nước tiểu sau mỗi lần không đi hết gọi là nước tiểu tồn dư trong bàng quang. Khi lượng nước tiểu tồn dư nhiều hơn 150ml, hoặc qua nhiều lần tích trữ tồn lưu có thể đạt 400ml (thể tích thành lập cầu bàng quang - quá thể tích này có nguy cơ ứ nước thận) gây ra cảm giác bức bối khó chịu đều được chẩn đoán là bí tiểu sau sinh. Hiện tượng khó chịu này thường được cơ thể tự điều chỉnh phục hồi trong vòng 2-3 ngày, nhưng cũng có khoảng 11-14% sản phụ sau khi sinh không tự phục hồi phải cần nhờ can thiệp y khoa do có cầu bàng quang. Như vậy bí tiểu sau sinh là tình trạng rối loạn cơ năng có thể tự phục hồi, không phải do có khối choán chỗ gây tắc đường tiểu.

Từ khóa: Bí tiểu; Long bế; Sau sinh.

Summary:

Clinically, postpartum urinary retention is defined as difficulty in urination occurring approximately six hours or more after delivery. This condition is characterized by incomplete voiding, frequent urination, and a persistent feeling of bladder fullness. The volume of urine remaining in the bladder after voiding is referred to as post-void residual (PVR) urine. When the PVR exceeds 150 ml, or in cases of repeated retention reaching up to 400 ml (the volume at which a distended bladder—bladder globe—is formed, increasing the risk of hydronephrosis), a diagnosis of postpartum urinary retention is made.

This condition is often transient and self-limiting, resolving spontaneously within 2–3 days. However, approximately 11–14% of postpartum women fail to recover spontaneously and require medical intervention due to the formation of a bladder globe. Therefore, postpartum urinary retention is considered a functional disorder that is typically reversible and not caused by space-occupying lesions obstructing the urinary tract.

Keywords: Urinary retention; Long bế (urinary obstruction in traditional medicine); Postpartum.

Thể bệnh bí tiểu sau sinh với các hội chứng bệnh chứng Long bế của Y học cổ truyền có mối liên quan gì?
Phụ nữ sau sinh có nhiều vấn đề về sức khỏe cần được quan tâm. Ảnh minh họa

Bí tiểu được hiểu như thế nào?

Bí tiểu là tình trạng bàng quang chứa đầy nước tiểu nhưng không đi tiểu được hoặc có đi tiểu nhưng sự tống tháo nước tiểu không làm bàng quang được rỗng hoàn toàn gây cho người bệnh cảm giác khó chịu và luôn muốn đi tiểu. Bí tiểu có nhiều nguyên nhân gây ra. Người sản phụ sau cuộc chuyển dạ sinh đẻ có tình trạng bí tiểu được gọi là bí tiểu sau sinh.

Trên lâm sàng bí tiểu sau sinh được định nghĩa là sản phụ sau sinh được tính theo thời gian khoảng 6 giờ thai sổ trở lên bị rắc rối khi đi tiểu, đi cảm giác không hết, đi nhiều lần. Lượng nước tiểu sau mỗi lần không đi hết gọi là nước tiểu tồn dư trong bàng quang. Khi lượng nước tiểu tồn dư nhiều hơn 150ml, hoặc qua nhiều lần tích trữ tồn lưu có thể đạt 400ml (thể tích thành lập cầu bàng quang - quá thể tích này có nguy cơ ứ nước thận) gây ra cảm giác bức bối khó chịu đều được chẩn đoán là bí tiểu sau sinh. Hiện tượng khó chịu này thường được cơ thể tự điều chỉnh phục hồi trong vòng 2-3 ngày, nhưng cũng có khoảng 11-14% sản phụ sau khi sinh không tự phục hồi phải cần nhờ can thiệp y khoa do có cầu bàng quang. Như vậy bí tiểu sau sinh là tình trạng rối loạn cơ năng có thể tự phục hồi, không phải do có khối choán chỗ gây tắc đường tiểu.

Bí tiểu sau sanh được mô tả trong y văn cổ thuộc phạm vi chứng Long bế, cũng có sách ghi Lung bế.

