Bảo Tồn Di Sản Nam Dược Gắn Với Du Lịch Sinh Thái

Tóm tắt - Nam dược là một bộ phận quan trọng của di sản y học và văn hóa Việt Nam. Giá trị của Nam dược không chỉ nằm ở nguồn cây thuốc phong phú mà còn kết tinh trong tri thức nhận biết, gây trồng, thu hái, bảo quản, bào chế, phối ngũ và sử dụng cây thuốc của các cộng đồng qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, thương mại hóa thiếu kiểm soát và nguy cơ mai một người truyền nghề, cần chuyển từ bảo tồn riêng lẻ sang bảo tồn sống, gắn chủ thể cộng đồng với sinh kế bền vững. Chuyên khảo đề xuất phát triển vùng dược liệu theo chuỗi giá trị và xây dựng du lịch sinh thái – Nam dược trên nền tảng “5B”: Bảo tồn, Bản địa, Bằng chứng, Bền vững và Bình đẳng lợi ích. Mô hình này có thể góp phần bảo vệ nguồn gen, gìn giữ tri thức dân gian, nâng cao giá trị dược liệu, tạo việc làm tại chỗ và quảng bá bản sắc y học Việt Nam; đồng thời phải bảo đảm an toàn, đạo đức, quyền sở hữu tri thức và giới hạn sức tải của hệ sinh thái.

Abstract

Vietnamese herbal medicine (Nam dược) constitutes an important component of Viet Nam’s medical and cultural heritage. Its value lies not only in medicinal plant resources but also in community-based knowledge and practices concerning identification, cultivation, harvesting, processing, formulation and use. In the face of biodiversity loss, climate change, uncontrolled commercialization and declining intergenerational transmission, preservation should evolve from static documentation to living safeguarding linked with sustainable livelihoods. This paper proposes medicinal-material value chains and an eco-tourism model based on five principles: Conservation, Indigeneity, Evidence, Sustainability and Equitable benefit-sharing. Such an approach may protect genetic resources, sustain traditional knowledge, increase local value, create community-based livelihoods and promote Vietnamese medical identity, provided that safety, ethics, knowledge holders’ rights and ecosystem carrying capacity are strictly protected.

Keywords: Vietnamese herbal medicine; intangible cultural heritage; medicinal plants; indigenous knowledge; ecotourism; wellness tourism.

Nam dược – di sản sống của dân tộc

Từ tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân” của Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh, việc sử dụng cây thuốc của đất nước mình để chăm sóc sức khỏe cho người dân mình đã trở thành một mạch nguồn bền bỉ của y học Việt Nam. Qua nhiều thế hệ, nhân dân các vùng đồng bằng, trung du, miền núi và hải đảo đã tích lũy kho tri thức phong phú về cây thuốc, mùa vụ, bộ phận dùng, cách sơ chế, phối hợp vị thuốc, kiêng kỵ và kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe trong từng điều kiện sinh thái.

Cần phân biệt rõ: cây thuốc và nguồn gen là tài nguyên sinh học; còn tri thức, kỹ năng, tập quán, phương thức thực hành và truyền dạy liên quan đến cây thuốc mới là di sản văn hóa phi vật thể. Theo Công ước năm 2003 của UNESCO, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm cả tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; di sản ấy được cộng đồng không ngừng tái tạo trong mối quan hệ với môi trường và lịch sử của mình [1]. Vì vậy, bảo tồn Nam dược không thể chỉ dừng ở việc lập vườn cây mẫu, lưu giữ tiêu bản hay ghi chép bài thuốc. Điều cốt lõi là duy trì được cộng đồng thực hành, người nắm giữ tri thức, môi trường sinh thái và cơ chế truyền nghề.

Nam dược đang đứng trước nhiều sức ép. Một số loài quý bị khai thác quá mức; sinh cảnh tự nhiên bị thu hẹp; chất lượng dược liệu không đồng đều; tình trạng nhầm loài, pha trộn hoặc sử dụng sai bộ phận cây thuốc vẫn có thể xảy ra. Ở nhiều nơi, lớp trẻ ít theo nghề, trong khi tri thức của các lương y, thầy thuốc và người có uy tín trong cộng đồng chưa được kiểm kê, số hóa và truyền lại có hệ thống. Mặt khác, nếu thương mại hóa thiếu kiểm soát, tri thức cộng đồng có thể bị khai thác mà chủ thể di sản không được ghi nhận hoặc hưởng lợi tương xứng.

