MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH

Mục tiêu: Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn điện giải ở bệnh nhân bệnh thận mạn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 287 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh thận mạn đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2023. Kết quả: Những bệnh nhân mắc tăng huyết áp có tỷ lệ rối loạn điện giải Na+ gấp 3,21 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh tăng huyết áp (p < 0,05). Nhóm bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có rối loạn điện giải Na+ gấp 1,71 lần so với nhóm bệnh nhân không mắc bệnh đái tháo đường (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu ghi nhận tình trạng rối loạn điện giải K+ xảy ra ưu thế ở những đối tượng bệnh thận mạn có kèm theo bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhóm bệnh nhân rối loạn lipid máu có tình trạng rối loạn điện giải Ca2+ gấp 1,28 lần nhóm bệnh nhân không mắc rối loạn lipid máu (p < 0,05). Những trường hợp rối loạn điện giải Ca2+ chiếm ưu thế ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn V (p > 0,05). Tình trạng rối loạn điện giải Ca2+ ở những người có lọc máu cao hơn 1,24 lần so với những người không lọc máu (p < 0,05). Kết luận: Tình trạng rối loạn điện giải Na+, K+ ở bệnh nhân bệnh thận mạn có liên quan với tình trạng tăng huyết áp và đái tháo đường. Tỷ lệ rối loạn điện giải Ca2+ chiếm ưu thế ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn V. Tình trạng rối loạn điện giải Ca2+ ở những người bệnh thận mạn có lọc máu chiếm tỷ lệ cao hơn ở bệnh nhân không lọc máu.

SUMMARY

SOME FACTORS RELATED TO ELECTROLYTE DISORDERS IN PATIENTS WITH CHRONIC KIDNEY DISEASE AT TRA VINH PROVINCE GENERAL HOSPITAL

Objective: Survey some factors related to electrolyte disorders in patients with chronic kidney disease. Subjects and methods: Cross-sectional descriptive study on 287 patients diagnosed with chronic kidney disease who being treated at Tra Vinh Province General Hospital from June 2023 to September 2023. Results: Patients with hypertension had a rate of Na+ electrolyte disorders 3.21 times higher than the group of patients without hypertension (p < 0.05). The group of patients with diabetes had 1.71 times more Na+ electrolyte disorders than the group of patients without diabetes (p < 0.05). Research results show that K+ electrolyte disorders occur predominantly in subjects with chronic kidney disease accompanied by hypertension, diabetes, and dyslipidemia. However, the difference is not statistically significant (p > 0.05). The group of patients with dyslipidemia had Ca2+ electrolyte disorders 1.28 times more than the group of patients without dyslipidemia (p < 0.05). Cases of Ca2+ electrolyte disorders predominate in patients with stage V chronic kidney disease (p > 0.05). Ca2+ electrolyte disturbance in people with dialysis was 1.24 times higher than in people without dialysis (p < 0.05). Conclusions: Na+, K+ electrolyte disorders in chronic kidney disease patients are associated with hypertension and diabetes. The rate of Ca2+ electrolyte disorders predominates in patients with chronic kidney disease stage V. The rate of Ca2+ electrolyte disorders in chronic kidney disease patients with dialysis is higher than in patients without dialysis.

Bệnh thận mạn là một vấn đề cấp bách và hiện được công nhận là ưu tiên sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới [9]. Tổn thương thận xảy ra từ từ trong nhiều năm. Nhiều người không có bất kỳ triệu chứng nào cho đến khi bệnh thận ở giai đoạn nặng. Bệnh thận mạn ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh bao gồm sức khỏe, thể chất, xã hội, tăng gánh nặng bệnh tật, tử vong do bệnh tim mạch, chất lượng cuộc sống thấp, giảm năng suất, mất việc làm, áp lực gia đình và rối loạn tâm thần, đồng thời cũng ảnh hưởng đến kinh tế, tài chính quốc gia [6].

Bệnh thận mạn gia tăng rất nhanh chóng ở tất cả các quốc gia và toàn cầu. Tỷ lệ mắc bệnh thận mạn trên toàn thế giới được ước tính là gần 11 - 13% [11] và trên toàn cầu vào năm 2017 ước tính có gần 700 triệu người mắc bệnh thận mạn và 1,2 triệu người chết vì các rối loạn liên quan đến bệnh thận mạn [5]. Bệnh nhân mắc bệnh thận mạn sẽ xuất hiện những biến chứng khác như biến chứng về phổi, tim mạch, thần kinh, tiêu hoá, rối loạn lipid máu, loạn dưỡng xương,... Rối loạn điện giải (RLĐG) cũng là một trong biến chứng quan trọng thường gặp trong bệnh thận mạn [13].

Vì vậy, việc phát hiện và điều trị rối loạn điện giải ở bệnh nhân bệnh thận mạn là rất quan trọng để giảm thiểu các biến chứng tiêu cực đối với sức khỏe con người. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị rối loạn điện giải cần được cân nhắc kỹ lưỡng vì sự quá mức hoặc thiếu hụt các chất điện giải đều có thể gây ra các vấn đề ảnh hưởng nguy hiểm đến sức khoẻ. Do đó, các nghiên cứu liên quan đến rối loạn điện giải ở bệnh nhân bệnh thận mạn đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng y tế. Chính vì thế, đề tài nghiên cứu về rối loạn điện giải ở bệnh nhân bệnh thận mạn là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe cho bệnh nhân mắc bệnh thận mạn. Việc chẩn đoán và điều trị rối loạn điện giải ở bệnh nhân bệnh thận mạn có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng liên quan đến rối loạn điện giải. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu khảo sát một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn điện giải ở bệnh nhân bệnh thận mạn đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh.