Sách Tố Vấn trong cuốn Ngũ Thường Chí đại luận viết về chứng Long bế: Long có nghĩa là đường ống dài như rồng rắn, bế chỉ dòng chảy không trơn tru thông sướng, tiểu tiện ít, tiểu không dễ dàng. Sách Linh khu kinh mạch gọi là Lung bế: Lung có nghĩa là phần bao, hay chức năng hoạt động phủ Bàng quang (Hải Thượng Lãn ông gọi là bọng đái) khi bị rối loạn gây ra tiểu không thông - nhằm chỉ Lung bế là do cơ năng không phải thực thể bị bít tắc giải phẫu gây ra (thạch lâm– sỏi đường niệu, anh thư – phì đại tiền liệt tuyến…). Xét về nghĩa Lung bế chính xác hơn Long bế, nhưng âm đọc Long bế lại dễ hơn Lung bế nên nhiều sách đời sau ghi thành Long bế, ngày nay bệnh danh mã ICD YHCT cũng ghi Long bế.

Sách Cảnh Nhạc toàn thư trong chương Long bế luận chứng gọi là Tiêu thủy bất thông của phụ đạo xán nhiên (bí tiểu sản khoa) để chỉ tình trạng trong phủ Bàng quang có nước tiểu mà không tiểu ra hết của thai phụ thời kỳ tam cá 1, 3 và sản phụ sau cuộc lâm bồn. Nguyên nhân gây ra chứng bệnh là do có thai hoạt động chức năng Tam tiêu tạm thời bị khuy tổn, nước tiểu khó bị tống ra. Sách Tuyên Minh ngũ khí (quyển 23 - Tố Vấn) phân loại: Bàng quang bất lợi là Long, không chế ước gây ra són đái, tức Dị niệu. Sách Kỳ Bệnh luận (quyển 47 - Tố Vấn) lại cho rằng: có loại bệnh Long, ngày đi tiểu vài mươi lần, đó là bệnh bất túc. Sách Bản Du (cuốn Linh Khu 2) lại bàn: thực thì Bế long, hư thì Dị niệu. Dị niệu cần phải bổ, Bế long cần phải tả.

Ngày nay việc chữa trị chứng bệnh bằng phương pháp YHCT đạt hiệu quả cao, có rất nhiều lợi thế hơn hẳn các phương pháp của YHHĐ (YHHĐ thường chỉ định đặt sonde đường tiểu - kỹ thuật này rất khó khắc phục rối loạn phản xạ trong khi bản thân cơ thể tự điều chỉnh cũng chỉ trong vòng 2-3 ngày - thời gian hiếm khi gây ra ứ nước thận). Do vậy việc xác định thể bệnh YHHĐ tương đồng với YHCT là việc rất cần thiết nhằm chữa trị mang tính thống nhất khách quan khoa học của cả 2 nền y học.

Theo Y học hiện đại

Từ nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh chứng bí tiểu sau sinh người ta đưa ra được cách phân loại thể bệnh rõ ràng với tiêu chí cụ thể.

Nguyên nhân – yếu tố thuận lợi theo YHHĐ[1][2][3]

Sau khi sinh có hiện tượng bí tiểu thường gặp trong những trường hợp sau:

Cơn chuyển dạ quá dài.

Can thiệp sinh như forcep, hút, nong giãn ngôi thai.

Cắt tầng sinh môn, gây tê, gây mê mổ bắt con.

Thai phụ bị viêm đường tiểu.

Sản phụ sinh con so dư ký.

Bàng quang ngả sau do tử cung đè suốt thời kỳ mang thai.

Cơ chế bệnh sinh

Có ba cơ chế gây bí tiểu sau sinh cơ năng chủ yếu có thể tự điều chỉnh trong vòng 2-3 ngày: hoạt động xung thần kinh giảm (thần kinh không đủ lực gây ra co bóp tống nước tiểu), rối loạn hoạt động thần kinh (thuyết Utomsky gây ức chế hoạt động thần kinh khi bị đau) và phù nề tạm thời cổ bàng quang.