Từ bảo tồn tĩnh đến bảo tồn sống

Bảo tồn hiệu quả phải làm cho di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại. Người dân chỉ có thể duy trì vùng cây thuốc và truyền dạy kinh nghiệm khi tri thức ấy được tôn trọng, tạo ra sinh kế chính đáng và có người kế tục. Do đó, cần đồng thời bảo tồn ba nguồn vốn: vốn tự nhiên là hệ sinh thái và nguồn gen; vốn văn hóa là tri thức và thực hành Nam dược; vốn xã hội là cộng đồng, lương y, nghệ nhân và mạng lưới truyền nghề.

Trước hết, các địa phương cần điều tra, lập bản đồ cây thuốc và kiểm kê tri thức Nam dược theo từng vùng văn hóa – sinh thái. Hồ sơ không chỉ ghi tên cây và công dụng dân gian mà cần mô tả tên khoa học đã được xác định, bộ phận dùng, mùa thu hái, cách sơ chế, người nắm giữ tri thức, phạm vi phổ biến và tình trạng bảo tồn. Việc ghi âm, ghi hình, số hóa phải có sự đồng thuận của chủ thể tri thức; những bí quyết nghề nghiệp hoặc bài thuốc gia truyền không được công bố tùy tiện.

Thứ hai, cần khôi phục hình thức truyền nghề tại cộng đồng, kết hợp kinh nghiệm của lương y với kiến thức về thực vật học, dược học, bảo tồn đa dạng sinh học và an toàn sử dụng. Người nắm giữ tri thức cần được tôn vinh, hỗ trợ đào tạo người kế cận và tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng sản phẩm văn hóa – du lịch.

Thứ ba, phải gắn bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển vị. Loài cây phù hợp nên được nhân giống và phát triển trong vườn hộ, vườn thuốc Nam của trạm y tế, trường học, cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền và vườn bảo tồn cộng đồng. Đối với loài quý hiếm, cần có ngân hàng giống, nghiên cứu nhân giống và quy trình khai thác không làm tổn hại quần thể tự nhiên.

Phát triển vùng dược liệu theo chuỗi giá trị xanh

Quy hoạch phát triển dược liệu đến năm 2030 và các chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu trong nước đã xác định yêu cầu bảo tồn, khai thác bền vững và hình thành vùng trồng tập trung [2–4]. Tuy nhiên, vùng dược liệu chỉ bền vững khi giải quyết đồng thời đầu ra, chất lượng và lợi ích của người trồng.

Mỗi địa phương không nên phát triển dàn trải mà cần lựa chọn nhóm cây chủ lực dựa trên điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tri thức bản địa, nhu cầu thị trường và khả năng chế biến. Quy hoạch phải tránh phá rừng tự nhiên để trồng dược liệu; ưu tiên mô hình nông – lâm kết hợp, trồng dưới tán rừng phù hợp và phục hồi sinh cảnh. Việc mở rộng diện tích cần đi cùng đánh giá tác động môi trường và sức tải của nguồn nước, đất và đa dạng sinh học.

Chuỗi giá trị cần được tổ chức từ giống chuẩn, canh tác, thu hái, sơ chế, bảo quản, kiểm nghiệm đến chế biến và tiêu thụ. Thực hành tốt nuôi trồng và thu hái cây thuốc theo hướng dẫn GACP của Tổ chức Y tế thế giới là cơ sở quan trọng để kiểm soát đúng loài, điều kiện trồng, thời điểm thu hái, tồn dư hóa chất và truy xuất nguồn gốc [5]. Có thể ứng dụng mã số vùng trồng, nhật ký điện tử và mã QR để người tiêu dùng biết được nguồn giống, nơi trồng, thời gian thu hái, đơn vị kiểm nghiệm và cơ sở chế biến.

Liên kết “nhà nông – hợp tác xã – nhà khoa học – cơ sở y dược – doanh nghiệp – chính quyền” cần được cụ thể hóa bằng hợp đồng dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro. Người dân không nên chỉ bán nguyên liệu thô mà cần được tham gia các khâu tạo giá trị cao hơn như sơ chế, chế biến trà thảo dược, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, quà tặng địa phương và dịch vụ trải nghiệm. Mọi sản phẩm có công bố tác dụng phòng, chữa bệnh phải tuân thủ pháp luật về dược, khám chữa bệnh, an toàn thực phẩm và quảng cáo; không được dùng câu chuyện di sản để thay thế bằng chứng khoa học.