2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  1. 1.Đối tượng nghiên cứu:

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn (BTM) theo tiêu chuẩn KDIGO 2012 đang khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Trà Vinh, đồng ý tham gia nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân gặp khó khăn trong quá trình giao tiếp, không tỉnh táo, sức khỏe không cho phép trả lời những câu hỏi của người khảo sát, không nghe, không nói được. Bệnh nhân mắc các bệnh lý kèm theo: suy tim, rối loạn ăn uống, nghiện rượu, chấn thương, bệnh lý tuyến giáp, tuyến cận giáp.

  1. 2 Phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả.

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. Các bệnh nhân thỏa điều kiện sẽ được tham gia nghiên cứu.

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2023

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI  Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN  TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

α: Mức ý nghĩa thống kê. Chọn α = 0,05 tương ứng với độ tin cậy là 95%.

Như vậy

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI  Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN  TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH

p: Tỷ lệ hiện mắc (%). Ước tính ở mức độ cao nhất ở thời điểm nghiên cứu.

Lấy p = 16,7 % (Tham khảo từ nghiên cứu của Nguyễn Hữu Sơn) [12].

d: Khoảng sai lệch mong muốn cho phép giữa tham số mẫu và quần thể. Chọn d = 0,05

Tính được cỡ mẫu tối thiểu là 214. Trên thực tế, nghiên cứu đã thu được cỡ mẫu là 287

Nội dung nghiên cứu: Phân tích mối liên quan giữa tình trạng rối loạn điện giải và một số yếu tố như: tình trạng béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối oạn lipid máu, bệnh tim mạch, thời gian mắc bệnh, giai đoạn bệnh và tình trạng lọc máu…

Xử lý và phân tích số liệu: Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm Stata 14.

3.KẾT QUẢ

3.1. Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn Na+

Bảng 1. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải Na+ với các bệnh kèm theo ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287)

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải Na+

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Béo phì

8 (36,36)

14 (63,64)

1,44 (0,80 - 2,60)

0,256

Không

67 (25,28)

198 (74,72)

Tăng huyết áp

71 (29,22)

172 (70,78)

3,21 (1,24 - 8,34)

0,005

Không

4 (9,09)

40 (90,91)

Đái tháo đường

25 (38,46)

40 (61,54)

1,71 (1,15 - 2,53)

0,010

Không

50 (22,52)

172 (77,48)

Rối loạn lipid máu

13 (36,11)

23 (63,89)

1,46 (0,90 - 2,38)

0,145

Không

62 (24,70)

189 (75,30)

Bệnh tim mạch

25 (30,49)

57 (69,51)

1,25 (0,83 - 1,88)

0,288

Không

50 (24,39)

155 (75,61)

Bệnh gout

5 (14,71)

29 (85,29)

0,53 (0,23 - 1,22)

0,106

Không

70 (27,67)

183 (72,33)

Sỏi thận

3 (50,00)

3 (50,00)

2,00 (0,86 - 4,45)

0,186

Không

72 (25,62)

209 (74,38)

Nhận xét:

Nhóm bệnh nhân mắc tăng huyết áp có tỷ lệ RLĐG Na+ gấp 3,21 lần nhóm bệnh nhân không mắc tăng huyết áp. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Nhóm bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có tỷ lệ RLĐG Na+ gấp 1,71 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh đái tháo đường. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 2. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải Na+ với giai đoạn bệnh, thời gian mắc bệnh và tình trạng lọc máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287)

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải Na+

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Giai đoạn BTM

I

1 (50,00)

1 (50,00)

1

0,700

II

2 (28,57)

5 (71,43)

0,57 (0,05 - 6,30)

IIIa

4 (26,67)

11 (73,33)

0,53 (0,06 - 4,77)

IIIb

2 (12,50)

14 (87,50)

0,25 (0,23 - 2,76)

IV

6 (21,43)

22 (78,57)

0,43 (0,05 - 3,56)

V

60 (27,40)

159 (72,60)

0,55 (0,76 - 3,95)

Thời gian mắc BTM

Dưới 5 năm

55 (28,06)

141 (71,94)

0,78 (0,50 - 1,23)

0,275

Từ 5 năm trở lên

20 (21,98)

71 (78,02)

Lọc máu

54 (26,60)

149 (73,40)

1,06 (0,69 - 1,64)

0,779

Không

21 (25,00)

63 (75,00)

Nhận xét: Không tìm thấy có sự liên quan giữa có RLĐG Na+ với các giai đoạn BTM, thời gian mắc BTM và tình trạng lọc máu (p > 0,05).

