Những bài thuốc quý chữa bệnh từ măng tre

Theo Y học cổ truyền, măng tre có tính mát, vị ngọt nhưng hơi đắng có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giảm sốt, hóa đờm, cầm nôn. Không chỉ được dùng làm nguyên liệu chế biến món ăn, măng tre còn được dùng làm thuốc trong Y học cổ truyền.
Cỏ chân vịt và các bài thuốc chữa bệnh trong Y học cổ truyền Cỏ chân vịt và các bài thuốc chữa bệnh trong Y học cổ truyền
Cây ngô đồng và những công dụng chữa bệnh bất ngờ Cây ngô đồng và những công dụng chữa bệnh bất ngờ

Măng tre

Măng tre có tên khoa học là Bambusa vulgaris hoặc Phyllostachys edulis. Đây là loại cây thuộc nhóm thực vật thân gỗ rỗng, phân thành nhiều đốt. Tại Việt Nam, nơi có nhiều tre phải kể đến Thanh Hóa, Hòa Bình, Nam Định, Thái Bình,... Và đây cũng là nơi xuất hiện nhiều măng tre.

Măng tre có 2 loại măng ta và măng tây:

Măng tre (măng ta) là phần non của cây tre, một loại thực vật thân gỗ, đặc trưng cho miền quê Việt Nam, tên khoa học Bambusa vulgaris và Phyllostachys edulis.

Măng tây là loại cây dạng bụi, thân thảo, trồng lâu năm ở các vùng có nhiệt độ trung bình khoảng 25oC. Cây măng tây có tên khoa học là asparagus officinalis L. thuộc họ măng tây Asparagaceae, là một loại rau cao cấp.

Măng có hàm lượng calo thấp, giàu chất xơ và giàu chất dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng chính trong măng là chất đạm, chất bột đường, axit amin, chất khoáng, chất béo, đường, chất xơ và muối vô cơ.

Các chồi chứa nhiều khoáng chất tốt, bao gồm chủ yếu là kali (K), canxi (Ca), mangan, kẽm, crom, đồng, sắt (Fe), cùng với một lượng nhỏ phốt pho (P) và selen. Măng tươi là nguồn cung cấp dồi dào thiamine, niacin, vitamin A, vitamin B6 và vitamin E.

Những bài thuốc quý chữa bệnh từ măng tre
Măng tre không chỉ dùng chế biến món ăn chúng còn được dùng làm thuốc trong Y học cổ truyền

Công dụng của măng tre

Theo Y học cổ truyền

Lá tre có vị ngọt nhạt, hơi cay, tính lạnh, vào các kinh : tâm, phế, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giảm sốt.

Nước ép từ cây tre non để tươi, đem nướng, có vị ngọt, tính lạnh, vào các kinh : tâm, vị, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đờm, giảm sốt.

Tinh tre có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, vào các kinh : phế, can, vị, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đờm, cầm nôn.

Cặn silic đọng ở trong gióng cây tre già có vị ngọt, hơi mặn, tính lạnh, có tác dụng giảm sốt. Măng tre có vị ngọt, mát, hơi đắng, có tác dụng thanh nhiệt.

Thúc đẩy giảm cân

Măng tre là một lựa chọn tuyệt vời nếu bạn đang muốn giảm cân. Chúng không chỉ chứa ít calo mà còn giàu chất xơ, một chất dinh dưỡng quan trọng cũng có thể hỗ trợ giảm cân.

Tăng cường miễn dịch

Măng chứa nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho các hoạt động trơn tru của cơ thể. Măng tre giúp nâng cao khả năng miễn dịch. Sự hiện diện của các vitamin thiết yếu như vitamin A, C, E, và B giúp tăng cường chức năng miễn dịch.