Phản xạ thần kinh trong hoạt động tiểu: Nước tiểu trong bàng quang muốn thoát ra ngoài thông qua phản xạ tiểu tự động bao gồm phản xạ mắc tiểu, cơ cổ bàng quang mở, cơ thành bàng quang co, phản xạ rặn ép hết nước tiểu ra ngoài. Trường hợp do hoạt động thần kinh không gây ra được phản xạ đi tiểu (mất cảm giác tiểu, cơ bàng quang không co) do tổn thương thần kinh niệu khung chậu, do thuốc ức chế thần kinh (gây mê, gây tê) thường gây ra đờ tử cung (không có xung thần kinh hoạt động), biểu hiện có cầu bàng quang căng nhưng không có cảm giác mắc tiểu. Trường hợp có cảm giác mắc tiểu nhưng do hoạt động thần kinh không đạt được một đáp ứng co cơ tống nước tiểu ra là hiện tượng truyền xung thần kinh không đạt hiệu quả. Trường hợp này thường gặp ở người chuyển dạ kéo dài, sức khỏe yếu, cơ lực thành bàng quang co bóp yếu, cơ ổ bụng gây áp lực rặn tiểu cũng không được, dù cổ bàng quang mở nước tiểu cũng chỉ chảy rỉ rả mà không tạo được dòng chảy.

Khoảng thời gian cầu thận lọc kể từ ngôi thai lọt xuống tiểu khung (ép tống nước tiểu và phân - thời điểm tính bàng quang rỗng) đến khi sinh xong và cần thêm thời gian khoảng 6 giờ để nước tiểu đầy bàng quang (khoảng 350ml). Bàng quang đầy sẽ kích thích phản xạ đi tiểu: sản phụ cảm nhận sự kích thích muốn đi tiểu, cơ cổ bàng quang mở, cơ thành bàng quang co và động tắc rặn tiểu nhằm tống tháo nước tiểu. Mỗi lần tiểu không hết, nước tiểu tồn dư tích lũy làm thời gian mắc tiểu ngắn dần, có khi đi tiểu liên tục. Thời gian tiểu khó thường trong vòng 2- 3 ngày - thời gian hưng phấn thần kinh dần hồi phục (xung thần kinh đạt hiệu quả), hoặc hết cảm giác đau do can thệp khi sinh và cổ bàng quang phù nề chuyển trạng thái ổn định hoàn toàn.

Sản phụ trong quá trình chuyển dạ, khi ngôi thai xuống thấp quá lâu sẽ thúc đè vào cổ bàng quang làm cổ bàng quang bị “tê bì”, kém nhạy cảm với các kích thích, cần phải có thời gian 2-3 ngày để tính nhạy cảm trở lại bình thường. Sức khỏe sản phụ yếu làm cơn chuyển dạ quá lâu cũng làm cổ bàng quang bị kém nhạy cảm với kích thích của thần kinh, nước tiểu tống ra không hết gây tồn lưu. Sự ứ nước tiểu tồn lưu kiểu cộng dồn làm bàng quang ngày càng bị căng giãn, khi giãn quá mức làm mất trương lực cơ thành bàng quang, việc co bóp càng rối loạn, sản phụ càng khó tiểu. Đây là lý do hướng dẫn sản phụ tập phản xạ tiểu theo chu kỳ sinh học 5-7 lần/ ngày (khi thông tiểu rất khó tập, việc phục hồi ở sản phụ thông tiểu thường chậm hơn đáng kể).

Cổ bàng quang phù nề không thực sự mở rộng gây ra thoát nước tiểu không hết. Phù nề cổ bàng quang đa phần có tiền căn bí tiểu giai đoạn tam cá 3 và do nước tiểu bị cô đặc do uống ít nước gây ra phù cổ bàng quang theo cơ chế phù mạch (urticaria – phù nề nhanh tự mất đi không để lại dấu vết), không phải sưng nề do viêm. Phù nề này vừa gây tồn dư nước tiểu vừa gây kích thích phản xạ đi tiểu nhiều lần. Nếu để tình trạng phù nề lâu, tế bào viêm tập trung chuyển sang tổn thương viêm, vi khuẩn xâm nhập, đi tiểu có kèm cảm giác gắt và buốt. Thông qua xét nghiệm nước tiểu có thể chẩn đoán viêm hay phù nề.

