Postpartum Urinary Retention in Relation to 'Long Bi' Syndrome Patterns in Traditional Medicine

Thể bệnh bí tiểu sau sinh với các hội chứng bệnh chứng Long bế của Y học cổ truyền có mối liên quan gì?

Trên lâm sàng bí tiểu sau sinh được định nghĩa là sản phụ sau sinh được tính theo thời gian khoảng 6 giờ thai sổ trở lên bị rắc rối khi đi tiểu, đi cảm giác không hết, đi nhiều lần. Lượng nước tiểu sau mỗi lần không đi hết gọi là nước tiểu tồn dư trong bàng quang. Khi lượng nước tiểu tồn dư nhiều hơn 150ml, hoặc qua nhiều lần tích trữ tồn lưu có thể đạt 400ml (thể tích thành lập cầu bàng quang - quá thể tích này có nguy cơ ứ nước thận) gây ra cảm giác bức bối khó chịu đều được chẩn đoán là bí tiểu sau sinh. Hiện tượng khó chịu này thường được cơ thể tự điều chỉnh phục hồi trong vòng 2-3 ngày, nhưng cũng có khoảng 11-14% sản phụ sau khi sinh không tự phục hồi phải cần nhờ can thiệp y khoa do có cầu bàng quang. Như vậy bí tiểu sau sinh là tình trạng rối loạn cơ năng có thể tự phục hồi, không phải do có khối choán chỗ gây tắc đường tiểu.

Từ khóa: Bí tiểu; Long bế; Sau sinh.

Summary:

Clinically, postpartum urinary retention is defined as difficulty in urination occurring approximately six hours or more after delivery. This condition is characterized by incomplete voiding, frequent urination, and a persistent feeling of bladder fullness. The volume of urine remaining in the bladder after voiding is referred to as post-void residual (PVR) urine. When the PVR exceeds 150 ml, or in cases of repeated retention reaching up to 400 ml (the volume at which a distended bladder—bladder globe—is formed, increasing the risk of hydronephrosis), a diagnosis of postpartum urinary retention is made.

This condition is often transient and self-limiting, resolving spontaneously within 2–3 days. However, approximately 11–14% of postpartum women fail to recover spontaneously and require medical intervention due to the formation of a bladder globe. Therefore, postpartum urinary retention is considered a functional disorder that is typically reversible and not caused by space-occupying lesions obstructing the urinary tract.

Keywords: Urinary retention; Long bế (urinary obstruction in traditional medicine); Postpartum.

Thể bệnh bí tiểu sau sinh với các hội chứng bệnh chứng Long bế của Y học cổ truyền có mối liên quan gì?
Phụ nữ sau sinh có nhiều vấn đề về sức khỏe cần được quan tâm. Ảnh minh họa

Bí tiểu được hiểu như thế nào?

Bí tiểu là tình trạng bàng quang chứa đầy nước tiểu nhưng không đi tiểu được hoặc có đi tiểu nhưng sự tống tháo nước tiểu không làm bàng quang được rỗng hoàn toàn gây cho người bệnh cảm giác khó chịu và luôn muốn đi tiểu. Bí tiểu có nhiều nguyên nhân gây ra. Người sản phụ sau cuộc chuyển dạ sinh đẻ có tình trạng bí tiểu được gọi là bí tiểu sau sinh.

Trên lâm sàng bí tiểu sau sinh được định nghĩa là sản phụ sau sinh được tính theo thời gian khoảng 6 giờ thai sổ trở lên bị rắc rối khi đi tiểu, đi cảm giác không hết, đi nhiều lần. Lượng nước tiểu sau mỗi lần không đi hết gọi là nước tiểu tồn dư trong bàng quang. Khi lượng nước tiểu tồn dư nhiều hơn 150ml, hoặc qua nhiều lần tích trữ tồn lưu có thể đạt 400ml (thể tích thành lập cầu bàng quang - quá thể tích này có nguy cơ ứ nước thận) gây ra cảm giác bức bối khó chịu đều được chẩn đoán là bí tiểu sau sinh. Hiện tượng khó chịu này thường được cơ thể tự điều chỉnh phục hồi trong vòng 2-3 ngày, nhưng cũng có khoảng 11-14% sản phụ sau khi sinh không tự phục hồi phải cần nhờ can thiệp y khoa do có cầu bàng quang. Như vậy bí tiểu sau sinh là tình trạng rối loạn cơ năng có thể tự phục hồi, không phải do có khối choán chỗ gây tắc đường tiểu.