3.2. Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn K+

Bảng 3. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải K+ với các bệnh kèm theo ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287)

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải K+

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Béo phì

7 (31,82)

15 (68,18)

0,97 (0,51 - 1,83)

0,923

Không

87 (32,83)

178 (67,17)

Tăng huyết áp

81 (33,33)

162 (66,67)

1,13 (0,70 - 1,84)

0,622

Không

13 (29,55)

31 (70,45)

Đái tháo đường

26 (40,00)

39 (60,00)

1,31 (0,91 - 1,87)

0,157

Không

68 (30,63)

154 (69,37)

Rối loạn lipid máu

14 (38,89)

22 (61,11)

1,22 (0,78 - 1,91)

0,402

Không

80 (31,87)

171 (68,13)

Bệnh tim mạch

23 (28,05)

59 (71,95)

0,81 (0,55 - 1,20)

0,283

Không

71 (34,63)

134 (65,37)

Bệnh gout

12 (35,29)

22 (64,71)

1,09 (0,67 - 1,78)

0,737

Không

82 (32,41)

171 (67,59)

Sỏi thận

2 (33,33)

4 (66,67)

1,02 (0,32 - 3,20)

1,000

Không

92 (32,74)

189 (67,26)

Nhận xét:

Nhóm tình trạng RLĐG K+ xảy ra ưu thế ở những bệnh nhân bệnh tăng huyết áp gấp 1,13 lần nhóm bệnh nhân không mắc tăng huyết áp. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Nhóm bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường xảy RLĐG K+ gấp 1,31 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh đái tháo đường. Sự khác biệt này không ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Nhóm bệnh nhân mắc bệnh rối loạn lipid máu có tỷ lệ RLĐG K+ gấp 1,22 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh rối loạn lipid máu. Sự khác biệt này không ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 4. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải K+ với giai đoạn, thời gian mắc bệnh và tình trạng lọc máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287)

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải K+

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Giai đoạn BTM

I

1 (50,00)

1 (50,00)

1

0,058

II

4 (57,14)

3 (42,86)

1,14 (0,13 - 10,23)

IIIa

1 (6,67)

14 (93,33)

0,13 (0,01 - 2,13)

IIIb

7 (43,75)

9 (56,25)

0,88 (0,11 - 7,11)

IV

12 (42,86)

16 (57,14)

0,86 (0,11 - 6,60)

V

69 (31,51)

150 (68,49)

0,63 (0,09 - 4,54)

Thời gian mắc BTM

Dưới 5 năm

55 (28,06)

141 (71,94)

0,78 (0,50 - 1,23)

0,275

Từ 5 năm trở lên

20 (21,98)

71 (78,02)

Lọc máu

64 (31,53)

139 (68,47)

0,88 (0,62 - 1,25)

0,492

Không

30 (35,71)

54 (64,29)

Nhận xét: Nghiên cứu chưa ghi nhận có sự liên quan giữa có RLĐG K+ với các giai đoạn BTM, thời gian mắc BTM và tình trạng lọc máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn (p > 0,05)

3.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn Ca2+

Bảng 5. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải Ca2+ với các bệnh kèm theo ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287)

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải Ca2+

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Béo phì

12 (54,55)

10 (45,45)

0,82 (0,56 - 1,21)

0,260

Không

176 (66,42)

89 (33,58)

Tăng huyết áp

157 (64,61)

86 (35,39)

0,92 (0,74 - 1,13)

0,453

Không

31 (70,45)

13 (29,55)

Đái tháo đường

44 (67,69)

21 (32,31)

1,04 (0,86 - 1,27)

0,673

Không

144 (64,86)

78 (35,31)

Rối loạn lipid máu

29 (80,56)

7 (19,44)

1,28 (1,06 - 1,53)

0,042

Không

159 (63,35)

92 (36,65)

Bệnh tim mạch

49 (59,76)

33 (40,24)

0,88 (0,72 - 1,08)

0,195

Không

139 (67,80)

66 (32,20)

Bệnh gout

27 (79,41)

7 (20,59)

1,25 (1,03 - 1,52)

0,069

Không

161 (63,64)

92 (36,36)

Sỏi thận

5 (83,33)

1 (16,67)

1,28 (0,89 - 1,85)

0,668

Không

183 (65,12)

98 (34,88)

Nhận xét: Kết quả ghi nhận nhóm bệnh nhân mắc bệnh rối loạn lipid máu có tỷ lệ RLĐG Ca2+ gấp 1,28 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh rối loạn lipid máu. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 6. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải Ca2+ với giai đoạn, thời gian mắc bệnh và tình trạng lọc máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287)

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải Ca2+

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Giai đoạn BTM

I

1 (50,00)

1 (50,00)

1

0,028

II

7 (100)

0 (0)

2 (0,25 - 16,26)

IIIa

10 (66,67)

5 (33,33)

1,33 (0,17 - 10,42)

IIIb

9 (56,25)

7 (43,75)

1,13 (0,14 - 8,88)

IV

12 (42,86)

16 (57,14)

0,86 (0,11 - 6,60)

V

149 (68,04)

70 (31,96)

1,36 (0,19 - 9,72)

Thời gian mắc BTM

Dưới 5 năm

122 (62,24)

74 (37,76)

1,17 (0,99-1,38)

0,088

Từ 5 năm trở lên

66 (72,53)

25 (27,47)

Lọc máu

141 (69,46)

62 (30,54)

1,24 (1,01 - 1,53)

0,029

Không

47 (55,95)

37 (44,05)

Nhận xét: Nghiên cứu ghi nhận những trường hợp có rối loạn điện giải Ca2+ chiếm ưu thế ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn V. Nhóm bệnh nhân có lọc máu tỷ lệ RLĐG Ca2+ gấp 3,21 lần nhóm bệnh nhân không lọc máu (KTC: 1,01 - 1,53). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