Nam dược gắn với du lịch sinh thái – hướng đi nhiều tiềm năng

Du lịch sinh thái – Nam dược không phải là đưa khách vào rừng để tự do hái cây thuốc. Đây phải là sản phẩm giáo dục, trải nghiệm và chăm sóc sức khỏe có kiểm soát, giúp du khách hiểu mối liên hệ giữa con người, cây thuốc, văn hóa và hệ sinh thái.

Một điểm đến có thể hình thành tuyến trải nghiệm gồm: tham quan vườn bảo tồn; nhận biết một số cây thuốc thông dụng; nghe lương y hoặc người nắm giữ tri thức kể chuyện nghề; quan sát cách trồng, thu hái, phơi sấy và bào chế; trải nghiệm ẩm thực dược thiện hoặc sản phẩm chăm sóc sức khỏe phù hợp; mua sản phẩm có nguồn gốc minh bạch. Các vùng có bản sắc rõ như vùng thuốc của người Dao, vùng quế – hồi, vùng atisô, vùng sâm và các làng nghề thuốc Nam có thể phát triển câu chuyện riêng, nhưng phải do cộng đồng địa phương tham gia kiến tạo và thuyết minh.

Du lịch tạo thêm nguồn thu để duy trì vườn giống, trả công người truyền dạy, đào tạo hướng dẫn viên bản địa và khuyến khích thế hệ trẻ học nghề. Ngược lại, di sản và cảnh quan làm cho sản phẩm du lịch có chiều sâu, khác biệt với mô hình nghỉ dưỡng đơn thuần. Đây là mối quan hệ hai chiều: di sản tạo giá trị cho du lịch; du lịch có trách nhiệm tạo nguồn lực trở lại cho bảo tồn.

Tuy nhiên, cần nhận diện các nguy cơ: khai thác cây rừng làm quà lưu niệm; trình diễn sai lệch nghi lễ; tiết lộ bài thuốc bí truyền; quảng cáo chữa bách bệnh; cung cấp dịch vụ ngâm, tắm hoặc dùng thảo dược không sàng lọc nguy cơ dị ứng và tương tác thuốc; rác thải, tiếng ồn và lượng khách vượt sức tải. Vì vậy, mỗi điểm đến phải có quy tắc ứng xử, danh mục trải nghiệm được phép, hướng dẫn an toàn, nhân lực y tế khi cung cấp dịch vụ liên quan sức khỏe và quy trình giám sát tác động môi trường.

Đề xuất mô hình “5B”

Để kết nối bảo tồn di sản, vùng dược liệu và du lịch sinh thái, có thể vận dụng mô hình 5B:

Bảo tồn: Bảo vệ nguồn gen, sinh cảnh, tri thức và người thực hành; ưu tiên bảo tồn tại chỗ, phục hồi loài bản địa và truyền dạy giữa các thế hệ.

Bản địa: Cộng đồng là chủ thể, không phải “phông nền” cho du lịch. Tên gọi, câu chuyện, quy trình thực hành và không gian văn hóa phải được trình bày trung thực, có sự đồng thuận của cộng đồng.

Bằng chứng: Định danh đúng loài, chuẩn hóa chất lượng, nghiên cứu an toàn và hiệu quả; phân biệt rõ kinh nghiệm dân gian với chỉ định đã có bằng chứng. Không thương mại hóa bằng các tuyên bố quá mức.

Bền vững: Canh tác thích ứng khí hậu, không phá rừng, không tận thu, kiểm soát sức tải du lịch, giảm rác thải và sử dụng tài nguyên tiết kiệm. Mỗi sản phẩm bán ra cần đóng góp trở lại cho bảo tồn.

Bình đẳng lợi ích: Tôn trọng quyền của người nắm giữ tri thức; thỏa thuận trước khi ghi chép, nghiên cứu hoặc thương mại hóa; công khai cơ chế phân chia lợi ích cho hộ trồng, hợp tác xã, người truyền nghề và quỹ cộng đồng. Nguyên tắc này phù hợp với tinh thần của Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen và tri thức truyền thống liên quan [6].