Tránh ngôi thai lọt nằm quá lâu trong tiểu khung, người ta thường cắt tầng sinh môn để giúp cho đầu thai nhi sổ ra được dễ dàng. Việc khâu lại phục hồi tầng sinh môn gây đau đớn khiến người mẹ khi đi tiểu không dám rặn tiểu, vả lại nước tiểu tràn vào mô tổn thương gây xót. Đau trong điều kiện cơ lực yếu khó tạo một xung truyền thần kinh đủ lực, điều này cũng làm cho nước tiểu thoát ra ngoài khó khăn hơn. Không nên nhầm triệu chứng xót do mô tổn thương bị dính nước tiểu (chỉ khi đi tiểu thấy xót) và tiểu gắt, tiểu buốt do viêm (đau mơ hồ và cảm giác gắt buốt kể cả lúc không tiểu, và cảm giác gắt buốt không đau bằng xót). Việc đặt thông tiểu bí tiểu sau sinh thường gây tổn thương viêm cổ bàng quang, làm cho triệu chứng bí tiểu thể hiện rõ rệt hơn.

Các thể bệnh theo YHHĐ:

- Chia thể bệnh bí tiểu sau sinh theo triệu chứng có liên quan hệ niệu và toàn thân

Cơn chuyển dạ quá dài: thai nhi quá lớn, mất sức do cơ chuyển dạ làm sản phụ rặn sinh sớm….

Thể trạng sản phụ quá yếu

Trong khi sinh giảm khối lượng tuần hoàn, tụt huyết áp

Sinh quá nhanh gây rách đường âm đạo.

Đã từng đặt sonde thông tiểu trước sinh.

Sinh mổ.

- Chia thể bệnh bí tiểu sau sinh theo triệu chứng khối lượng nước tiểu tồn dư

Cầu bàng quang ( nước tiểu tồn dư <350ml)

Nguy cơ ứ nước thận ( 400ml)

- Chia thể bệnh bí tiểu sau sinh theo nhóm nguyên nhân

Cắt tầng sinh môn

Can thiệp sinh (forcep, hút…)

Viêm đường niệu

Cơn chuyển dạ kéo dài: sức sản phụ yếu….

Theo Y học cổ truyền

Long bế phụ đạo xán nhiên là tình trạng bí tiểu cơ năng, thường gặp bí tiểu ở các giai đoạn tam cá 1, 3 và hậu lâm bồn (ngay sau khi sinh nở).

Nguyên nhân YHCT

Các nguyên nhân gây Long bế hậu lâm bồn thường gặp:

- Tà nội sinh Thấp nhiệt, Hoả uất ở Hạ tiêu trước đó cản trở thông thoát của Tam tiêu, lạc thủy Tam tiêu sai đường tràn ra gây hẹp cửa phủ Bàng quang. Hỏa nhiệt làm nước tiểu bị chưng đốt, cô đặc làm lượng nước tiểu bị giảm, triệu chứng đi tiểu ít mà vàng đặc, tiểu nóng không thông sướng, phải đi nhiều lần.

- Sự can thiệp cuộc sinh: sinh mổ, cắt tầng sinh môn, forcep… là những nguyên nhân sang chấn bất nội ngoại nhân gây đau (chứng thống), YHCT gọi là Huyết ứ. Sang chấn làm kinh lạc mạch Đốc bị tắc trở, Khí cơ Bàng quang không thực hiện chức năng thông lâm.

- Thận khí sản phụ khuy tổn (Thận khí đầy thịnh mới thụ thai được, nhưng trong suốt quá trình mang thai buộc phải dồn hết tinh lực cho ấu tử phát triển, khi sinh phải dồn hết Khí, Huyết cho cuộc lâm bồn), tác động đến Khí của mạch Đốc không điều hòa nổi Bàng quang, lâm không thông suốt. Với một số sản phụ trong quá trình mang thai tình chí bị uất ức (nội nhân) có thể ảnh hưởng tới Can, Can mộc hư mà Thận thủy không đầy khó nuôi dưỡng. Khi lâm bồn Thận khí suy sụp rất nhanh, người mệt không có sức rặn.