3.4. Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn Cl-

Bảng 7. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải Cl- với các bệnh kèm theo ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287)

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải Cl-

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Béo phì

9 (40,91)

13 (59,09)

1,20 (0,70 - 2,02)

0,534

Không

91 (34,34)

174 (65,66)

Tăng huyết áp

87 (35,80)

156 (64,20)

1,21 (0,75 - 1,97)

0,423

Không

13 (29,55)

31 (70,45)

Đái tháo đường

22 (33,85)

43 (66,15)

0,96 (0,65 - 1,14)

0,848

Không

78 (35,14)

144 (64,86)

Rối loạn lipid máu

8 (22,22)

28 (77,78)

0,61 (0,32 - 1,14)

0,089

Không

92 (36,65)

159 (63,35)

Bệnh tim mạch

28 (34,15)

54 (65,85)

0,97 (0,68 - 1,38)

0,875

Không

72 (35,12)

133 (64,88)

Bệnh gout

12 (35,29)

22 (64,71)

1,01 (0,62 - 1,65)

0,953

Không

88 (34,78)

165 (65,22)

Sỏi thận

2 (33,33)

4 (66,67)

0,96 (0,30 - 3,00)

1,000

Không

98 (34,88)

183 (65,12)

Nhận xét: Kết quả chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng rối loạn điện giải Cl- với nhóm bệnh nhân có bệnh béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh rối loạn lipid máu, bệnh tim mạch và bệnh gout, bệnh sỏi thận với p > 0,05.

Bảng 8. Mối liên quan giữa rối loạn điện giải Cl- với giai đoạn bệnh, thời gian mắc bệnh, tình trạng lọc máu ở ở bệnh nhân bệnh thận mạn (n = 287).

Yếu tố liên quan

Rối loạn điện giải Cl-

PR (KTC 95%)

p

n (%)

Không

n (%)

Giai đoạn BTM

I

1 (50,00)

1 (50,00)

1

0,553

II

1 (14,29)

6 (85,71)

0,29 (0,02 - 4,57)

IIIa

4 (26,67)

11 (73,33)

0,53 (0,06 - 4,77)

IIIb

7 (43,75)

9 (56,25)

0,88 (0,11 - 7,11)

IV

7 (25,00)

21 (75,00)

0,5 (0,06 - 4,06)

V

80 (36,53)

139 (63,47)

0,73 (0,10 - 5,25)

Thời gian mắc BTM

Dưới 5 năm

69 (35,20)

127 (64,80)

0,97 (0,69 - 1,36)

0,851

Từ 5 năm trở lên

31(34,07)

60 (65,93)

Lọc máu

71 (34,84)

132 (65,02)

1,01 (0,71 - 1,44)

0,942

Không

29 (34,52)

55 (65,48)

Nhận xét: Nghiên cứu chưa ghi nhận có sự liên quan giữa có RLĐG Cl- với các giai đoạn BTM, thời gian mắc BTM và tình trạng lọc máu với giá trị p > 0,05.

4.BÀN LUẬN

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn Na+ ở bệnh nhân bệnh thận mạn

Nhóm bệnh nhân mắc tăng huyết áp có tỷ lệ RLĐG natri gấp 3,21 lần nhóm bệnh nhân không mắc tăng huyết áp. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả của chúng tôi có sự khác biệt với nghiên cứu của Kurniawan Adi Lukas và cộng sự tại Khoa Thận tại Bệnh viện Shuang Ho, Đại học Y khoa Đài Bắc cho rằng RLĐG Na+ không có mối liên quan đến tình trạng tăng huyết áp [8].

Nhóm bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có tỷ lệ RLĐG natri gấp 1,71 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh đái tháo đường. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê vì p < 0,05. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự cũng tìm thấy ở nghiên cứu của Kurniawan Adi Lukas và cộng sự tại Khoa Thận tại Bệnh viện Shuang Ho, Đại học Y Đài Bắc, RLĐG Na+ có mối liên quan đến bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, do những thay đổi trong phân bố điện giải có thể do sự dịch chuyển thẩm thấu bởi tăng đường huyết hoặc mất chất điện giải do lợi tiểu thẩm thấu [8]

Nghiên cứu của chúng tôi chưa ghi nhận mối liên quan giữa các yếu tố giai đoạn BTM, thời gian mắc bệnh và lọc máu với tình trạng RLĐG Na+. Kết quả của chúng tôi có sự tương đồng với một số tác giả: theo nghiên cứu của Trần Thị Kiều Phương hạ natri máu có thể gặp ở tất cả người bệnh thận mạn tính và không liên quan đến các giai đoạn suy thận [15]. Nghiên cứu của Đặng Thị Việt Hà và cộng sự cũng cho thấy hạ natri máu không liên quan đến giai đoạn của BTM [2].

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn K+ ở bệnh nhân bệnh thận mạn

Kết quả nghiên cứu ghi nhận tình trạng RLĐG K+ xảy ra chiếm ưu thế ở bệnh nhân mắc tăng huyết áp có tỷ lệ RLĐG K+ gấp 1,13 lần nhóm bệnh nhân không mắc tăng huyết áp. Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê vì p > 0,05. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Phạm Vĩnh Phú và cộng sự cũng cho rằng nhóm bệnh nhân tăng huyết áp không có mối quan đến tình trạng tăng kali máu ở bệnh nhân BTM (p = 0,080) [14]. Nhiều tác giả cho rằng nguy cơ phát triển tăng kali máu cũng đã được tìm thấy những bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị [7]. Sự khác biệt của nghiên cứu của tôi có lẽ do cỡ mẫu nhỏ, thời gian nghiên cứu ngắn.