Một số kiến nghị

Một là, xây dựng chương trình quốc gia kiểm kê và số hóa di sản Nam dược, trước mắt ưu tiên những cộng đồng có tri thức phong phú nhưng người truyền nghề cao tuổi hoặc sinh cảnh cây thuốc đang suy giảm.

Hai là, lựa chọn một số địa phương làm mô hình thí điểm “vùng dược liệu – làng nghề – điểm du lịch sinh thái – chăm sóc sức khỏe”, có bộ tiêu chí chung về tài nguyên, văn hóa, chất lượng dược liệu, an toàn và chia sẻ lợi ích.

Ba là, hình thành cơ chế phối hợp liên ngành giữa y tế, văn hóa, nông nghiệp, môi trường, khoa học – công nghệ và du lịch. Bảo tồn Nam dược là lĩnh vực giao thoa, không thể giao riêng cho một ngành.

Bốn là, hỗ trợ hợp tác xã và hộ dân tiếp cận giống chuẩn, quy trình GACP, kiểm nghiệm, sơ chế, xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sản phẩm OCOP và chuyển đổi số; đồng thời có hợp đồng bao tiêu để hạn chế phát triển tự phát theo phong trào.

Năm là, đào tạo hướng dẫn viên Nam dược tại cộng đồng. Nội dung đào tạo cần bao gồm kiến thức cây thuốc, lịch sử y học dân tộc, kỹ năng diễn giải di sản, sơ cứu, an toàn cho du khách, bảo vệ dữ liệu tri thức và đạo đức nghề nghiệp.

Sáu là, phát huy vai trò của Hội Nam y Việt Nam trong kết nối lương y, nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương; tham gia kiểm kê tri thức, xây dựng bộ quy tắc đạo đức, phản biện chuyên môn, bồi dưỡng người kế cận và truyền thông đúng về Nam dược.

Kết luận

Nam dược là sự thống nhất giữa tài nguyên cây thuốc, trí tuệ cộng đồng và bản sắc văn hóa Việt Nam. Nếu chỉ khai thác dược liệu mà không giữ rừng, không bảo vệ nguồn gen và không tôn trọng người nắm giữ tri thức, Nam dược sẽ dần mất gốc. Nếu chỉ lưu giữ tư liệu mà không tạo sinh kế và không có thế hệ kế tục, di sản cũng khó tồn tại trong đời sống.

Phát triển vùng dược liệu gắn với du lịch sinh thái – sức khỏe là hướng đi có nhiều triển vọng, nhưng phải lấy bảo tồn làm nền tảng, cộng đồng làm chủ thể, khoa học làm thước đo, an toàn làm giới hạn và chia sẻ lợi ích làm nguyên tắc. Khi đó, mỗi vùng dược liệu không chỉ cung cấp nguyên liệu cho ngành y dược mà còn trở thành một không gian văn hóa Nam dược sống, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh và lan tỏa tinh thần “Nam dược trị Nam nhân” trong thời đại mới.

Tài liệu tham khảo

  1. UNESCO. Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage. Paris: United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization; 2003. Available from: https://ich.unesco.org/en/convention
  2. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Hà Nội; 2013. Available from: https://vbpl.moj.gov.vn/Pages/vbpq-thuoctinh.aspx?ItemID=32402
  3. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội; 2021. Available from: https://vanban.chinhphu.vn/
  4. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 1165/QĐ-TTg ngày 09/10/2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội; 2023.
  5. World Health Organization. WHO guidelines on good agricultural and collection practices (GACP) for medicinal plants. Geneva: World Health Organization; 2003. Available from: https://iris.who.int/handle/10665/42783
  6. Secretariat of the Convention on Biological Diversity. Nagoya Protocol on Access to Genetic Resources and the Fair and Equitable Sharing of Benefits Arising from Their Utilization. Montreal: Convention on Biological Diversity; 2011. Available from: https://www.cbd.int/abs/about
  7. Quốc hội. Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017. Hà Nội; 2017.
  8. Quốc hội. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024. Hà Nội; 2024.
TTƯT, Đại tá, BS CKI Quách Tuấn Vinh Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nam y Việt Nam