Chữa các vấn đề hô hấp

Măng tre rất hiệu quả trong chữa trị các vấn đề về hô hấp và rối loạn như khó thở, hen suyễn, viêm phế quản. Do có đặc tính chống viêm, măng cũng giúp chữa bệnh viêm đường hô hấp. Bạn có thể luộc măng và thêm một chút mật ong để làm long đờm một cách hiệu quả.

Hỗ trợ sức khỏe tiêu hóa

Ngoài việc thúc đẩy giảm cân, chất xơ có trong măng tre cũng có thể giúp hỗ trợ sức khỏe hệ tiêu hóa. Đặc biệt, chất xơ có thể bổ sung số lượng lớn vào phân, có lợi cho những người bị táo bón.

Ngoài ra, chất xơ có thể hỗ trợ phòng ngừa và điều trị một số vấn đề tiêu hóa, bao gồm trào ngược axit, bệnh trĩ, viêm túi thừa và loét dạ dày.

Giúp giảm huyết áp

Một chén măng tre có thể cung cấp khoảng 18% giá trị kali, một vi chất dinh dưỡng quan trọng đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe tim mạch.

Tăng lượng chất xơ bằng cách ăn nhiều măng tre cũng có thể giúp giảm huyết áp. Việc bổ sung chất xơ có hiệu quả trong việc giảm đáng kể mức huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương.

Chất chống oxy hóa

Măng tre là một nguồn chất chống oxy hóa tuyệt vời, đây là những hợp chất quan trọng có thể trung hòa các gốc tự do để ngăn ngừa tổn thương tế bào. Đặc biệt, măng tre rất giàu chất chống oxy hóa và flavonoid như catechin, axit caffeic, axit chlorogenic và axit p-coumaric.

Chất chống oxy hóa không chỉ có thể giúp giảm viêm và stress oxy hóa, một số nghiên cứu cho thấy rằng chúng cũng có thể bảo vệ chống lại bệnh mãn tính. Trên thực tế, chất chống oxy hóa có thể hỗ trợ trong việc ngăn ngừa các bệnh như bệnh tim, ung thư và tiểu đường.

Chống viêm

Măng tre cũng thể hiện đặc tính chống viêm hiệu quả. Măng làm giảm đau, viêm cũng như chữa lành vết loét. Măng có thể luộc lên rồi ăn hoặc ép lấy nước và bôi trực tiếp lên vết thương để giảm viêm.

Giảm mức cholesterol

Nhờ hàm lượng giàu chất xơ và chất chống oxy hóa, nên thêm măng tre vào chế độ ăn uống của bạn để giúp giảm đáng kể mức cholesterol trong máu.

Đặc biệt là chất xơ hòa tan có trong măng đã được chứng minh là làm giảm mức cholesterol toàn phần và LDL (có hại) để hỗ trợ sức khỏe tim mạch tốt hơn.

Những bài thuốc quý chữa bệnh từ măng tre
Măng có thành phần hóa học phong phú

Bài thuốc từ măng tre

Chữa cảm sốt, miệng khô khát: Lá tre 30g, thạch cao 12g, mạch môn 8g, gạo tẻ 7g, bán hạ 4g, nhân sâm (hoặc đảng sâm) 2g, cam thảo 2g. Sắc uống trong ngày.

Chữa cảm sốt và cúm có sốt cao: Lá tre, kim ngân, mỗi vị 16g; cam thảo đất 12g; kinh giói, bạc hà, mỗi vị 8g. sắc uống ngày một thang.

Lá tre 20g, bạc hà 40g; kinh giới, tía tô, cối xay, mỗi vị 20g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa say nắng, cảm nắng: Nước măng tre chua 300 ml; gừng gió, muối ăn mỗi vị 20g; hành tươi, tỏi tươi, mỗi vị 10g; gừng tươi 5g, trứng gà 1 quả. Đun sôi nước măng chua; những vị khác giã nát, trộn lẫn, bỏ vào nước măng sôi, đập trứng vào, khuấy đều cho chín, uống lúc còn nóng. Sau khi uống thuốc, ủ ấm người cho ra mồ hôi.

