Bảo Tồn Di Sản Nam Dược Gắn Với Du Lịch Sinh Thái
Abstract
Vietnamese herbal medicine (Nam dược) constitutes an important component of Viet Nam’s medical and cultural heritage. Its value lies not only in medicinal plant resources but also in community-based knowledge and practices concerning identification, cultivation, harvesting, processing, formulation and use. In the face of biodiversity loss, climate change, uncontrolled commercialization and declining intergenerational transmission, preservation should evolve from static documentation to living safeguarding linked with sustainable livelihoods. This paper proposes medicinal-material value chains and an eco-tourism model based on five principles: Conservation, Indigeneity, Evidence, Sustainability and Equitable benefit-sharing. Such an approach may protect genetic resources, sustain traditional knowledge, increase local value, create community-based livelihoods and promote Vietnamese medical identity, provided that safety, ethics, knowledge holders’ rights and ecosystem carrying capacity are strictly protected.
Keywords: Vietnamese herbal medicine; intangible cultural heritage; medicinal plants; indigenous knowledge; ecotourism; wellness tourism.
Nam dược – di sản sống của dân tộc
Từ tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân” của Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh, việc sử dụng cây thuốc của đất nước mình để chăm sóc sức khỏe cho người dân mình đã trở thành một mạch nguồn bền bỉ của y học Việt Nam. Qua nhiều thế hệ, nhân dân các vùng đồng bằng, trung du, miền núi và hải đảo đã tích lũy kho tri thức phong phú về cây thuốc, mùa vụ, bộ phận dùng, cách sơ chế, phối hợp vị thuốc, kiêng kỵ và kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe trong từng điều kiện sinh thái.
Cần phân biệt rõ: cây thuốc và nguồn gen là tài nguyên sinh học; còn tri thức, kỹ năng, tập quán, phương thức thực hành và truyền dạy liên quan đến cây thuốc mới là di sản văn hóa phi vật thể. Theo Công ước năm 2003 của UNESCO, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm cả tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; di sản ấy được cộng đồng không ngừng tái tạo trong mối quan hệ với môi trường và lịch sử của mình [1]. Vì vậy, bảo tồn Nam dược không thể chỉ dừng ở việc lập vườn cây mẫu, lưu giữ tiêu bản hay ghi chép bài thuốc. Điều cốt lõi là duy trì được cộng đồng thực hành, người nắm giữ tri thức, môi trường sinh thái và cơ chế truyền nghề.
Nam dược đang đứng trước nhiều sức ép. Một số loài quý bị khai thác quá mức; sinh cảnh tự nhiên bị thu hẹp; chất lượng dược liệu không đồng đều; tình trạng nhầm loài, pha trộn hoặc sử dụng sai bộ phận cây thuốc vẫn có thể xảy ra. Ở nhiều nơi, lớp trẻ ít theo nghề, trong khi tri thức của các lương y, thầy thuốc và người có uy tín trong cộng đồng chưa được kiểm kê, số hóa và truyền lại có hệ thống. Mặt khác, nếu thương mại hóa thiếu kiểm soát, tri thức cộng đồng có thể bị khai thác mà chủ thể di sản không được ghi nhận hoặc hưởng lợi tương xứng.
Từ bảo tồn tĩnh đến bảo tồn sống
Bảo tồn hiệu quả phải làm cho di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại. Người dân chỉ có thể duy trì vùng cây thuốc và truyền dạy kinh nghiệm khi tri thức ấy được tôn trọng, tạo ra sinh kế chính đáng và có người kế tục. Do đó, cần đồng thời bảo tồn ba nguồn vốn: vốn tự nhiên là hệ sinh thái và nguồn gen; vốn văn hóa là tri thức và thực hành Nam dược; vốn xã hội là cộng đồng, lương y, nghệ nhân và mạng lưới truyền nghề.
Trước hết, các địa phương cần điều tra, lập bản đồ cây thuốc và kiểm kê tri thức Nam dược theo từng vùng văn hóa – sinh thái. Hồ sơ không chỉ ghi tên cây và công dụng dân gian mà cần mô tả tên khoa học đã được xác định, bộ phận dùng, mùa thu hái, cách sơ chế, người nắm giữ tri thức, phạm vi phổ biến và tình trạng bảo tồn. Việc ghi âm, ghi hình, số hóa phải có sự đồng thuận của chủ thể tri thức; những bí quyết nghề nghiệp hoặc bài thuốc gia truyền không được công bố tùy tiện.