Bí tiểu sau sanh được mô tả trong y văn cổ thuộc phạm vi chứng Long bế, cũng có sách ghi Lung bế.

Sách Tố Vấn trong cuốn Ngũ Thường Chí đại luận viết về chứng Long bế: Long có nghĩa là đường ống dài như rồng rắn, bế chỉ dòng chảy không trơn tru thông sướng, tiểu tiện ít, tiểu không dễ dàng. Sách Linh khu kinh mạch gọi là Lung bế: Lung có nghĩa là phần bao, hay chức năng hoạt động phủ Bàng quang (Hải Thượng Lãn ông gọi là bọng đái) khi bị rối loạn gây ra tiểu không thông - nhằm chỉ Lung bế là do cơ năng không phải thực thể bị bít tắc giải phẫu gây ra (thạch lâm– sỏi đường niệu, anh thư – phì đại tiền liệt tuyến…). Xét về nghĩa Lung bế chính xác hơn Long bế, nhưng âm đọc Long bế lại dễ hơn Lung bế nên nhiều sách đời sau ghi thành Long bế, ngày nay bệnh danh mã ICD YHCT cũng ghi Long bế.

Sách Cảnh Nhạc toàn thư trong chương Long bế luận chứng gọi là Tiêu thủy bất thông của phụ đạo xán nhiên (bí tiểu sản khoa) để chỉ tình trạng trong phủ Bàng quang có nước tiểu mà không tiểu ra hết của thai phụ thời kỳ tam cá 1, 3 và sản phụ sau cuộc lâm bồn. Nguyên nhân gây ra chứng bệnh là do có thai hoạt động chức năng Tam tiêu tạm thời bị khuy tổn, nước tiểu khó bị tống ra. Sách Tuyên Minh ngũ khí (quyển 23 - Tố Vấn) phân loại: Bàng quang bất lợi là Long, không chế ước gây ra són đái, tức Dị niệu. Sách Kỳ Bệnh luận (quyển 47 - Tố Vấn) lại cho rằng: có loại bệnh Long, ngày đi tiểu vài mươi lần, đó là bệnh bất túc. Sách Bản Du (cuốn Linh Khu 2) lại bàn: thực thì Bế long, hư thì Dị niệu. Dị niệu cần phải bổ, Bế long cần phải tả.

Ngày nay việc chữa trị chứng bệnh bằng phương pháp YHCT đạt hiệu quả cao, có rất nhiều lợi thế hơn hẳn các phương pháp của YHHĐ (YHHĐ thường chỉ định đặt sonde đường tiểu - kỹ thuật này rất khó khắc phục rối loạn phản xạ trong khi bản thân cơ thể tự điều chỉnh cũng chỉ trong vòng 2-3 ngày - thời gian hiếm khi gây ra ứ nước thận). Do vậy việc xác định thể bệnh YHHĐ tương đồng với YHCT là việc rất cần thiết nhằm chữa trị mang tính thống nhất khách quan khoa học của cả 2 nền y học.

Theo Y học hiện đại

Từ nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh chứng bí tiểu sau sinh người ta đưa ra được cách phân loại thể bệnh rõ ràng với tiêu chí cụ thể.

Nguyên nhân – yếu tố thuận lợi theo YHHĐ[1][2][3]

Sau khi sinh có hiện tượng bí tiểu thường gặp trong những trường hợp sau:

Cơn chuyển dạ quá dài.

Can thiệp sinh như forcep, hút, nong giãn ngôi thai.

Cắt tầng sinh môn, gây tê, gây mê mổ bắt con.

Thai phụ bị viêm đường tiểu.

Sản phụ sinh con so dư ký.

Bàng quang ngả sau do tử cung đè suốt thời kỳ mang thai.

Cơ chế bệnh sinh

Có ba cơ chế gây bí tiểu sau sinh cơ năng chủ yếu có thể tự điều chỉnh trong vòng 2-3 ngày: hoạt động xung thần kinh giảm (thần kinh không đủ lực gây ra co bóp tống nước tiểu), rối loạn hoạt động thần kinh (thuyết Utomsky gây ức chế hoạt động thần kinh khi bị đau) và phù nề tạm thời cổ bàng quang.