Cơ chế bệnh sinh

Nội kinh ghi rõ “Bàng quang có chức năng làm tân dịch được khí hóa thì thành ra nước tiểu. … thủy đạo Bàng quang không thông thì nước tiểu không có lối chảy ra, bí tắc lại”. Như vậy, bí tắc tiểu do hai trường hợp:

- Trường hợp 1 (Tam tiêu điều thủy): “Tam tiêu có chức phận khơi thông thủy đạo do đó mà ra”. Tam tiêu không đưa tân dịch về Bàng quang, Bàng quang không có tân dịch khí hóa thì không có nước tiểu (vô niệu). Trường hợp này sản phụ không có nước tiểu trong phủ Bàng quang (Hải Thượng Lãn Ông gọi là bọng đái) nên không có phản xạ mắc đi tiểu. Có các khả năng xảy ra:

+ Tam tiêu khô hạn do mất Tân dịch khi lâm bồn (trụy mạch do thiếu tân dịch, mất nước, mất máu trong quá trình chuyển dạ). Trường hợp này gọi là vô niệu do Âm Dương muốn thoát, không phải bí tiểu.

+ Thủy dịch Tam tiêu sai đường (tân dịch tràn ra làm sản phụ bị phù thũng, áp lực keo giảm, không đủ độ chênh áp lực qua màng lọc cầu thận, nước tiểu giảm). Thủy dịch ở lạc mạch Bàng quang tràn ra gây chứng ma chẩn phủ Bàng quang (phù mạch cổ bàng quang). Sau 2-3 ngày phù (chẩn) biến mất không để lại dấu vết (ma). Do vậy, sách cổ xếp hội chứng bệnh vào Thấp nhiệt hạ tiêu.

+ Tam tiêu bị cản trở thông lâm: bít lấp, hẹp cửa thông lâm (sưng nề, khối choán chỗ). Trường hợp này do Nhiệt uất ứ kéo tà Thấp lục dâm gây ra (viêm có hoặc không có vi khuẩn tại bàng quang hoặc cả bàng quang). Đây là chứng Bàng quang Thấp nhiệt, không phải Thấp nhiệt hạ tiêu.

- Trường hợp 2 (chức năng Bàng quang rối loạn): trong phủ Bàng quang có nước tiểu chứng tỏ Bàng quang đã khí hóa xong nhưng bị bế tắc, nước tiểu không thoát đi hết. Trường hợp này người bệnh vẫn muốn đi nhưng không đi được. YHCT cho rằng mạch Xung Nhâm phục hồi dần nên cảm giác đầy tức bàng quang ngày càng rõ rệt. Có các nguyên nhân:

+ Thể tạng yếu, cuộc lâm bồn kéo dài, Bàng quang không tiếp nhận được Khí của mạch Đốc, khí cơ Bàng quang bị suy yếu, phủ Bàng quang khó tống nước tiểu thoát ra. Đồng thời trong cuộc lâm bồn Thận khí tiêu hao quá nhiều , mất sức không đủ sức rặn tống nước tiểu ra.

+ Can thiệp lâm bồn như mổ, cắt tầng sinh môn, forcep… gây tình trạng Huyết ứ làm kinh lạc Hạ tiêu không thông, tất thống (đau). Chứng ứ gây đau này làm việc lưu chuyển Khí mạch Đốc đến Bàng quang không được thông suốt, việc đi tiểu cũng không thông.

+ Nhịn tiểu, uống nước it, bí tiểu giai đoạn tam cá 3 là cơ sở để tà Thấp, Nhiệt nội sinh uất ứ không cho Tam tiêu thông lâm, lạc thủy tràn ra, gây ma chẩn phù nề cửa phủ Bàng quang, nước tiểu khó thoát.

Như vậy chứng Long bế xán nhiên sau cuộc lâm bồn là bệnh cảnh cơ năng (trường hợp thứ 2), có pháp điều trị điều khí hoặc trục tà lạc thủy Tam tiêu để thông lâm. Cơ sở này để phân loại hội chứng bệnh Long bế hậu lâm bồn trên lâm sàng của YHCT.

Các hội chứng bệnh cảnh của YHCT

Thận khí khuy tổn (11 triệu chứng)

Cơn lâm bồn kéo dài, sau lâm bồn tiểu khó, muốn tiểu mà không có sức rặn, yếu đuối, sắc mặt nhạt, tinh thần mệt mỏi, lưng đau, chân tay mỏi yếu, chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế, bộ xích nhược.