Nhóm bệnh nhân BTM có RLĐG K+ xảy ra chiếm ưu thế ở bệnh nhân mắc đái tháo đường gấp 1,31 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê vì p > 0,05. Nghiên cứu của Phạm Vĩnh Phú và cộng sự tiến hành trên 855 bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Thống Nhất cho thấy tình trạng rối loạn tăng K+ máu có mối liên quan đến bệnh đái tháo đường [14]. Nghiên cứu của Lisa M. Einhorn và cộng sự, nghiên cứu cũng cho rằng rối loạn điện giải K+ có mối liên quan đến bệnh đái tháo đường [3]. Theo Tsering Dhondup và Qi Qian cho thấy tăng kali máu cũng có thể được gây ra trầm trọng hơn do sự dịch chuyển xuyên tế bào do thiếu insulin, nhiễm toan chuyển hoá do khoáng chất và phân huỷ mô, hấp thụ nhiều điện giải kali và khiếm khuyết do thuốc gây ra trong quá trình bài tiết điện giải kali qua thận. Vì thế bệnh nhân đái tháo đường mắc BTM cũng có nguy cơ bị tăng kali máu do giảm aldosteron, giảm renin máu [17]. Tương tự, nghiên cứu của Anago E và cộng sự tại Benin cho thấy tăng kali máu có liên quan đáng kể đến bệnh nhân đái tháo đường [1].

Nhóm bệnh nhân BTM RLĐG K+ xảy ra chiếm ưu thế ở rối loạn lipid máu gấp 1,22 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh rối loạn lipid máu. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê vì p > 0,05.

Không có sự liên quan giữa có RLĐG K+ với các giai đoạn BTM, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Kết quả nghiên cứu chúng tôi có sự tương đồng với nghiên cứu của Đặng Thị Việt Hà cũng cho thấy tăng kali máu không liên quan đến giai đoạn của BTM [2].

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn Ca2+ ở bệnh nhân bệnh thận mạn

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nhóm bệnh nhân mắc bệnh rối loạn lipid máu có tỷ lệ RLĐG Ca2+ gấp 1,28 lần nhóm bệnh nhân không mắc bệnh rối loạn lipid máu Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự cũng tìm thấy ở nghiên cứu của Kurniawan, Adi Lukas và cộng sự rối loạn lipid máu có liên quan rối loạn điện giải tăng calci [8]. Nghiên cứu của Gallo L và cộng sự cũng tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa calci huyết thanh với rối loạn lipid máu [4]. Ở những bệnh nhân bị BTM, sự chuyển hóa lipoprotein bất thường dẫn đến rối loạn lipid máu, bao gồm tăng triglycerid máu, tăng lượng lipoprotein giàu chất béo trung tính còn sót lại, giảm HDL - cholesterol và tăng lipoprotein. Cơ sở sinh lý bệnh của rối loạn lipid máu và BTM không chỉ là tình trạng xơ vữa động mạch trầm trọng hơn trong vi tuần hoàn thận mà còn là sự lắng đọng lipoprotein trong cấu trúc cầu thận, kích thích các cytokine và các yếu tố tăng trưởng liên quan đến tình trạng viêm và xơ hóa [16].

Nghiên cứu ghi nhận những trường hợp có rối loạn điện giải Ca2+ chiếm ưu thế ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn V (p = 0,028). Điều này có thể được giải thích là do ở những bệnh nhân bệnh thận mạn khi chức năng thận suy giảm sẽ giảm sản xuất enzyme 1-hydrolase, dẫn đến việc giảm hình thành 1,25-dihydrocholecalciferol (calcitriol), từ đó làm giảm hấp thu calci ở tế bào biểu mô ruột và ống thận. Khi chức năng thận càng giảm thì tình trạng hạ calci máu càng tăng [10].

Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan giữa rối loạn điện giải Ca2+ với thời gian mắc bệnh. Tuy nhiên kết quả ghi nhận nhóm bệnh nhân có lọc máu tỷ lệ RLĐG Ca2+ gấp 1,24 lần nhóm bệnh nhân không lọc máu (p = 0,029). Nguyên nhân là do nhóm bệnh nhân có lọc máu thường là nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn ở giai đoạn IV và V, chức năng thận suy giảm khá nhiều ảnh hưởng đến việc hấp thu calci ở ruột và tái hấp thu calci ở ống thận.

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn Cl- ở bệnh nhân bệnh thận mạn

Nghiên cứu của chúng tôi hiện chưa ghi nhận được mối liên quan giữa RLĐG Cl- với tình trạng tăng huyết áp, béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, bệnh lý tim mạch, gout và sỏi thận ở các đối tượng nghiên cứu (p > 0,05).

Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận không có sự liên quan giữa có RLĐG Cl- với các giai đoạn BTM (p > 0,05). Kết quả nghiên cứu chúng tôi có sự tương đồng với nghiên cứu của Đặng Thị Việt Hà cũng cho thấy giảm Cl- máu không liên quan đến giai đoạn của BTM [2].

