Những lưu ý khi sắc thuốc đông y

Thuốc thang sắc là một phương pháp điều trị bệnh trong y học cổ truyền. Quá trình sắc thuốc có tác động rất nhiều đến dược tính của thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Vậy khi sắc thuốc cần lưu ý điều gì?

Theo kinh nghiệm được ghi chép lại trong cuốn Dược phẩm vậng yếu của Danh Y Hải Thượng Lãn Ông, cách sắc thuốc có tác động rất nhiều đến dược tính của thuốc.

Cách sắc thuốc thông thường là cho thuốc thang vào nồi, đổ nước ngập thuốc. Khi nước đã sôi, đun lửa nhỏ, sôi âm ỉ, tránh để sôi trào ra ngoài. Đậy vung nồi kín, không nên mở vung nồi ấm sắc, vì dễ bay hơi, mất hoạt chất của thuốc và thường sẽ cho 3 phần nước, đun cô đặc còn 1 phần.

Sắc thuốc thế nào để đảm bảo dược tính? - Ảnh 1.

Thuốc điều trị bệnh mạn tính nên ngâm thuốc trước khi sắc. https://suckhoeviet.org.vn/

Trường hợp, bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân tự sắc thuốc tại gia, nên lưu ý một số điểm để đảm bảo chất lượng dược tính của thang thuốc:

1. Dụng cụ sắc thuốc

Ngày nay, trên thị trường có rất nhiều mẫu mã ấm sắc thuốc tiện lợi, dễ sử dụng, dung tích phù hợp với không gian bếp sống hiện đại. Ấm sắc được làm từ nguyên liệu đa dạng như nồi sắc kim loại, inox, siêu đất…

Việc lựa chọn chất liệu dụng cụ sắc thuốc có vai trò rất quan trọng, vì chất liệu ở ấm sắc có thể sẽ làm biến chất dược tính của các vị thuốc, dẫn đến giảm hiệu quả điều trị của bài thuốc.

Tuyệt đối không dùng nồi kim loại để sắc thuốc thang. Tốt nhất, nên dùng siêu đất để sắc thuốc. Chúng ta có thể tham khảo một số siêu ấm điện làm từ gốm được sản xuất tại Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…

2. Chú ý trong khi sắc thuốc

2.1.Trước khi sắc thuốc

Đa số chúng ta thường bỏ qua bước ngâm thuốc, mà sắc thuốc luôn. Đối với thang thuốc điều trị bệnh cấp tính như cảm mạo phong hàn, rối loạn đường tiêu hóa… bệnh mới mắc thì có thể bỏ qua bước này.

Tuy nhiên, với thang thuốc điều trị bệnh mạn tính, bệnh đã diễn biến một thời gian khoảng từ 3 tháng trở lên thì cần ngâm thuốc trước khi sắc.

Nên ngâm với nước sạch từ 15 - 20 phút để nước ngấm đều vào bên trong vị thuốc. Như vậy khi sắc sẽ chiết xuất được tối đa thành phần dược tính của thuốc.

Không nên để nguyên vị thuốc đối với một số vị thuốc cứng rắn, có nguồn gốc từ động vật như miếp giáp, qui bản, long cốt, mẫu lệ… hoặc loại thuốc thực vật có dạng hạt, quả khô cứng như hạnh nhân, đào nhân, sa nhân, nhục đậu khấu…

Trong trường hợp thang thuốc có những vị thuốc từ động vật và thực vật có tính chất cứng rắn như nêu trên, thì trước khi sắc thuốc cần đập vụn, giã nhỏ mịn vị thuốc, rồi mới bỏ vào nồi đun. Có như vậy hoạt chất từ thuốc mới ngấm ra tốt hơn, nhanh hơn.

Riêng những vị thuốc nhỏ, có sợi lông nhỏ… có thể kích thích lên niêm mạc hầu họng gây dị ứng, khó chịu với người uống thuốc. Để khắc phục tình trạng này chúng ta nên đựng các vị thuốc đó vào một túi vải lọc, gói lại, để vào ấm sắc chung các vị thuốc khác. Hoặc cần cẩn thận lọc kĩ cặn thuốc sau khi sắc thuốc xong.

Một số vị thuốc từ thực vật sử dụng lá hoặc toàn thảo có kích thước lớn như ty qua lạc, kim tiền thảo, lá khôi… sẽ chiếm nhiều diện tích ấm sắc, ảnh hưởng đến việc lấy tỷ lệ nước sắc và cô đặc thuốc. Vậy nên, cần sắc bỏ bã trước, sau đó cho phần nước thuốc đã sắc vào ấm sắc thang thuốc chung, lấy nước sắc với các vị thuốc khác để uống.

Cuối cùng trước khi sắc thuốc cần sắc những vị thuốc có độc như hắc phụ tử… vào nồi sắc trước, sau đó mới bỏ các vị thuốc còn lại vào sau.

Sắc thuốc thế nào để đảm bảo dược tính? - Ảnh 3.