Thấp nhiệt hạ tiêu (13 triệu chứng)

Bí tiểu từ thời kỳ tam cá thứ 3, tiểu gắt, tiểu không thông sướng, xích đới ra nhiều, tiểu nhiều lần, tiểu vàng đậm, có khi hôi đục, bụng dưới căng tức, khát, rêu lưỡi vàng, đại tiện khó, chất lưỡi đỏ, mạch sác.

Huyết ứ (11 triệu chứng)

Lúc lâm bồn phải can thiệp, cắt tầng sinh môn, rách tầng sinh môn. Sau lâm bồn cảm giác đau vùng hạ tiêu nhiều, khi mắc tiểu phải rặn, lượng nước tiểu ít nhưng trong, bụng dưới trướng đau, cử động đau tăng không dám rặn tiểu, tiểu ra thấy xót, chất lưỡi tía có điểm ứ huyết, mạch sáp.

Như vậy có thể thấy, bệnh cảnh chứng Long bế xán nhiên YHCT có 3 hội chứng bệnh cảnh tương thích với các thể bệnh YHHĐ không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Tình trạng Long bế thường gặp ở thai phụ trong thời kỳ tam cá nguyệt thứ ba do đầu thai nhi chúc xuống dưới ép vào cổ bàng quang làm đường niệu bị đè nghẹt, khi lâm bồn quá lâu vẫn xuất hiện chứng Long bế dù có cổ bàng quang đã được giải phóng hoàn toàn đã chứng tỏ cơ lực bàng quang co bóp yếu hoặc đường thoát nước tiểu hẹp. YHHĐ cho rằng sự gắng sức chuyển dạ gây ra truyền xung thần kinh chưa kịp hồi phục phản xạ tiểu. Can thiệp tầng sinh môn gây ra ức chế truyền tín hiệu xung thần kinh do phản xạ đau. Phù nề cổ bàng quang tự mất đi trong vòng 2-3 ngày là do cơ thể tự điều chỉnh mỗi lần rặn tiểu chất hòa tan gây ra phản ứng phù mạch tại cổ bàng quang (trên lâm sàng nhóm phù nề và nhóm viêm đã được chẩn đoán xác định).

Trong hội chứng bệnh Long bế ngày nay không đề cập tình trạng phủ Bàng quang nuy liệt (đờ bàng quang không cảm giác căng muốn tiểu do thuốc gây mê hoặc phẫu thuật tai biến thần kinh ngoại biên) và tình trạng Tam tiêu khô hạn (vô niệu do giảm khối lượng tuần hoàn thận không lọc được). Chứng Long bế Bàng quang Thấp nhiệt (Viêm đường tiết niệu gây bí tiểu sau sinh) là triệu chứng thực thể, phải can thiệp giảm viêm, thậm chí phải thông tiểu.

Châm cứu, xoa bóp mục đích lập lại xung dẫn truyền thần kinh tạo lực bóp tống tháo nước tiểu có hiệu quả, giảm đau theo thuyết cửa thần kinh Utomsky, giảm phù nề cổ bàng quang (giải phóng hóa chất trung gian gây phù mạch tại cổ bàng quang). Do vậy bệnh nhân đi tiểu được.

ThS.Bs Nguyễn Thị Như Thủy/Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Ngày Hiến Máu Tình Nguyện 2026: Tiếp nhận 183 đơn vị máu vì sức khỏe cộng đồng

Ngày Hiến Máu Tình Nguyện 2026: Tiếp nhận 183 đơn vị máu vì sức khỏe cộng đồng

Nhằm lan tỏa tinh thần nhân ái và góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Ngày Hiến Máu Tình Nguyện Thường Niên 2026 đã diễn ra thành công tại TP.HCM và Hà Nội, tiếp nhận 183 đơn vị máu quý giá phục vụ công tác cấp cứu và điều trị.
Dự báo thời tiết ngày 23/10/2026: Bắc Bộ lạnh, Trung Bộ mưa to

Dự báo thời tiết ngày 23/10/2026: Bắc Bộ lạnh, Trung Bộ mưa to

Dự báo thời tiết ngày 23/10/2026 các khu vực trên cả nước theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương.
Xây dựng hệ thống quản lý thiết bị y tế thống nhất, liên thông

Xây dựng hệ thống quản lý thiết bị y tế thống nhất, liên thông

Công tác quản lý thiết bị y tế tại Việt Nam hiện nay còn chưa đồng bộ và có một số khoảng trống pháp lý. Từ kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới và khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, Bộ Y tế đang xây dựng hệ thống quản lý mặt hàng này một cách thống nhất, liên thông và theo chuỗi cung ứng.