Thứ hai, cần khôi phục hình thức truyền nghề tại cộng đồng, kết hợp kinh nghiệm của lương y với kiến thức về thực vật học, dược học, bảo tồn đa dạng sinh học và an toàn sử dụng. Người nắm giữ tri thức cần được tôn vinh, hỗ trợ đào tạo người kế cận và tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng sản phẩm văn hóa – du lịch.
Thứ ba, phải gắn bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển vị. Loài cây phù hợp nên được nhân giống và phát triển trong vườn hộ, vườn thuốc Nam của trạm y tế, trường học, cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền và vườn bảo tồn cộng đồng. Đối với loài quý hiếm, cần có ngân hàng giống, nghiên cứu nhân giống và quy trình khai thác không làm tổn hại quần thể tự nhiên.
Phát triển vùng dược liệu theo chuỗi giá trị xanh
Quy hoạch phát triển dược liệu đến năm 2030 và các chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu trong nước đã xác định yêu cầu bảo tồn, khai thác bền vững và hình thành vùng trồng tập trung [2–4]. Tuy nhiên, vùng dược liệu chỉ bền vững khi giải quyết đồng thời đầu ra, chất lượng và lợi ích của người trồng.
Mỗi địa phương không nên phát triển dàn trải mà cần lựa chọn nhóm cây chủ lực dựa trên điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tri thức bản địa, nhu cầu thị trường và khả năng chế biến. Quy hoạch phải tránh phá rừng tự nhiên để trồng dược liệu; ưu tiên mô hình nông – lâm kết hợp, trồng dưới tán rừng phù hợp và phục hồi sinh cảnh. Việc mở rộng diện tích cần đi cùng đánh giá tác động môi trường và sức tải của nguồn nước, đất và đa dạng sinh học.
Chuỗi giá trị cần được tổ chức từ giống chuẩn, canh tác, thu hái, sơ chế, bảo quản, kiểm nghiệm đến chế biến và tiêu thụ. Thực hành tốt nuôi trồng và thu hái cây thuốc theo hướng dẫn GACP của Tổ chức Y tế thế giới là cơ sở quan trọng để kiểm soát đúng loài, điều kiện trồng, thời điểm thu hái, tồn dư hóa chất và truy xuất nguồn gốc [5]. Có thể ứng dụng mã số vùng trồng, nhật ký điện tử và mã QR để người tiêu dùng biết được nguồn giống, nơi trồng, thời gian thu hái, đơn vị kiểm nghiệm và cơ sở chế biến.
Liên kết “nhà nông – hợp tác xã – nhà khoa học – cơ sở y dược – doanh nghiệp – chính quyền” cần được cụ thể hóa bằng hợp đồng dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro. Người dân không nên chỉ bán nguyên liệu thô mà cần được tham gia các khâu tạo giá trị cao hơn như sơ chế, chế biến trà thảo dược, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, quà tặng địa phương và dịch vụ trải nghiệm. Mọi sản phẩm có công bố tác dụng phòng, chữa bệnh phải tuân thủ pháp luật về dược, khám chữa bệnh, an toàn thực phẩm và quảng cáo; không được dùng câu chuyện di sản để thay thế bằng chứng khoa học.
Nam dược gắn với du lịch sinh thái – hướng đi nhiều tiềm năng
Du lịch sinh thái – Nam dược không phải là đưa khách vào rừng để tự do hái cây thuốc. Đây phải là sản phẩm giáo dục, trải nghiệm và chăm sóc sức khỏe có kiểm soát, giúp du khách hiểu mối liên hệ giữa con người, cây thuốc, văn hóa và hệ sinh thái.