Chữa viêm đại tràng mạn tính thể táo: Trúc nhự 8g; sài hồ, đương quy, nhân trần, chi tử (sao), vỏ cây khế, đảng sâm, chỉ thực, thương truật, bạch thược, táo nhân (sao đen), mỗi vị 12g; cúc hoa 8g, bạc hà 6g. sắc uống ngày một thang.

Chữa vết thương chảy máu: Lá tre non, gạo tẻ, mỗi vị 40g; thuốc lào 20g. Phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn, rắc vào vết thương và băng lại.

Chữa đái buốt, đái nhắt: Búp tre, rau má, mỗi vị 20g (tươi). Giã nát vói vài hạt muối, thêm nước, gạn uống. Mỗi ngày dùng một thang.

Chữa lỵ mạn tính: Búp tre 4g, chè tươi 10g, hạt cau già 2g. Sao vàng, sắc uống ngày một thang.

Chữa tăng huyết áp: Búp tre non 10g, lá diễn tươi 100g, lá dâu tươi 50g, hoa cúc vàng 15g. Sắc uống thay nước trà, mỗi ngày một thang.

Chữa lỗ rò lao hạch hay tràng nhạc ở cổ: Tinh tre 10g; lá chanh, lá tầm xoọng, mỗi vị 20g. Các vị phơi khô, tán nhỏ. Rửa sạch vết loét, rắc thuốc rồi băng lại.

Chữa viêm phế quản cấp tính: Lá tre 12g, thạch cao 16g; tang bạch bì, mạch môn, sa sâm, thiên môn, hoài sơn, mỗi vị 12g; lá hẹ 8g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa hen phế quản khi đang có cơn hen: Trúc lịch 20 ml, tang bạch bì 20g; hạnh nhân, hoàng cầm, mỗi vị 12g; bán hạ chế 8g, ma hoàng 6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm phổi ở giai đoạn khởi phát: Trúc nhự 8g; kim ngân, sài đất, bồ công anh, mỗi vị 20g; kinh giới, cỏ mần trầu, mỗi vị 16g; tang bạch bì 12g, hạnh nhân 8g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm phổi ở giai đoạn chưa có biến chứng: Trúc nhự 8g; thạch cao, cỏ mần trầu, mỗi vị 20g; hoàng liên, hoàng bá, kim ngân hoa, bồ công anh, sài đất, mỗi vị 16g; tang bạch bì, hạnh nhân, mỗi vị 12g; bối mẫu, cam thảo, mỗi vị 6g. sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm thanh quản nói không ra tiếng: Trúc nhự, lá tre, tang bạch bì, mỗi vị 12g; thổ bối mẫu 10g; thanh bì, cát cánh, mỗi vị 8g; nam tinh chế 6g, gừng 4g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm màng phổi do lao, tràn dịch màng phổi: Lá tre 10g, phục linh 12g, thương truật 10g; hồng hoa, đào nhân, mỗi vị 8g; cam thảo 6g; nguyên hoa, cam toại, đại kích, mỗi vị 4g; đại táo 10 quả. Sắc uống ngày một thang. Cần theo dõi mạch và huyết áp người bệnh vì bài thuốc gây tiêu chảy nhiều.

Chữa viêm cầu thận cấp tính: Lá tre 16g; bồ công anh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 20g; sinh địa, mộc thông, hoàng bá, hoàng cầm, mỗi vị 12g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm bàng quang cấp tính: Lá tre 16g; sinh địa, mộc thông, hoàng cầm, mỗi vị 12g; cam thảo, đăng tâm, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa đái ra dưỡng trấp: Lá tre, kim tiền thảo, mía dò, mỗi vị 20g; giá đỗ xanh, tỳ giải, mỗi vị 16g; ý dĩ 12g, hoạt thạch 10g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác: Trúc nhự 8g, cam thảo dây 12g; bán hạ chế, trần bì, đởm nam tinh, chỉ thực, củ gấu, ô dược, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