Phản xạ thần kinh trong hoạt động tiểu: Nước tiểu trong bàng quang muốn thoát ra ngoài thông qua phản xạ tiểu tự động bao gồm phản xạ mắc tiểu, cơ cổ bàng quang mở, cơ thành bàng quang co, phản xạ rặn ép hết nước tiểu ra ngoài. Trường hợp do hoạt động thần kinh không gây ra được phản xạ đi tiểu (mất cảm giác tiểu, cơ bàng quang không co) do tổn thương thần kinh niệu khung chậu, do thuốc ức chế thần kinh (gây mê, gây tê) thường gây ra đờ tử cung (không có xung thần kinh hoạt động), biểu hiện có cầu bàng quang căng nhưng không có cảm giác mắc tiểu. Trường hợp có cảm giác mắc tiểu nhưng do hoạt động thần kinh không đạt được một đáp ứng co cơ tống nước tiểu ra là hiện tượng truyền xung thần kinh không đạt hiệu quả. Trường hợp này thường gặp ở người chuyển dạ kéo dài, sức khỏe yếu, cơ lực thành bàng quang co bóp yếu, cơ ổ bụng gây áp lực rặn tiểu cũng không được, dù cổ bàng quang mở nước tiểu cũng chỉ chảy rỉ rả mà không tạo được dòng chảy.

Khoảng thời gian cầu thận lọc kể từ ngôi thai lọt xuống tiểu khung (ép tống nước tiểu và phân - thời điểm tính bàng quang rỗng) đến khi sinh xong và cần thêm thời gian khoảng 6 giờ để nước tiểu đầy bàng quang (khoảng 350ml). Bàng quang đầy sẽ kích thích phản xạ đi tiểu: sản phụ cảm nhận sự kích thích muốn đi tiểu, cơ cổ bàng quang mở, cơ thành bàng quang co và động tắc rặn tiểu nhằm tống tháo nước tiểu. Mỗi lần tiểu không hết, nước tiểu tồn dư tích lũy làm thời gian mắc tiểu ngắn dần, có khi đi tiểu liên tục. Thời gian tiểu khó thường trong vòng 2- 3 ngày - thời gian hưng phấn thần kinh dần hồi phục (xung thần kinh đạt hiệu quả), hoặc hết cảm giác đau do can thệp khi sinh và cổ bàng quang phù nề chuyển trạng thái ổn định hoàn toàn.

Sản phụ trong quá trình chuyển dạ, khi ngôi thai xuống thấp quá lâu sẽ thúc đè vào cổ bàng quang làm cổ bàng quang bị “tê bì”, kém nhạy cảm với các kích thích, cần phải có thời gian 2-3 ngày để tính nhạy cảm trở lại bình thường. Sức khỏe sản phụ yếu làm cơn chuyển dạ quá lâu cũng làm cổ bàng quang bị kém nhạy cảm với kích thích của thần kinh, nước tiểu tống ra không hết gây tồn lưu. Sự ứ nước tiểu tồn lưu kiểu cộng dồn làm bàng quang ngày càng bị căng giãn, khi giãn quá mức làm mất trương lực cơ thành bàng quang, việc co bóp càng rối loạn, sản phụ càng khó tiểu. Đây là lý do hướng dẫn sản phụ tập phản xạ tiểu theo chu kỳ sinh học 5-7 lần/ ngày (khi thông tiểu rất khó tập, việc phục hồi ở sản phụ thông tiểu thường chậm hơn đáng kể).

Cổ bàng quang phù nề không thực sự mở rộng gây ra thoát nước tiểu không hết. Phù nề cổ bàng quang đa phần có tiền căn bí tiểu giai đoạn tam cá 3 và do nước tiểu bị cô đặc do uống ít nước gây ra phù cổ bàng quang theo cơ chế phù mạch (urticaria – phù nề nhanh tự mất đi không để lại dấu vết), không phải sưng nề do viêm. Phù nề này vừa gây tồn dư nước tiểu vừa gây kích thích phản xạ đi tiểu nhiều lần. Nếu để tình trạng phù nề lâu, tế bào viêm tập trung chuyển sang tổn thương viêm, vi khuẩn xâm nhập, đi tiểu có kèm cảm giác gắt và buốt. Thông qua xét nghiệm nước tiểu có thể chẩn đoán viêm hay phù nề.