Cùng chuyên mục

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

TÓM TẮT: Nghẹt mũi, chảy dịch mũi và đau tức vùng mặt là những triệu chứng thường gặp trong các bệnh lý đường hô hấp trên, trong đó có viêm mũi xoang. Những biểu hiện này có thể xuất hiện hoặc nặng lên trong các giai đoạn thời tiết thay đổi, đồng thời dễ bị nhầm lẫn với cảm lạnh và viêm mũi dị ứng. Việc nhận diện đúng triệu chứng, xác định khả năng mắc bệnh và lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe người bệnh.
Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Người cao tuổi mắc bệnh không lây nhiễm có nhu cầu chăm sóc mắt đồng thời với quản lý bệnh nền. Bài viết tổng quan chọn lọc bằng chứng nhãn khoa và phân tích chính sách y tế Việt Nam đến tháng 10 năm 2026. Nội dung tập trung vào đục thủy tinh thể, bệnh võng mạc đái tháo đường và tổn thương mạch máu võng mạc. Đối chiếu với Nghị quyết 20, Chỉ thị 25, Nghị quyết 72 và hướng dẫn của Bộ Y tế cho thấy cơ sở để lồng ghép chăm sóc mắt vào quản lý bệnh mạn tính. Bài viết đề xuất quy trình nhận diện nguy cơ, sàng lọc, chuyển khám, điều trị và theo dõi tại cộng đồng. Mô hình cần được thí điểm, đánh giá về khả năng tiếp cận, hoàn thành chuyển khám và kết quả thị giác; chưa có dữ liệu thực nghiệm chứng minh hiệu quả.
Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Tóm tắt - Bệnh Parkinson gây rối loạn vận động và nhiều triệu chứng ngoài vận động, đòi hỏi chăm sóc phối hợp. Chuyên khảo tổng hợp có chọn lọc các nghiên cứu về châm cứu, nhĩ châm và kích thích thần kinh qua da ở tai, cập nhật đến tháng 10 năm 2026. Một số thử nghiệm đối chứng ghi nhận châm cứu cải thiện giấc ngủ, lo âu, táo bón và chức năng vận động khi bổ sung vào điều trị thuốc. Tuy nhiên, kết quả không đồng nhất; bằng chứng trực tiếp về nhĩ châm còn hạn chế. Dữ liệu hình ảnh não, nội tiết và yếu tố dinh dưỡng thần kinh gợi ý cơ chế điều biến thần kinh nhưng chưa chứng minh tác dụng làm chậm bệnh. Việc ứng dụng cần xác định mục tiêu triệu chứng, chuẩn hóa đánh giá, bảo đảm an toàn và tiếp tục điều trị nền.
Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Tóm tắt - Bài viết phân tích di sản Hoàng Đôn Hòa và Hoạt nhân toát yếu theo cách tiếp cận liên ngành. Tư liệu gồm bản dịch năm 1980, thư mục bản Hán Nôm A.2535 và nghiên cứu liên quan. Cần phân biệt nguyên tác gắn với Hoàng Đôn Hòa, bản tăng bổ của Trịnh Đôn Phác và dịch hiện đại. Tác phẩm là phương thư thực hành, chú trọng thuốc Nam, bệnh cấp, ngoại thương, phụ khoa, nhi khoa, thú y và dưỡng sinh. Tam hoàng hoàn và Thần ứng hoàn phản ánh tư duy bào chế thích ứng với dịch bệnh và hành quân, nhưng cần kiểm soát độc tính của hùng hoàng, hoàng nàn và chu sa. Di sản nên được bảo tồn bằng khảo cứu văn bản, số hóa, chuẩn hóa dược liệu, đánh giá an toàn và giáo dục y đức; không phục dựng nguyên xi toa thuốc cổ để tự điều trị.
Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