Trúc nhự 6g, phục linh 12g; bán hạ, trần bì, chỉ thực, mỗi vị 8g; cam thảo 6g, gừng 2g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa giai đoạn sau cơn kịch phất của bệnh tâm thẩn thể hưng phấn (chứng cuồng): Lá tre 16g; sinh địa, mạch môn, huyền sâm, mộc thông, mỗi vị 12g; tâm sen, cam thảo nam, mỗi vị 8g; đăng tâm 6g. sắc uống ngày một thang.

Trúc lịch 12 ml; tiểu mạch, đại táo, mạch môn, mỗi vị 12g; sơn thù, bạch thược, bán hạ chế, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa co giật trẻ em: Lá tre 16g; sinh địa, mạch môn, câu đằng, lá vông, mỗi vị 12g; chi tử 10g; cương tàm, bạc hà, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa sởi ở thời kỳ đang mọc: Lá tre 20g; sài đất, ngân hoa, mỗi vị 16g; mạch môn, sa sâm, sắn dây, cam thảo đất, mỗi vị 12g. sắc uống ngày một thang.

Chữa thủy đậu: Lá tre, liên kiều, mỗi vị 8g; cát cánh, đạm đậu sị, mỗi vị 4g; bạc hà, sơn chi, cam thảo, mỗi vị 2g; hành tăm 2 củ. Sắc uống ngày một thang.

Chữa nôn mửa khi mang thai: Trúc nhự 6g, đảng sâm 16g; bạch truật, ý dĩ, mỗi vị 12g; trần bì, bán hạ chế, mỗi vị 8g; gừng tươi 2g. Sắc uống trong ngày.

Trúc nhự 8g, đảng sâm 16g; trần bì, bán hạ chế, bạch linh, mạch môn, tỳ bà diệp, đại táo, mỗi vị 8g; gừng tươi 2g. Sắc uống.

Trúc nhự 8g; trần bì, bán hạ chế, mỗi vị 6g; tô diệp, hoàng liên, mỗi vị 4g. sắc uống.

Trúc nhự 6g; hoàng liên, bán hạ chế, phục linh, mỗi vị 8g; trần bì, chỉ xác, mỗi vị 6g; cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa loét miệng: Lá tre 16g, thạch cao 20g; sinh địa, chut chít, cam thảo nam, mỗi vị 16g; huyền sâm, ngọc trúc, mộc thông, mỗi vị 12g. sắc uống ngày một thang

Những bài thuốc quý chữa bệnh từ măng tre
Măng tre là thực phẩm phổ biến tại Việt Nam

Lưu ý khi sử dụng măng tre

Trong măng tươi có hàm lượng cyanide rất cao. Dưới tác động của các enzym tiêu hóa, cyanide biến thành axit cyanhydric (HCN), là một chất cực độc với cơ thể.

Trẻ em, người già yếu dễ nhạy cảm với độc tính của nó.

Đối với những bệnh nhân đau nhứt xương khớp, nên hạn chế ăn. Và cẩn trọng khi dùng kèm với các thuốc khác, vì có thể làm giảm tác dụng của thuốc.

Măng có thể gây phản ứng dị ứng khi ăn

Munro, một chiết xuất từ ​​lá cây tre được sử dụng để phá thai trong y học dân gian Nigeria. Một chiết xuất trong nước của lá tre, có chứa ancaloit, tannin, phenolics, glycosid, saponin, flavonoid và anthraquinon, được phát hiện làm tăng đáng kể tần suất sẩy thai và giảm tỷ lệ sống sót của bào thai ở thỏ mang thai với liều 250–500 mg/ kg thể trọng mỗi ngày.

Vì vậy, hãy sử dụng măng tre như một loại thực phẩm ngon với một lượng vừa phải. Nếu đang uống thuốc, hãy hỏi bác sĩ của bạn về việc sử dụng măng tre phù hợp nhất.