Tránh ngôi thai lọt nằm quá lâu trong tiểu khung, người ta thường cắt tầng sinh môn để giúp cho đầu thai nhi sổ ra được dễ dàng. Việc khâu lại phục hồi tầng sinh môn gây đau đớn khiến người mẹ khi đi tiểu không dám rặn tiểu, vả lại nước tiểu tràn vào mô tổn thương gây xót. Đau trong điều kiện cơ lực yếu khó tạo một xung truyền thần kinh đủ lực, điều này cũng làm cho nước tiểu thoát ra ngoài khó khăn hơn. Không nên nhầm triệu chứng xót do mô tổn thương bị dính nước tiểu (chỉ khi đi tiểu thấy xót) và tiểu gắt, tiểu buốt do viêm (đau mơ hồ và cảm giác gắt buốt kể cả lúc không tiểu, và cảm giác gắt buốt không đau bằng xót). Việc đặt thông tiểu bí tiểu sau sinh thường gây tổn thương viêm cổ bàng quang, làm cho triệu chứng bí tiểu thể hiện rõ rệt hơn.

Các thể bệnh theo YHHĐ:

- Chia thể bệnh bí tiểu sau sinh theo triệu chứng có liên quan hệ niệu và toàn thân

Cơn chuyển dạ quá dài: thai nhi quá lớn, mất sức do cơ chuyển dạ làm sản phụ rặn sinh sớm….

Thể trạng sản phụ quá yếu

Trong khi sinh giảm khối lượng tuần hoàn, tụt huyết áp

Sinh quá nhanh gây rách đường âm đạo.

Đã từng đặt sonde thông tiểu trước sinh.

Sinh mổ.

- Chia thể bệnh bí tiểu sau sinh theo triệu chứng khối lượng nước tiểu tồn dư

Cầu bàng quang ( nước tiểu tồn dư <350ml)

Nguy cơ ứ nước thận ( 400ml)

- Chia thể bệnh bí tiểu sau sinh theo nhóm nguyên nhân

Cắt tầng sinh môn

Can thiệp sinh (forcep, hút…)

Viêm đường niệu

Cơn chuyển dạ kéo dài: sức sản phụ yếu….

Theo Y học cổ truyền

Long bế phụ đạo xán nhiên là tình trạng bí tiểu cơ năng, thường gặp bí tiểu ở các giai đoạn tam cá 1, 3 và hậu lâm bồn (ngay sau khi sinh nở).

Nguyên nhân YHCT

Các nguyên nhân gây Long bế hậu lâm bồn thường gặp:

- Tà nội sinh Thấp nhiệt, Hoả uất ở Hạ tiêu trước đó cản trở thông thoát của Tam tiêu, lạc thủy Tam tiêu sai đường tràn ra gây hẹp cửa phủ Bàng quang. Hỏa nhiệt làm nước tiểu bị chưng đốt, cô đặc làm lượng nước tiểu bị giảm, triệu chứng đi tiểu ít mà vàng đặc, tiểu nóng không thông sướng, phải đi nhiều lần.

- Sự can thiệp cuộc sinh: sinh mổ, cắt tầng sinh môn, forcep… là những nguyên nhân sang chấn bất nội ngoại nhân gây đau (chứng thống), YHCT gọi là Huyết ứ. Sang chấn làm kinh lạc mạch Đốc bị tắc trở, Khí cơ Bàng quang không thực hiện chức năng thông lâm.

- Thận khí sản phụ khuy tổn (Thận khí đầy thịnh mới thụ thai được, nhưng trong suốt quá trình mang thai buộc phải dồn hết tinh lực cho ấu tử phát triển, khi sinh phải dồn hết Khí, Huyết cho cuộc lâm bồn), tác động đến Khí của mạch Đốc không điều hòa nổi Bàng quang, lâm không thông suốt. Với một số sản phụ trong quá trình mang thai tình chí bị uất ức (nội nhân) có thể ảnh hưởng tới Can, Can mộc hư mà Thận thủy không đầy khó nuôi dưỡng. Khi lâm bồn Thận khí suy sụp rất nhanh, người mệt không có sức rặn.