Một điểm đến có thể hình thành tuyến trải nghiệm gồm: tham quan vườn bảo tồn; nhận biết một số cây thuốc thông dụng; nghe lương y hoặc người nắm giữ tri thức kể chuyện nghề; quan sát cách trồng, thu hái, phơi sấy và bào chế; trải nghiệm ẩm thực dược thiện hoặc sản phẩm chăm sóc sức khỏe phù hợp; mua sản phẩm có nguồn gốc minh bạch. Các vùng có bản sắc rõ như vùng thuốc của người Dao, vùng quế – hồi, vùng atisô, vùng sâm và các làng nghề thuốc Nam có thể phát triển câu chuyện riêng, nhưng phải do cộng đồng địa phương tham gia kiến tạo và thuyết minh.
Du lịch tạo thêm nguồn thu để duy trì vườn giống, trả công người truyền dạy, đào tạo hướng dẫn viên bản địa và khuyến khích thế hệ trẻ học nghề. Ngược lại, di sản và cảnh quan làm cho sản phẩm du lịch có chiều sâu, khác biệt với mô hình nghỉ dưỡng đơn thuần. Đây là mối quan hệ hai chiều: di sản tạo giá trị cho du lịch; du lịch có trách nhiệm tạo nguồn lực trở lại cho bảo tồn.
Tuy nhiên, cần nhận diện các nguy cơ: khai thác cây rừng làm quà lưu niệm; trình diễn sai lệch nghi lễ; tiết lộ bài thuốc bí truyền; quảng cáo chữa bách bệnh; cung cấp dịch vụ ngâm, tắm hoặc dùng thảo dược không sàng lọc nguy cơ dị ứng và tương tác thuốc; rác thải, tiếng ồn và lượng khách vượt sức tải. Vì vậy, mỗi điểm đến phải có quy tắc ứng xử, danh mục trải nghiệm được phép, hướng dẫn an toàn, nhân lực y tế khi cung cấp dịch vụ liên quan sức khỏe và quy trình giám sát tác động môi trường.
Đề xuất mô hình “5B”
Để kết nối bảo tồn di sản, vùng dược liệu và du lịch sinh thái, có thể vận dụng mô hình 5B:
Bảo tồn: Bảo vệ nguồn gen, sinh cảnh, tri thức và người thực hành; ưu tiên bảo tồn tại chỗ, phục hồi loài bản địa và truyền dạy giữa các thế hệ.
Bản địa: Cộng đồng là chủ thể, không phải “phông nền” cho du lịch. Tên gọi, câu chuyện, quy trình thực hành và không gian văn hóa phải được trình bày trung thực, có sự đồng thuận của cộng đồng.
Bằng chứng: Định danh đúng loài, chuẩn hóa chất lượng, nghiên cứu an toàn và hiệu quả; phân biệt rõ kinh nghiệm dân gian với chỉ định đã có bằng chứng. Không thương mại hóa bằng các tuyên bố quá mức.
Bền vững: Canh tác thích ứng khí hậu, không phá rừng, không tận thu, kiểm soát sức tải du lịch, giảm rác thải và sử dụng tài nguyên tiết kiệm. Mỗi sản phẩm bán ra cần đóng góp trở lại cho bảo tồn.
Bình đẳng lợi ích: Tôn trọng quyền của người nắm giữ tri thức; thỏa thuận trước khi ghi chép, nghiên cứu hoặc thương mại hóa; công khai cơ chế phân chia lợi ích cho hộ trồng, hợp tác xã, người truyền nghề và quỹ cộng đồng. Nguyên tắc này phù hợp với tinh thần của Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen và tri thức truyền thống liên quan [6].
Một số kiến nghị
Một là, xây dựng chương trình quốc gia kiểm kê và số hóa di sản Nam dược, trước mắt ưu tiên những cộng đồng có tri thức phong phú nhưng người truyền nghề cao tuổi hoặc sinh cảnh cây thuốc đang suy giảm.
Hai là, lựa chọn một số địa phương làm mô hình thí điểm “vùng dược liệu – làng nghề – điểm du lịch sinh thái – chăm sóc sức khỏe”, có bộ tiêu chí chung về tài nguyên, văn hóa, chất lượng dược liệu, an toàn và chia sẻ lợi ích.
Ba là, hình thành cơ chế phối hợp liên ngành giữa y tế, văn hóa, nông nghiệp, môi trường, khoa học – công nghệ và du lịch. Bảo tồn Nam dược là lĩnh vực giao thoa, không thể giao riêng cho một ngành.