Ngoài ra, kết quả ghi nhận không có sự liên quan giữa có RLĐG Cl- với thời gian mắc BTM và tình trạng lọc máu (p > 0,05).

  1. KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tình trạng rối loạn điện giải Na+, K+ ở bệnh nhân bệnh thận mạn có liên quan với tình trạng tăng huyết áp và đái tháo đường. Tỷ lệ rối loạn điện giải Ca2+ chiếm ưu thế ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn V. Tình trạng rối loạn điện giải Ca2+ ở những người bệnh thận mạn có lọc máu chiếm tỷ lệ cao hơn ở bệnh nhân không lọc máu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Anogo E, Medehouenou T, Akpovi CD, et al (2016), “Electrolyte disturbances in diabetic patients in Cotonou, Benin”, Int J Res Med Sci. 2016; 4:5430-5.

[2] Đặng Thị Việt Hà, Đỗ Gia Tuyển (2016), “Khảo sát rối loạn điện giải ở bệnh nhân suy thận mạn tính”, Tạp chí Y học Việt Nam tháng 2, số 2, tr. 55.

[3] Einhorn L. M, Zhan Min, Hsu V. D, et al (2009), “The Frequency of Hyperkalemia and Its Significance in Chronic Kidney Disease”, Jama Network, vol. 169 no. 12, 2009

[4] Gallo L, Faniello MC, Canino G, et al (2016), “Serum calcium increase correlates with worsening of lipid profile” an observational study on a large cohort from South Italy. Medicine. 2016;95:e2774

[5] GBD Chronic Kidney Disease Collaboration (2020), “Global, regional, and national burden of chronic kidney disease, 1990 - 2017: A systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2017”, volume 395, issue 10225, pp 709 - 733.

[6] Johansen K. L, Chertow G. M, Kutner N. G, et al (2010). “Low level of self-reported physical activity in ambulatory patients new to dialysis”. Kidney international, volume 78, issue 11, pp 1164-1170, DOI: 10.1038/ki.2010.312.

[7] Kovesdy CP (2016), “Epidemiology of hyperkalemia”, Kidney Int Suppl. 2016; 6:3-6.

[8] Kurniawan A.L, Yang, YL., Hsu, CY. et al (2021). “Association between metabolic parameters and risks of anemia and electrolyte disturbances among stages 3-5 chronic kidney disease patients in Taiwan”, BMC Nephrol 22, 385, DOI: 10.1186/s12882-021-02590-w.

Link: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)30045-3

[9] Lozano R, Naghavi M, Foreman K et al (2022), “Global and regional mortality from 235 causes of death for 20 age groups in 1990 and 2010: A systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010”, Articles volume 380, issue 9859. https://doi.org/10.1176/appi.psy.51.6.528

[10] Mai Phương Thảo, Lê Quốc Tuấn (2023), “Sinh lý hệ thận niệu”, Sinh lý học y khoa, NXB Y Học TP.HCM, trang 186-253.

[11] Nathan R. Hill, Samuel T. Fatoba, Jason L. Oke, et al (2016), “Global prevalence of chronic kidney disease a systematic review and meta-analysis,” PLoS One,. DOI: 10.1371/journal.pone.0158765.

[12] Nguyễn Hữu Sơn (2009), “Nghiên cứu thực trạng rối loạn điện giải ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Giang”, Luận văn Thạc sỹ Y học, Đại học Thái Nguyên Trường Đại học Y - Dược.

[13] Nguyễn Trường Sơn (2018). “Phác đồ điều trị 2018 - Phần nội khoa - Tập 1”, Nhà xuất bản Y học, Hồ Chí Minh, tr 415 – 419

[14] Phạm Vĩnh Phú, Lê Văn Lắm, Nguyễn Phan Thuỷ Tiên và cộng sự (2019), “Ảnh hưởng của chức năng thận lên tăng kali máu của bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Thống Nhất”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh - tập 23, số 3.

[15] Trần Thi Kiều Phương (2006), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây hạ natri máu ở người bệnh mắc bệnh thận mạn tính tại khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai”, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú, Đại học Y Hà Nội.

[16] Trần Văn Chất (2008), “Bệnh thận”, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 48 – 58

[17] Tsering Dhondup, Qi Qian (2017), “Electrolyte and Acid–Base Disorders in Chronic Kidney Disease and End-Stage Kidney Failure”, Division of Nephrology and Hypertension, Department of Medicine, Mayo Clinic, College of Medicine, Rochester, MN, USA.

Tác giả:

Thạc sĩ – Bác sĩ TRẦN HẢI HÀ

Bác sĩ chuyên khoa I TRƯƠNG THỊ BÍCH PHƯƠNG

Cử nhân xét nghiệm: LÝ HỒ MINH THƯ

Đơn vị công tác: Trường Đại Học Trà Vinh

Cùng chuyên mục

"Phải đặt phát triển y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước trong giai đoạn mới"

"Phải đặt phát triển y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước trong giai đoạn mới"

Đó là một trong những chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế.
Phác đồ Ngũ hành sinh hóa hỗ trợ điều trị ung thư – hóa trị đa đích từ hợp chất thiên nhiên

Phác đồ Ngũ hành sinh hóa hỗ trợ điều trị ung thư – hóa trị đa đích từ hợp chất thiên nhiên