Cùng chuyên mục

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

TÓM TẮT: Nghẹt mũi, chảy dịch mũi và đau tức vùng mặt là những triệu chứng thường gặp trong các bệnh lý đường hô hấp trên, trong đó có viêm mũi xoang. Những biểu hiện này có thể xuất hiện hoặc nặng lên trong các giai đoạn thời tiết thay đổi, đồng thời dễ bị nhầm lẫn với cảm lạnh và viêm mũi dị ứng. Việc nhận diện đúng triệu chứng, xác định khả năng mắc bệnh và lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe người bệnh.
Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Người cao tuổi mắc bệnh không lây nhiễm có nhu cầu chăm sóc mắt đồng thời với quản lý bệnh nền. Bài viết tổng quan chọn lọc bằng chứng nhãn khoa và phân tích chính sách y tế Việt Nam đến tháng 10 năm 2026. Nội dung tập trung vào đục thủy tinh thể, bệnh võng mạc đái tháo đường và tổn thương mạch máu võng mạc. Đối chiếu với Nghị quyết 20, Chỉ thị 25, Nghị quyết 72 và hướng dẫn của Bộ Y tế cho thấy cơ sở để lồng ghép chăm sóc mắt vào quản lý bệnh mạn tính. Bài viết đề xuất quy trình nhận diện nguy cơ, sàng lọc, chuyển khám, điều trị và theo dõi tại cộng đồng. Mô hình cần được thí điểm, đánh giá về khả năng tiếp cận, hoàn thành chuyển khám và kết quả thị giác; chưa có dữ liệu thực nghiệm chứng minh hiệu quả.
Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Tóm tắt - Bệnh Parkinson gây rối loạn vận động và nhiều triệu chứng ngoài vận động, đòi hỏi chăm sóc phối hợp. Chuyên khảo tổng hợp có chọn lọc các nghiên cứu về châm cứu, nhĩ châm và kích thích thần kinh qua da ở tai, cập nhật đến tháng 10 năm 2026. Một số thử nghiệm đối chứng ghi nhận châm cứu cải thiện giấc ngủ, lo âu, táo bón và chức năng vận động khi bổ sung vào điều trị thuốc. Tuy nhiên, kết quả không đồng nhất; bằng chứng trực tiếp về nhĩ châm còn hạn chế. Dữ liệu hình ảnh não, nội tiết và yếu tố dinh dưỡng thần kinh gợi ý cơ chế điều biến thần kinh nhưng chưa chứng minh tác dụng làm chậm bệnh. Việc ứng dụng cần xác định mục tiêu triệu chứng, chuẩn hóa đánh giá, bảo đảm an toàn và tiếp tục điều trị nền.
Xạ Đen Và Tiềm Năng Chống Ung Thư Qua Các Nghiên Cứu Trong Nước Và Quốc Tế

Xạ Đen Và Tiềm Năng Chống Ung Thư Qua Các Nghiên Cứu Trong Nước Và Quốc Tế

TÓM TẮT Mục tiêu: Tổng hợp và đánh giá bằng chứng trong nước, quốc tế về thành phần hóa học, hoạt tính chống ung thư và mức độ sẵn sàng ứng dụng lâm sàng của dược liệu thường được gọi là xạ đen; đồng thời làm rõ sự nhầm lẫn giữa xạ đen Hòa Bình (Ehretia asperula Zoll. & Moritzi) và dây gối (Celastrus hindsii Benth.).
Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Tóm tắt - Bài viết phân tích di sản Hoàng Đôn Hòa và Hoạt nhân toát yếu theo cách tiếp cận liên ngành. Tư liệu gồm bản dịch năm 1980, thư mục bản Hán Nôm A.2535 và nghiên cứu liên quan. Cần phân biệt nguyên tác gắn với Hoàng Đôn Hòa, bản tăng bổ của Trịnh Đôn Phác và dịch hiện đại. Tác phẩm là phương thư thực hành, chú trọng thuốc Nam, bệnh cấp, ngoại thương, phụ khoa, nhi khoa, thú y và dưỡng sinh. Tam hoàng hoàn và Thần ứng hoàn phản ánh tư duy bào chế thích ứng với dịch bệnh và hành quân, nhưng cần kiểm soát độc tính của hùng hoàng, hoàng nàn và chu sa. Di sản nên được bảo tồn bằng khảo cứu văn bản, số hóa, chuẩn hóa dược liệu, đánh giá an toàn và giáo dục y đức; không phục dựng nguyên xi toa thuốc cổ để tự điều trị.
Trong Nâng Tầm Giá Trị Được Trao Truyền – Từ Hai Trường Hợp Phấn Nụ Hoàng Cung Và Thảo Dược Bà Thông