Bốn là, hỗ trợ hợp tác xã và hộ dân tiếp cận giống chuẩn, quy trình GACP, kiểm nghiệm, sơ chế, xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sản phẩm OCOP và chuyển đổi số; đồng thời có hợp đồng bao tiêu để hạn chế phát triển tự phát theo phong trào.
Năm là, đào tạo hướng dẫn viên Nam dược tại cộng đồng. Nội dung đào tạo cần bao gồm kiến thức cây thuốc, lịch sử y học dân tộc, kỹ năng diễn giải di sản, sơ cứu, an toàn cho du khách, bảo vệ dữ liệu tri thức và đạo đức nghề nghiệp.
Sáu là, phát huy vai trò của Hội Nam y Việt Nam trong kết nối lương y, nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương; tham gia kiểm kê tri thức, xây dựng bộ quy tắc đạo đức, phản biện chuyên môn, bồi dưỡng người kế cận và truyền thông đúng về Nam dược.
Kết luận
Nam dược là sự thống nhất giữa tài nguyên cây thuốc, trí tuệ cộng đồng và bản sắc văn hóa Việt Nam. Nếu chỉ khai thác dược liệu mà không giữ rừng, không bảo vệ nguồn gen và không tôn trọng người nắm giữ tri thức, Nam dược sẽ dần mất gốc. Nếu chỉ lưu giữ tư liệu mà không tạo sinh kế và không có thế hệ kế tục, di sản cũng khó tồn tại trong đời sống.
Phát triển vùng dược liệu gắn với du lịch sinh thái – sức khỏe là hướng đi có nhiều triển vọng, nhưng phải lấy bảo tồn làm nền tảng, cộng đồng làm chủ thể, khoa học làm thước đo, an toàn làm giới hạn và chia sẻ lợi ích làm nguyên tắc. Khi đó, mỗi vùng dược liệu không chỉ cung cấp nguyên liệu cho ngành y dược mà còn trở thành một không gian văn hóa Nam dược sống, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh và lan tỏa tinh thần “Nam dược trị Nam nhân” trong thời đại mới.
Tài liệu tham khảo
- UNESCO. Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage. Paris: United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization; 2003. Available from: https://ich.unesco.org/en/convention
- Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Hà Nội; 2013. Available from: https://vbpl.moj.gov.vn/Pages/vbpq-thuoctinh.aspx?ItemID=32402
- Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội; 2021. Available from: https://vanban.chinhphu.vn/
- Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 1165/QĐ-TTg ngày 09/10/2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội; 2023.
- World Health Organization. WHO guidelines on good agricultural and collection practices (GACP) for medicinal plants. Geneva: World Health Organization; 2003. Available from: https://iris.who.int/handle/10665/42783
- Secretariat of the Convention on Biological Diversity. Nagoya Protocol on Access to Genetic Resources and the Fair and Equitable Sharing of Benefits Arising from Their Utilization. Montreal: Convention on Biological Diversity; 2011. Available from: https://www.cbd.int/abs/about
- Quốc hội. Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017. Hà Nội; 2017.
- Quốc hội. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024. Hà Nội; 2024.
Các tin khác
Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam
16:42 | 09/09/2026 Bài báo Khoa học
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng
11:10 | 09/09/2026 Bài báo Khoa học
Kết Hợp Y Học Hiện Đại Và Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Người Cao Tuổi
13:29 | 08/09/2026 Nghiên cứu trao đổi
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc
02:42 | 01/09/2026 Bài báo Khoa học
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025
02:42 | 01/09/2026 Bài báo Khoa học
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và những giá trị y học còn ý nghĩa sau hơn hai thế kỷ
16:08 | 14/08/2026 Nghiên cứu trao đổi
Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử
19:03 | 06/08/2026 Bài báo Khoa học
Từ chủ trương của Đảng đến yêu cầu đổi mới mô hình chăm sóc sức khỏe nhân dân
23:27 | 27/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Nghiên cứu hiện đại về cây cam thảo nam
23:27 | 27/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết
21:28 | 27/07/2026 Bài báo Khoa học