(SKV) - Trong cuộc đời làm nghề y, chúng tôi nhìn nhận khối u ung thư không chỉ là một tổ chức tế bào lỗi, mà là một “hệ sinh thái bệnh lý” cực kỳ xảo quyệt. Nó hoạt động như một ổ phiến quân tinh vi: từ mối chúa điều hành đến mối lính canh phòng; chúng giỏi ngụy trang, thạo trốn tránh, biết giả chết và thậm chí đào hầm xuyên qua hàng rào miễn dịch… hoặc di cư ra chỗ an toàn và thậm chí biết lập “hố đen chuyển hóa” để cướp lương thực của cơ thể. Để khuất phục kẻ thù đa diện này, đa hình thái này y học không thể chỉ dùng một mũi dùi, một lưỡi dao đơn độc để cắt bỏ khối u là xong. Chúng tôi đã đúc kết nên phác đồ chiến lược “Ngũ Hành Sinh Hóa” – một ma trận điều trị đa mô thức, đa mục tiêu, tấn công đa hình thái nơi mỗi hành là một mũi giáp công hiểm hóc, vây hãm khối u từ mọi phía để phối hợp hỗ trợ phần nào những chỗ còn khuyết của Y học hiện đại.
Nấm độc khó phân biệt bằng mắt thường, chuyên gia khuyến cáo tuyệt đối không ăn

Nấm độc khó phân biệt bằng mắt thường, chuyên gia khuyến cáo tuyệt đối không ăn

Ngộ độc nấm rừng chứa độc tố amatoxin gây suy gan, thận và tử vong. Cần cảnh giác và không hái nấm hoang trong tự nhiên.
Điều trị bệnh gout từ thảo dược

Điều trị bệnh gout từ thảo dược

Cây Nở ngày đất hay còn gọi là cây bạc đầu, cây hoa gà trắng và có tên gọi khoa học là Gomphrena Celosioides Mart, phân bố nhiều ở các khu vực Nam Mỹ, châu Phi, châu Á và Việt Nam...
Loại trừ bệnh sốt rét, cần triển khai ngay và quyết liệt

Loại trừ bệnh sốt rét, cần triển khai ngay và quyết liệt

Vào Ngày Sốt rét Thế giới năm 2026, WHO cùng đối tác phát động chiến dịch: "Loại trừ bệnh sốt rét, cần triển khai ngay và quyết liệt".
Bác sĩ lưu ý thói quen nguy hiểm dễ gây đột quỵ khi trời nắng nóng

Bác sĩ lưu ý thói quen nguy hiểm dễ gây đột quỵ khi trời nắng nóng

Thói quen tắm ngay sau khi đi nắng về để “giải nhiệt” tưởng chừng vô hại nhưng lại là tác nhân hàng đầu dẫn đến những ca đột quỵ não nghiêm trọng.

Các tin khác

“Thải độc” bằng chanh liều cao: Từ trào lưu mạng đến những ca nhập viện, thậm chí tử vong

“Thải độc” bằng chanh liều cao: Từ trào lưu mạng đến những ca nhập viện, thậm chí tử vong

Gần đây, trên mạng xã hội lan truyền trở lại trào lưu sử dụng nước cốt chanh, chanh muối như một “phương thuốc” chữa bách bệnh. Tin theo lời đồn, nhiều người tự ý dùng chanh liều cao hoặc bỏ điều trị y khoa, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Thực đơn dinh dưỡng bảo vệ thận cho người bị chứng thận hư

Thực đơn dinh dưỡng bảo vệ thận cho người bị chứng thận hư

Kiêng khem quá mức sẽ dẫn đến suy kiệt cơ thể, hoặc bồi bổ sai cách lại tạo gánh nặng cho thận là 2 bài toán đặt ra về vấn đề dinh dưỡng với người có hội chứng thận hư. Bổ sung dinh dưỡng đúng cách là một liệu pháp hỗ trợ để kiểm soát triệu chứng, giảm phù và hỗ trợ trong quá trình điều trị bệnh thận hư.
Những thực phẩm người cao tuổi nên tránh để bảo vệ sức khỏe

Những thực phẩm người cao tuổi nên tránh để bảo vệ sức khỏe

Đối với người cao tuổi, chế độ ăn uống không chỉ đơn thuần là cung cấp năng lượng mà còn là yếu tố can thiệp trực tiếp đến diễn tiến của các bệnh lý mạn tính...
Tắm - xông - Ngâm thuốc đúng cách giúp cơ thể thải độc và tái sinh tế bào

Tắm - xông - Ngâm thuốc đúng cách giúp cơ thể thải độc và tái sinh tế bào

Có những bí quyết trường thọ ở ngay trong đời sống hằng ngày, trong nếp sinh hoạt tưởng như bình thường đến mức nhiều người không còn để ý. Tắm, xông, ngâm chân là cách giúp thân thể “thở”, giúp khí huyết lưu thông, giúp độc tố có đường đi ra ngoài, và giúp sự sống trong mỗi tế bào được làm mới mỗi ngày...
Dưỡng sinh Tâm - Thân - Ý

Dưỡng sinh Tâm - Thân - Ý

Dưỡng sinh vốn không phải chuyện tập vài động tác hay uống thêm vài vị thuốc. Đó là nghệ thuật nuôi dưỡng toàn bộ sự sống từ tế bào, hơi thở đến tâm ý bên trong. Khi thân - tâm - ý vận hành hài hòa, trường năng lượng sống được kích hoạt, con người không chỉ khỏe mạnh hơn mà còn trẻ lâu, minh mẫn và an định trước biến động đời sống...
Bị bỏng có nên bôi nghệ?