Thúy Hà (t/h)
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Đẩy mạnh phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam trong giai đoạn mới

Đẩy mạnh phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam trong giai đoạn mới

Ngày 15/9/2025, Phó Thủ tướng Lê Thành Long đã ký Chỉ thị số 25/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương liên quan đẩy mạnh phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam trong giai đoạn mới.
Tác dụng chữa bệnh của cây a kê

Tác dụng chữa bệnh của cây a kê

Cây A kê còn gọi Akee thuộc họ bồ hòn. Nhiều bộ phận khác nhau của cây A kê được dùng để làm thuốc có tác dụng giảm đau, chống nôn, chống độc, tuy nhiên, nhiều bộ phận cũng được voi là chất độc và chất kích thích. Thường được dùng làm thuốc trị phù thũng, viêm kết mạc, đau mắt, đau nửa đầu, viêm tinh hoàn, lở, bệnh phó dậu, loét, sốt vàng da, ghẻ cóc.
Tác dụng chữa bệnh của dược liệu bán hạ nam

Tác dụng chữa bệnh của dược liệu bán hạ nam

Bán hạ nam còn được gọi là củ chóc, cây chóc chuột hay lá ha chìa... bán hạ nam chứa các thành phần sterol, saponin, coumarin, alcaloid, a xít hữu cơ, a xít amin. Theo YHCT, bán hạ có tác dụng giáng nghịch, chỉ ho, trừ đờm, chống nôn. Dùng trị các chứng bệnh ho có nhiều đờm, hoặc ho do viêm phế quản mạn tính, nôn do trướng khí.

Cùng chuyên mục

Hồi đầu thảo – dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày

Hồi đầu thảo – dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày

Hồi đầu thảo là một dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền, có tính bình, vị đắng, thường được sử dụng trong các bài thuốc hỗ trợ điều hòa kinh nguyệt, giảm đau dạ dày, trị mụn nhọt, viêm gan mạn tính và một số chứng bệnh do khí huyết ứ trệ. Việc sử dụng hồi đầu thảo đúng cách, đúng liều lượng được cho là mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt với phụ nữ.
Ban hành phác đồ điều trị 16 bệnh phổ biến: Kết hợp tinh hoa y học cổ truyền và hiện đại

Ban hành phác đồ điều trị 16 bệnh phổ biến: Kết hợp tinh hoa y học cổ truyền và hiện đại

Bộ Y tế vừa ban hành 16 bài hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh theo y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Đây là căn cứ để các cơ sở y tế trên toàn quốc xây dựng hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền và hiện đại tại đơn vị.
Dế – “vị thuốc” dân gian trong Đông y: Công dụng, cách dùng và những lưu ý an toàn

Dế – “vị thuốc” dân gian trong Đông y: Công dụng, cách dùng và những lưu ý an toàn

Tóm tắt: Không chỉ là loài côn trùng quen thuộc ở đồng ruộng, dế (dế mèn, dế dũi…) từ lâu còn được ghi nhận trong y học cổ truyền như một dược liệu có tính hàn, vị mặn, thường được dân gian ứng dụng để hỗ trợ bí tiểu, sỏi đường tiết niệu, táo bón và một số trường hợp sinh khó.
Xịt xoang Triệu Minh – Bài thuốc từ tình thương và trí tuệ

Xịt xoang Triệu Minh – Bài thuốc từ tình thương và trí tuệ

Trong dòng chảy hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ, giữa bộn bề của cuộc sống đô thị nơi con người ngày càng xa rời với thiên nhiên và cội nguồn vẫn còn đó những con người lặng thầm bền bỉ gìn giữ những giá trị cổ truyền dân tộc – không chỉ bằng tri thức mà bằng cả tâm nguyện và lòng từ bi. Một trong những hình ảnh đáng kính ấy là sư thầy Thích Đàm Thái – một nữ tu người dân tộc Dao, hiện đang trụ trì tại chùa Quang Phúc (Phường Thanh Liệt, Thành phố Hà Nội), tác giả bài thuốc gia truyền “Xịt xoang Triệu Minh”.
Cát sâm – “Sâm nam” mộc mạc và giá trị bền vững trong y học cổ truyền