Cơ chế bệnh sinh

Nội kinh ghi rõ “Bàng quang có chức năng làm tân dịch được khí hóa thì thành ra nước tiểu. … thủy đạo Bàng quang không thông thì nước tiểu không có lối chảy ra, bí tắc lại”. Như vậy, bí tắc tiểu do hai trường hợp:

- Trường hợp 1 (Tam tiêu điều thủy): “Tam tiêu có chức phận khơi thông thủy đạo do đó mà ra”. Tam tiêu không đưa tân dịch về Bàng quang, Bàng quang không có tân dịch khí hóa thì không có nước tiểu (vô niệu). Trường hợp này sản phụ không có nước tiểu trong phủ Bàng quang (Hải Thượng Lãn Ông gọi là bọng đái) nên không có phản xạ mắc đi tiểu. Có các khả năng xảy ra:

+ Tam tiêu khô hạn do mất Tân dịch khi lâm bồn (trụy mạch do thiếu tân dịch, mất nước, mất máu trong quá trình chuyển dạ). Trường hợp này gọi là vô niệu do Âm Dương muốn thoát, không phải bí tiểu.

+ Thủy dịch Tam tiêu sai đường (tân dịch tràn ra làm sản phụ bị phù thũng, áp lực keo giảm, không đủ độ chênh áp lực qua màng lọc cầu thận, nước tiểu giảm). Thủy dịch ở lạc mạch Bàng quang tràn ra gây chứng ma chẩn phủ Bàng quang (phù mạch cổ bàng quang). Sau 2-3 ngày phù (chẩn) biến mất không để lại dấu vết (ma). Do vậy, sách cổ xếp hội chứng bệnh vào Thấp nhiệt hạ tiêu.

+ Tam tiêu bị cản trở thông lâm: bít lấp, hẹp cửa thông lâm (sưng nề, khối choán chỗ). Trường hợp này do Nhiệt uất ứ kéo tà Thấp lục dâm gây ra (viêm có hoặc không có vi khuẩn tại bàng quang hoặc cả bàng quang). Đây là chứng Bàng quang Thấp nhiệt, không phải Thấp nhiệt hạ tiêu.

- Trường hợp 2 (chức năng Bàng quang rối loạn): trong phủ Bàng quang có nước tiểu chứng tỏ Bàng quang đã khí hóa xong nhưng bị bế tắc, nước tiểu không thoát đi hết. Trường hợp này người bệnh vẫn muốn đi nhưng không đi được. YHCT cho rằng mạch Xung Nhâm phục hồi dần nên cảm giác đầy tức bàng quang ngày càng rõ rệt. Có các nguyên nhân:

+ Thể tạng yếu, cuộc lâm bồn kéo dài, Bàng quang không tiếp nhận được Khí của mạch Đốc, khí cơ Bàng quang bị suy yếu, phủ Bàng quang khó tống nước tiểu thoát ra. Đồng thời trong cuộc lâm bồn Thận khí tiêu hao quá nhiều , mất sức không đủ sức rặn tống nước tiểu ra.

+ Can thiệp lâm bồn như mổ, cắt tầng sinh môn, forcep… gây tình trạng Huyết ứ làm kinh lạc Hạ tiêu không thông, tất thống (đau). Chứng ứ gây đau này làm việc lưu chuyển Khí mạch Đốc đến Bàng quang không được thông suốt, việc đi tiểu cũng không thông.

+ Nhịn tiểu, uống nước it, bí tiểu giai đoạn tam cá 3 là cơ sở để tà Thấp, Nhiệt nội sinh uất ứ không cho Tam tiêu thông lâm, lạc thủy tràn ra, gây ma chẩn phù nề cửa phủ Bàng quang, nước tiểu khó thoát.

Như vậy chứng Long bế xán nhiên sau cuộc lâm bồn là bệnh cảnh cơ năng (trường hợp thứ 2), có pháp điều trị điều khí hoặc trục tà lạc thủy Tam tiêu để thông lâm. Cơ sở này để phân loại hội chứng bệnh Long bế hậu lâm bồn trên lâm sàng của YHCT.

c hội chứng bệnh cảnh của YHCT

Thận khí khuy tổn (11 triệu chứng)

Cơn lâm bồn kéo dài, sau lâm bồn tiểu khó, muốn tiểu mà không có sức rặn, yếu đuối, sắc mặt nhạt, tinh thần mệt mỏi, lưng đau, chân tay mỏi yếu, chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế, bộ xích nhược.