Trong Nâng Tầm Giá Trị Được Trao Truyền – Từ Hai Trường Hợp Phấn Nụ Hoàng Cung Và Thảo Dược Bà Thông

TÓM TẮT - Nghiên cứu phân tích quá trình phát triển của hai doanh nghiệp đại diện cho hai dạng giá trị được trao truyền trong gia đình: Phấn Nụ Hoàng Cung, với nghề mỹ phẩm truyền thống gắn với ký ức văn hóa Huế, và Thảo dược Bà Thông, với tri thức, bài thuốc và kinh nghiệm y dược cổ truyền được truyền qua các thế hệ. Nghiên cứu sử dụng Bộ dữ liệu tổng hợp được hình thành từ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe về hệ sinh thái nguồn lực, kết hợp dữ liệu phỏng vấn bán cấu trúc (IDI), tài liệu do doanh nghiệp cung cấp và tư liệu liên quan của hai trường hợp. Quá trình phát triển được phân tích từ điểm xuất phát, mục tiêu, nhu cầu thực tế, tìm kiếm và lựa chọn nguồn lực, tiếp cận, chi phí, thời gian, tương tác/làm lại đến kết quả, giá trị và nhìn lại. Kết quả cho thấy hai doanh nghiệp có con đường khác nhau nhưng đều phải chuyển hóa giá trị được trao truyền thành các hoạt động phát triển có tổ chức hơn về sản phẩm, chất lượng, nghiên cứu, chuẩn hóa, đào tạo, thị trường và ứng dụng. Nguồn lực cần thiết đã tồn tại ở nhiều mắt xích của hệ sinh thái, song khả năng nhận diện, tiếp cận, đánh giá và kết nối đúng nguồn lực vẫn là một điểm cần quan tâm. Từ đó, nghiên cứu nhận diện vai trò bước đầu của kết nối nguồn lực trong quá trình nâng tầm giá trị và gợi mở nhu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu, R&D, phòng kiểm nghiệm, chuyên gia, đào tạo, pháp lý và các chủ thể liên quan.

Các tin khác

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

TÓM TẮT - Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhóm E có gánh nặng triệu chứng và nguy cơ đợt cấp cao. Cấy chỉ có thể tạo kích thích huyệt kéo dài, qua đó hỗ trợ điều hòa thần kinh tự chủ, đáp ứng viêm và khả năng gắng sức, nhưng bằng chứng lâm sàng còn cần được củng cố.
Giá Trị Của Cây Cam Thảo Đất(Scoparia Dulcis L.)  Dưới Góc Nhìn Y Học Cổ Truyền Và Y Dược Học Hiện Đại

Giá Trị Của Cây Cam Thảo Đất(Scoparia Dulcis L.) Dưới Góc Nhìn Y Học Cổ Truyền Và Y Dược Học Hiện Đại

Tóm tắt Cam thảo đất (Scoparia dulcis L.) là dược liệu dùng toàn cây kể cả rễ, được ghi nhận trong dược điển và kinh nghiệm dùng thuốc tại Việt Nam. Dưới góc nhìn y học cổ truyền, dược liệu có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn; quy tỳ, vị, phế, can; có công năng bổ tỳ, sinh tân, nhuận phế, thanh nhiệt giải độc và lợi niệu. Y dược học hiện đại đã phân lập nhiều nhóm chất, nổi bật là diterpenoid kiểu scopadulane và labdane, flavonoid, triterpenoid và coixol. Các nghiên cứu tế bào và động vật gợi ý tác dụng điều hòa glucose, tăng tiết insulin, chống oxy hóa, chống viêm, giảm đau, bảo vệ gan, bảo vệ niêm mạc dạ dày, an thần và kháng vi sinh vật. Bằng chứng lâm sàng trực tiếp còn rất hạn chế; nghiên cứu đáng chú ý nhất là một thử nghiệm bắt chéo trên 35 người bệnh đái tháo đường típ 2 dùng cháo có dịch chiết lá, cho tín hiệu giảm HbA1c nhưng có cỡ mẫu nhỏ, không làm mù và không dùng giả dược. Các tín hiệu an toàn tiền lâm sàng không hoàn toàn đồng nhất: một số nghiên cứu ghi nhận dung nạp cấp và bán trường diễn, trong khi các nghiên cứu khác gợi ý hoạt tính estrogen, ảnh hưởng thai sớm ở chuột và độc tính di truyền in vitro của một flavonoid phân lập. Vì vậy, Cam thảo đất có giá trị rõ ở bình diện dược liệu truyền thống và nguồn chất dẫn đường, nhưng chưa đủ bằng chứng để khẳng định hiệu quả điều trị cho phần lớn chỉ định hiện đại hoặc để thay thế điều trị chuẩn.
Nghiên Cứu Trường Hợp Từ Cà Phê Việt – Thương Hiệu Ngoại Và Những Suy Ngẫm Đối Với Y Dược Cổ Truyền Việt Nam