Bị bỏng có nên bôi nghệ?

Tôi vừa bị bỏng nước sôi ở tay nhìn rất sợ. Có người khuyên giã nghệ tươi và bôi ngay khi lên da non, có người lại bảo không nên. Vậy tôi phải làm thế nào bây giờ? Mong chuyên mục tư vấn giúp.
Hội chẩn đa chuyên khoa: Chuẩn mực mới, hy vọng mới cho người bệnh ung thư

Hội chẩn đa chuyên khoa: Chuẩn mực mới, hy vọng mới cho người bệnh ung thư

Trong bức tranh y tế toàn cầu, ung thư không chỉ là một thách thức y khoa đơn thuần mà đã trở thành gánh nặng kinh tế - xã hội, đe dọa trực tiếp đến nguồn lực lao động và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như Việt Nam. Tuy nhiên, khi những rào cản về phát hiện muộn đang là 'điểm nghẽn' ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thì sự tiến bộ của công nghệ sinh học đã mở ra một vận hội mới, trong đó hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) đang được đánh giá là "chìa khóa" sống còn trong cuộc chiến chống ung thư.
Ăn nhiều trứng muối dễ bị nhiễm độc chì

Ăn nhiều trứng muối dễ bị nhiễm độc chì

Con trai tôi 16 tuổi, rất thích món cháo trắng ăn cùng trứng muối. Gần như mỗi tuần cháu phải ăn đến 3-4 lần. Mong chuyên mục cho biết, cháu ăn như vậy có nhiều không? Mỗi tuần cháu nên ăn mấy quả?
Bộ Y tế đặt mục tiêu nâng tầm dược liệu Việt Nam

Bộ Y tế đặt mục tiêu nâng tầm dược liệu Việt Nam

Sự kiện kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Viện Dược liệu không chỉ là dịp nhìn lại chặng đường phát triển của ngành dược liệu, mà còn đặt ra yêu cầu mới: biến tiềm năng tài nguyên bản địa thành năng lực sản xuất, nghiên cứu và thương mại hóa bền vững.
Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Trong kho tàng y học cổ truyền, ngưu bàng từ lâu đã được xem là một vị thuốc đa dụng. Không chỉ xuất hiện trong các bài thuốc dân gian, cây còn được ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe nhờ đặc tính thanh nhiệt, giải độc và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh thường gặp.
Xem thêm
Hội nghị khoa học- Định hướng mới cho sự kết hợp Y học Cổ truyền và Y học hiện đại trong kỷ nguyên số

Hội nghị khoa học- Định hướng mới cho sự kết hợp Y học Cổ truyền và Y học hiện đại trong kỷ nguyên số

CẦN THƠ – Sáng ngày 16/05/2026, tại Vạn Phát Riverside (thành phố Cần Thơ), Hội nghị Khoa học với chủ đề “Y học cổ truyền – Y học hiện đại trong kỷ nguyên mới - Cơ hội và thách thức” đã chính thức được khai mạc. Sự kiện quy mô này do Trường Trung cấp Quốc tế Mekong phối hợp cùng Phòng khám Đa khoa BIC NANO CELL và Chi hội Nam Y Cần Thơ tổ chức, thu hút đông đảo giới chuyên gia, cơ quan quản lý và các y bác sĩ trên cả nước tham dự.
Hợp tác phát triển Nam dược: Hội Nam Y Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo chung tay chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Hợp tác phát triển Nam dược: Hội Nam Y Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo chung tay chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Ngày 15/05/2026, tại trụ sở Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo (tỉnh An Giang), đã diễn ra buổi gặp gỡ và làm việc quan trọng giữa Hội Nam Y Việt Nam và Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Cuộc gặp mở ra chương mới trong việc bảo tồn, phát triển y học cổ truyền và nguồn dược liệu quý báu của dân tộc.
Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hà Nội, ngày 11/4/2026 Hội Nam Y Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Ban Thường vụ lần thứ 14. Đây là kỳ họp quan trọng nhằm đánh giá toàn diện các hoạt động trong quý 1 năm 2026, đồng thời hoạch định chiến lược trọng tâm cho năm 2026, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nam Y Việt Nam nhiệm kỳ 3 (2027–2032)
Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

HẢI PHÒNG – Trong không khí trang nghiêm của những ngày lễ hội, đoàn đại biểu Hội Nam Y Việt Nam do Thầy thuốc Nhân dân. Giáo sư. Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn, đã có chuyến hành trình đầy ý nghĩa về với vùng đất địa linh nhân kiệt Cẩm Văn – Cẩm Vũ (Cẩm Giang, Hải Phòng). Đây là hoạt động thiết thực nhằm tri ân các bậc tiền nhân, đặc biệt là Đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh – vị Thánh thuốc Nam của dân tộc.
Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

(Sức khỏe Việt) – Sáng ngày 26/03/2026, trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Bính Ngọ, Chi hội Nam y tỉnh Thái Nguyên đã trang trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Hội năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị đánh dấu bước phát triển vượt bậc của Chi hội với những thành tích xuất sắc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bảo tồn giá trị y học cổ truyền.
Phiên bản di động