Thấp nhiệt hạ tiêu (13 triệu chứng)

Bí tiểu từ thời kỳ tam cá thứ 3, tiểu gắt, tiểu không thông sướng, xích đới ra nhiều, tiểu nhiều lần, tiểu vàng đậm, có khi hôi đục, bụng dưới căng tức, khát, rêu lưỡi vàng, đại tiện khó, chất lưỡi đỏ, mạch sác.

Huyết ứ (11 triệu chứng)

Lúc lâm bồn phải can thiệp, cắt tầng sinh môn, rách tầng sinh môn. Sau lâm bồn cảm giác đau vùng hạ tiêu nhiều, khi mắc tiểu phải rặn, lượng nước tiểu ít nhưng trong, bụng dưới trướng đau, cử động đau tăng không dám rặn tiểu, tiểu ra thấy xót, chất lưỡi tía có điểm ứ huyết, mạch sáp.

Như vậy có thể thấy, bệnh cảnh chứng Long bế xán nhiên YHCT có 3 hội chứng bệnh cảnh tương thích với các thể bệnh YHHĐ không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Tình trạng Long bế thường gặp ở thai phụ trong thời kỳ tam cá nguyệt thứ ba do đầu thai nhi chúc xuống dưới ép vào cổ bàng quang làm đường niệu bị đè nghẹt, khi lâm bồn quá lâu vẫn xuất hiện chứng Long bế dù có cổ bàng quang đã được giải phóng hoàn toàn đã chứng tỏ cơ lực bàng quang co bóp yếu hoặc đường thoát nước tiểu hẹp. YHHĐ cho rằng sự gắng sức chuyển dạ gây ra truyền xung thần kinh chưa kịp hồi phục phản xạ tiểu. Can thiệp tầng sinh môn gây ra ức chế truyền tín hiệu xung thần kinh do phản xạ đau. Phù nề cổ bàng quang tự mất đi trong vòng 2-3 ngày là do cơ thể tự điều chỉnh mỗi lần rặn tiểu chất hòa tan gây ra phản ứng phù mạch tại cổ bàng quang (trên lâm sàng nhóm phù nề và nhóm viêm đã được chẩn đoán xác định).

Trong hội chứng bệnh Long bế ngày nay không đề cập tình trạng phủ Bàng quang nuy liệt (đờ bàng quang không cảm giác căng muốn tiểu do thuốc gây mê hoặc phẫu thuật tai biến thần kinh ngoại biên) và tình trạng Tam tiêu khô hạn (vô niệu do giảm khối lượng tuần hoàn thận không lọc được). Chứng Long bế Bàng quang Thấp nhiệt (Viêm đường tiết niệu gây bí tiểu sau sinh) là triệu chứng thực thể, phải can thiệp giảm viêm, thậm chí phải thông tiểu.

Châm cứu, xoa bóp mục đích lập lại xung dẫn truyền thần kinh tạo lực bóp tống tháo nước tiểu có hiệu quả, giảm đau theo thuyết cửa thần kinh Utomsky, giảm phù nề cổ bàng quang (giải phóng hóa chất trung gian gây phù mạch tại cổ bàng quang). Do vậy bệnh nhân đi tiểu được.

ThS.Bs Nguyễn Thị Như Thủy/Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông 2026: Lan tỏa giá trị y đức, phát huy tinh hoa y học cổ truyền

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông 2026: Lan tỏa giá trị y đức, phát huy tinh hoa y học cổ truyền

Trong không khí rực rỡ của mùa xuân Bính Ngọ 2026, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông đã trở thành một điểm đến tâm linh, văn hóa và sức khỏe đặc biệt đối với người dân và du khách trên khắp cả nước.
Dự báo thời tiết ngày 3/3/2026: Bắc Bộ có dông rải rác

Dự báo thời tiết ngày 3/3/2026: Bắc Bộ có dông rải rác

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia vừa đưa ra thông tin dự báo thời tiết Hà Nội và các khu vực khác trên cả nước ngày 3/3/2026.
“XIN LỖI - BIẾT ƠN” - Một kênh TikTok chọn gieo hạt thiện lành giữa dòng chảy lướt nhanh

“XIN LỖI - BIẾT ƠN” - Một kênh TikTok chọn gieo hạt thiện lành giữa dòng chảy lướt nhanh

Giữa dòng chảy cuồn cuộn của những video ngắn, nơi nhịp điệu thị giác thường thắng thế chiều sâu suy tư, xuất hiện một kênh TikTok mang tên “XIN LỖI - BIẾT ƠN”.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động