Cát sâm – “Sâm nam” mộc mạc và giá trị bền vững trong y học cổ truyền

Trong kho tàng dược liệu phong phú của y học cổ truyền Việt Nam, cát sâm là một vị thuốc quen thuộc nhưng không phô trương, được dân gian tin dùng từ lâu đời nhờ tính mát, dễ sử dụng và khả năng bồi bổ cơ thể một cách bền bỉ. Dược liệu này thường xuất hiện trong các bài thuốc thanh nhiệt, bổ tỳ phế, trị ho nhiều đờm, nhức đầu, bí tiểu và hỗ trợ phục hồi thể trạng cho người suy nhược.
Cây nắp ấm – Từ loài cây bắt mồi đến vị thuốc Đông y quen thuộc

Cây nắp ấm – Từ loài cây bắt mồi đến vị thuốc Đông y quen thuộc

Không chỉ được biết đến như một loài cây cảnh độc đáo có khả năng bắt côn trùng, cây Nắp ấm (còn gọi là cây Bình nước) từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền như một vị thuốc thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý thường gặp. Trong bối cảnh xu hướng quay trở lại với thảo dược tự nhiên ngày càng rõ nét, Nắp ấm đang dần được nhìn nhận lại dưới góc độ dược liệu có giá trị.

Các tin khác

Cây đuôi công – Dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều trị đau nhức, bong gân

Cây đuôi công – Dược liệu cổ truyền hỗ trợ điều trị đau nhức, bong gân

Từ lâu trong dân gian và y học cổ truyền, cây đuôi công đã được biết đến như một loại dược liệu có thể hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý như đau nhức xương khớp, bong gân, phong thấp, mát gan, giảm đau dạ dày. Với hình dáng đẹp, màu hoa nổi bật, cây đuôi công vừa được trồng làm cảnh, vừa được khai thác làm thuốc. Tuy nhiên, đây là vị thuốc có độc tính, đòi hỏi người sử dụng phải hiểu rõ đặc điểm, công dụng và những lưu ý quan trọng trước khi áp dụng.
Cao ban long – Dược liệu quý cổ truyền, dùng đúng cách để phát huy giá trị bồi bổ

Cao ban long – Dược liệu quý cổ truyền, dùng đúng cách để phát huy giá trị bồi bổ

Trong kho tàng y học cổ truyền, cao ban long được xếp vào nhóm dược liệu quý, thường xuất hiện trong các bài thuốc bồi bổ cơ thể, hỗ trợ xương khớp, sinh tinh và nâng cao thể trạng. Tuy nhiên, cũng như nhiều vị thuốc bổ khác, cao ban long không phải ai dùng cũng phù hợp, việc sử dụng cần đúng liều, đúng đối tượng và có hiểu biết đầy đủ để đảm bảo an toàn, hiệu quả.
Màng tang – Dược liệu giàu tinh dầu, hỗ trợ tiêu hóa và giảm đau

Màng tang – Dược liệu giàu tinh dầu, hỗ trợ tiêu hóa và giảm đau

Trong kho tàng dược liệu Đông y, màng tang là loại cây được đánh giá cao nhờ hàm lượng tinh dầu dồi dào, mang lại nhiều tác dụng dược lý quan trọng. Từ lâu, dược liệu này đã được sử dụng để hỗ trợ điều trị đầy hơi, tiêu chảy, đau bụng kinh niên, phong thấp, đau nhức xương khớp, phù chân kéo dài. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả và đảm bảo an toàn, người dùng cần hiểu rõ đặc điểm, công dụng cũng như cách sử dụng đúng của vị thuốc này.
Ý dĩ: Từ bài thuốc dân gian đến những lưu ý khoa học cho người dùng