TÓM TẮT - Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhóm E có gánh nặng triệu chứng và nguy cơ đợt cấp cao. Cấy chỉ có thể tạo kích thích huyệt kéo dài, qua đó hỗ trợ điều hòa thần kinh tự chủ, đáp ứng viêm và khả năng gắng sức, nhưng bằng chứng lâm sàng còn cần được củng cố.
Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tía tô (Perilla frutescens) và gừng tươi (Zingiber officinale) là hai dược liệu được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á để phòng và hỗ trợ điều trị các chứng ngoại cảm phong hàn, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn và một số bệnh lý đường hô hấp. Trong cộng đồng hiện nay, nước lá tía tô phối hợp gừng được sử dụng rộng rãi như một loại đồ uống hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng còn mang tính kinh nghiệm, chưa được chuẩn hóa về chỉ định, thời điểm sử dụng và liều lượng dựa trên y học chứng cứ.

Các tin khác

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

TÓM TẮT
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

TÓM TẮT
Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Tóm tắt: Trước khi chúng ta có được thứ gọi là trí nhớ thì “nó” phải trải qua một quá trình hình thành tuần tự như sau: Khi chúng ta nhìn, nghe hoặc cảm nhận thấy một sự vật hoặc một hiện tượng nào đó, bộ não sẽ ghi nhớ những điều này và tự sắp xếp lại. Khi chúng ta lặp đi lặp lại những điều này, não bộ sẽ tự động chuyển những dữ liệu đã được sắp xếp đó từ trí nhớ tạm thời thành trí nhớ dài hạn.
Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

TÓM TẮT:
Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tóm tắt: Bài viết tổng quan và đánh giá giá trị ứng dụng của bài thuốc cổ phương Lục nhất tán (tỷ lệ 6 phần Hoạt thạch : 1 phần Cam thảo) trong công tác phòng chống và điều trị dịch sốt xuất huyết (SXH) Dengue. Dưới góc nhìn y học cổ truyền kết hợp thực tiễn quân y (đặc biệt tại Bệnh viện Y học cổ truyền Quân đội), bài thuốc đóng vai trò hiệp đồng quan trọng trong giai đoạn khởi phát và toàn phát nhờ các cơ chế: thanh nhiệt, giải thử, ích khí, dưỡng âm, lợi niệu và bảo vệ thành mạch. Việc kết hợp linh hoạt Lục nhất tán với các dược liệu lương huyết, chỉ huyết (như Cỏ nhọ nồi, Rễ cỏ tranh) giúp giảm nhanh triệu chứng sốt cao, bảo vệ chức năng gan thận, hỗ trợ ngăn ngừa biến chứng xuất huyết và thúc đẩy quá trình hồi phục của người bệnh. Từ khóa: Lục Nhất tán; chứng xuất huyết; phục hồi.
Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

TÓM TẮT: Đột quỵ não là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn cầu. Phần lớn bệnh nhân sau đột quỵ phải đối mặt với các di chứng như liệt vận động, co cứng cơ, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn nuốt và suy giảm nhận thức, làm giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Trong những năm gần đây, xu hướng kết hợp y học cổ truyền với phục hồi chức năng hiện đại ngày càng được quan tâm nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi thần kinh.
Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

TÓM TẮT: Rau má (Centella asiatica) là một dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền của nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Loại thảo dược này được sử dụng rộng rãi với các công dụng như thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm và hỗ trợ phục hồi tổn thương mô. Bài viết tổng hợp các tư liệu từ y học cổ truyền và nghiên cứu khoa học hiện đại nhằm phân tích giá trị dược liệu của rau má đối với sức khỏe con người. Kết quả cho thấy rau má chứa nhiều hoạt chất sinh học quan trọng như triterpenoid, flavonoid và saponin, có tác dụng chống oxy hóa, tăng cường tuần hoàn, hỗ trợ tái tạo da và cải thiện chức năng thần kinh. Việc khai thác và phát triển dược liệu rau má không chỉ góp phần bảo tồn nguồn dược liệu truyền thống mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm y học.
Xem thêm
Phiên bản di động