Nghiên Cứu Trường Hợp Từ Cà Phê Việt – Thương Hiệu Ngoại Và Những Suy Ngẫm Đối Với Y Dược Cổ Truyền Việt Nam

TÓM TẮT: Một sản phẩm cà phê có giá trị cao hơn nhiều so với dạng nguyên liệu ban đầu có thể được nhìn như một case study về cách tài nguyên bản địa được nhận diện, hiện đại hóa và chuyển hóa thành giá trị. Điều đáng nghiên cứu không phải là bản thân cà phê, mà là cơ chế tạo giá trị phía sau: nguồn nguyên liệu → lựa chọn và kiểm soát đầu vào → công nghệ và know-how → chuẩn hóa → phát triển sản phẩm → sở hữu trí tuệ, thương hiệu → thị trường. Đối chiếu với cacao, trà, mỹ phẩm thực vật và chuỗi dược liệu cho thấy logic này có tính lặp lại ở nhiều ngành. Case cà phê vì vậy không phải một công thức để sao chép sang Y dược cổ truyền (YDCT), càng không phải cơ sở để so sánh giản đơn giữa một sản phẩm thực phẩm và một sản phẩm y tế. Nó là một tấm gương để nhìn lại chính mình: Việt Nam có tài nguyên thực vật, dược liệu và một di sản tri thức quý giá, nhưng liệu chúng ta đã thực sự nhìn thấy, làm chủ và chuyển hóa tương xứng các giá trị ấy thành sản phẩm có chất lượng, thương hiệu và vị thế trên thị trường hay chưa? Trong bối cảnh định hướng mới của Nhà nước nhấn mạnh phát triển YDCT trên nền tảng khoa học, công nghệ hiện đại, gắn với kinh tế sức khỏe, công nghiệp dược liệu, thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm, câu hỏi này càng trở nên có ý nghĩa. [1][2][3]
Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tía tô (Perilla frutescens) và gừng tươi (Zingiber officinale) là hai dược liệu được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á để phòng và hỗ trợ điều trị các chứng ngoại cảm phong hàn, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn và một số bệnh lý đường hô hấp. Trong cộng đồng hiện nay, nước lá tía tô phối hợp gừng được sử dụng rộng rãi như một loại đồ uống hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng còn mang tính kinh nghiệm, chưa được chuẩn hóa về chỉ định, thời điểm sử dụng và liều lượng dựa trên y học chứng cứ.
Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Kết Hợp Y Học Hiện Đại Và Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Người Cao Tuổi

Kết Hợp Y Học Hiện Đại Và Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Người Cao Tuổi

Tóm Tắt - Đặt vấn đề: Già hóa dân số làm gia tăng đồng thời bệnh không lây nhiễm, đa bệnh lý, suy giảm chức năng và nhu cầu chăm sóc dài hạn. Mô hình khám chữa bệnh phân mảnh, tập trung vào từng bệnh đơn lẻ, khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu duy trì năng lực nội tại, khả năng tự chủ và chất lượng sống của người cao tuổi. Việt Nam có nền tảng chính trị, pháp lý và thực tiễn thuận lợi để phát triển chăm sóc tích hợp giữa y học hiện đại, y học cổ truyền, phục hồi chức năng và chăm sóc xã hội.
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

TÓM TẮT
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

TÓM TẮT
Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
Xem thêm
Phiên bản di động