Ý dĩ: Từ bài thuốc dân gian đến những lưu ý khoa học cho người dùng

Trong kho tàng dược liệu Đông y, ý dĩ là cái tên quen thuộc, xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian và y thư cổ. Không chỉ được biết đến với công dụng hỗ trợ điều trị ho, phong thấp, sỏi tiết niệu, ý dĩ còn được nhiều người truyền tai nhau như một “bí quyết” giúp làm đẹp da, giảm cân. Tuy nhiên, các thầy thuốc Đông y đều khuyến cáo: ý dĩ là vị thuốc, không phải thực phẩm dùng tùy tiện, nếu lạm dụng hoặc dùng sai cách có thể gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.
Cây gai cua – Dược liệu dân gian được dùng ở nhiều nước nhưng tiềm ẩn độc tính

Cây gai cua – Dược liệu dân gian được dùng ở nhiều nước nhưng tiềm ẩn độc tính

Trong y học cổ truyền của một số quốc gia như Ấn Độ, Nepal, cây gai cua được sử dụng như một dược liệu hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý, từ viêm nhiễm ngoài da, vàng da đến ho, sốt. Tuy nhiên, khác với nhiều vị thuốc quen thuộc ở Việt Nam, cây gai cua chưa được sử dụng chính thức trong y học cổ truyền nước ta và được xếp vào nhóm dược liệu có độc, cần đặc biệt thận trọng khi áp dụng.
Cà cuống – Côn trùng dân dã trở thành đặc sản ẩm thực và vị thuốc trong Đông y

Cà cuống – Côn trùng dân dã trở thành đặc sản ẩm thực và vị thuốc trong Đông y

Trong ký ức ẩm thực của nhiều thế hệ người Việt, cà cuống không chỉ là một loài côn trùng sống ở ruộng nước, ao hồ mà còn gắn liền với mùi hương rất riêng, rất “Bắc”. Từ bánh cuốn, bún thang đến chả cá, chỉ cần một giọt tinh dầu cà cuống cũng đủ làm dậy lên hương vị khó trộn lẫn. Không dừng lại ở vai trò gia vị, theo y học cổ truyền, cà cuống còn được xem là một vị thuốc có giá trị, nếu sử dụng đúng cách và đúng liều lượng.
Nông sản trong y học cổ truyền: Thực phẩm cũng là vị thuốc

Nông sản trong y học cổ truyền: Thực phẩm cũng là vị thuốc

Trong y học cổ truyền, ranh giới giữa thực phẩm và thuốc chữa bệnh vốn không tách bạch như trong quan niệm hiện đại. Từ xa xưa, ông cha ta đã đúc kết triết lý “dĩ thực vi dược” – lấy thực phẩm làm thuốc, coi bữa ăn hằng ngày là nền tảng quan trọng để phòng bệnh, dưỡng sinh và phục hồi sức khỏe. Đến nay, khi y học dự phòng ngày càng được đề cao, cách nhìn này đang được giới chuyên môn và cộng đồng quan tâm trở lại như một hướng đi bền vững cho sức khỏe con người.
Gạo lứt, đậu xanh, mè đen – bộ ba thực dưỡng quen mà lạ trong chăm sóc sức khỏe

Gạo lứt, đậu xanh, mè đen – bộ ba thực dưỡng quen mà lạ trong chăm sóc sức khỏe

Trong dòng chảy của dinh dưỡng hiện đại, khi nhiều người tìm đến các loại thực phẩm chức năng hay chế độ ăn “ngoại nhập”, thì gạo lứt, đậu xanh, mè đen – ba loại nông sản quen thuộc của người Việt – lại đang được nhìn nhận trở lại như một bộ ba thực dưỡng giàu giá trị. Quen thuộc trong đời sống hằng ngày, nhưng dưới góc nhìn khoa học dinh dưỡng và y học cổ truyền, bộ ba này vẫn còn nhiều giá trị “quen mà lạ”, đáng để khai thác đúng cách trong chăm sóc sức khỏe chủ động.
Vừng đen - Vị thuốc bồi bổ gan thận, dưỡng khí huyết

Vừng đen - Vị thuốc bồi bổ gan thận, dưỡng khí huyết

Không chỉ là một loại gia vị, thực phẩm dinh dưỡng quen thuộc, vừng đen (mè đen) còn được y học cổ truyền xem là vị thuốc quý, có tác dụng bổ gan thận, dưỡng tinh huyết, nhuận tràng, làm đen tóc và tăng cường sức khỏe lâu dài. Từ xa xưa, vừng đen đã hiện diện trong nhiều bài thuốc dân gian, được sử dụng để bồi bổ cơ thể và phòng ngừa bệnh tật.
Giữ ấm từ bàn chân: Bước đơn giản để phòng cảm lạnh mùa rét

Giữ ấm từ bàn chân: Bước đơn giản để phòng cảm lạnh mùa rét

Khi trời trở lạnh, dù bạn đã mặc đủ áo ấm, nhưng cảm giác mệt mỏi, dễ bị cảm hay giấc ngủ không sâu vẫn có thể ghé thăm. Một trong những nguyên nhân phổ biến nhưng thường bị lãng quên là việc không giữ ấm bàn chân. Điều này khiến cơ thể "mất nhiệt" liên tục và tiêu hao năng lượng không cần thiết. Vậy tại sao giữ ấm bàn chân lại quan trọng đến vậy?
Xem thêm
Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Chi hội Nam y tỉnh An Giang khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 200 người dân xã Thường Phước

Ngày 14/01/2026, thực hiện kế hoạch hoạt động Quý I/2026, Chi hội Nam y tỉnh An Giang phối hợp Hội Chữ thập đỏ xã Thường Phước (tỉnh Đồng Tháp) tổ chức chương trình khám bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho 200 người dân địa phương.
Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Chi hội Nam y tỉnh An Giang tổng kết hoạt động năm 2025, đề ra mục tiêu phát triển vững mạnh trong năm 2026

Thực hiện chương trình công tác năm 2025, Chi hội Nam y tỉnh An Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động vào ngày 03/01/2025 tại phường Tân Châu, tỉnh An Giang.
Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Hội Nam y Việt Nam: Dấu ấn hoạt động năm 2025 và mục tiêu trọng tâm năm 2026

Năm 2025 ghi dấu một giai đoạn hoạt động sôi động, nhiều điểm nhấn của Hội Nam y Việt Nam trong bối cảnh phong trào bảo tồn, phát triển y học cổ truyền và Nam y tiếp tục nhận được sự quan tâm của xã hội.
Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh: Trang trọng Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập và Hội thảo khoa học Kế thừa di sản Đại Danh y Tuệ Tĩnh

(SKV) - Trong không khí trang trọng và phấn khởi, sáng ngày 21/12 Viện Nghiên cứu Y Dược học Tuệ Tĩnh đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập gắn với Hội thảo khoa học “Kế thừa, phát huy di sản Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh trong nghiên cứu và phát triển Y Dược học cổ truyền”. Sự kiện là dấu mốc quan trọng, nhìn lại chặng đường hình thành – phát triển của Viện, đồng thời mở ra những định hướng mới cho y dược học cổ truyền Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và đổi mới.
Lan tỏa phong trào thi đua khi trí thức, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng đồng hành

Lan tỏa phong trào thi đua khi trí thức, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng đồng hành

Hội nghị Khối thi đua số 7 của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam diễn ra ngày 20/12 tại Hà Nội.
Phiên bản di động