Mỗi vị thuốc khác nhau cần có cách sắc phù hợp để đảm bảo dược tính của thuốc. https://suckhoeviet.org.vn/

2.2. Trong khi sắc thuốc

Đối với thuốc thuộc nhóm giải biểu, có hương thơm… không nên đun quá lâu với lửa nhỏ. Vì khi sắc những vị thuốc đó lâu, sẽ phát tán hương liệu, làm giảm dược tính của thuốc.

Lưu ý, khi nước sôi, bỏ vị thuốc vào nồi, chỉ sắc trong vòng 3-5 phút thì bắc nồi thuốc ra. Hoặc tán nhỏ thuốc hòa vào nước thuốc uống.

Đối với thuốc thuộc nhóm bổ là chính như thục địa, bạch truật, hoài sơn, long nhãn, liên nhục… thì cần đun thuốc với lửa nhỏ, sắc thuốc từ từ.

Sau khi sắc thuốc xong, nước thuốc còn sôi thì cho các vị thuốc có tính dẻo, dính như: Di đường, mật ong, a giao… đợi các vị thuốc này hòa tan vào nước thuốc rồi mới uống.

Lưu ý: Bệnh nhân sử dụng bất kì vị thuốc đông y nào cũng nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc người có chuyên môn tham vấn.

Nguồn: Những lưu ý khi sắc thuốc đông y

BS. Lan Anh
suckhoedoisong.vn

Tin liên quan

Già hóa dân số và yêu cầu chuyển đổi sang “già hóa khỏe mạnh” ở Việt Nam

Già hóa dân số và yêu cầu chuyển đổi sang “già hóa khỏe mạnh” ở Việt Nam

Thực trạng này không chỉ đặt ra thách thức cho hệ thống y tế, mà còn tác động trực tiếp đến an sinh xã hội và phát triển kinh tế trong bối cảnh già hóa đang diễn ra nhanh chóng.

Cùng chuyên mục

Thuốc tả hạ trong Đông dược

Thuốc tả hạ trong Đông dược

(SKV) - Thuốc tả hạ là nhóm thuốc trong Đông y dùng để làm thông đại tiện, dẫn tích trệ, chữa các chứng táo bón, tả hỏa, giải độc, chữa ứ huyết, bế kinh và các cơn đau bụng do giun.
Từ nghiên cứu đến kỳ vọng: “Sâm Nữ Hoàng” và khát vọng nâng tầm dược liệu Việt Nam

Từ nghiên cứu đến kỳ vọng: “Sâm Nữ Hoàng” và khát vọng nâng tầm dược liệu Việt Nam

(SKV) - Giữa muôn vàn sắc xanh của đất mẹ, có một loài cây vừa quen vừa lạ đang thì thầm câu chuyện về sức sống và niềm tin. Người ta gọi nó bằng cái tên đầy nữ tính – Sâm Nữ Hoàng. Không lộng lẫy như hoa, không kiêu sa như những loài dược liệu được ca tụng từ lâu đời, Sâm Nữ Hoàng lặng lẽ vươn mình, mang trong từng thớ lá, từng nhánh rễ một nguồn năng lượng quý giá cho sức khỏe con người và trở thành biểu tượng của khát vọng: rằng người Việt có thể gieo trồng, nuôi dưỡng và tôn vinh những giá trị lớn lao từ chính mảnh đất quê hương.
Cây cỏ luồng: Công dụng, cách dùng trị bệnh trong y học cổ truyền

Cây cỏ luồng: Công dụng, cách dùng trị bệnh trong y học cổ truyền

Cỏ luồng còn có tên seo gà, phượng vĩ thảo... Tên khoa học: Pteris multifida Poir, họ Seo gà: Pteridaceae. Cỏ luồng mọc phổ biến ở miền Bắc và Trung Bộ, trên vách đá, vách đất, quanh thành giếng, nơi thoáng ẩm và mát. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, thu hái quanh năm. Sau đây là một số bài thuốc từ cây cỏ luồng.
Những bài thuốc chữa bệnh không ngờ từ cây sim

Những bài thuốc chữa bệnh không ngờ từ cây sim

Cây sim hay còn gọi là dương lê, nẫm tử, sơn nẫm, cương nẫm, đào kim nương, hồng sim, là một dược liệu quý, được dùng làm thuốc chữa bệnh. Rễ, lá và quả của dược liệu có tác dụng điều trị đau dạ dày, tiêu chảy, lị, đau đầu kinh niên, băng huyết, đau nhức, phong thấp,…Sau đây là một số bài thuốc dân gian chữa bệnh từ cây sim.
Công dụng và bài thuốc chữa bệnh từ củ nâu

Công dụng và bài thuốc chữa bệnh từ củ nâu

Củ nâu hay còn gọi là thự lương, giả khôi,… mọc hoang ở nhiều vùng rừng núi phía Bắc nước ta, là thảo dược có vị ngọt nhẹ, tính hàn, tác dụng cầm máu, sát trùng, hoạt huyết và còn được dùng để điều trị khí hư ở phụ nữ, tiêu chảy, kiết lỵ, liệt nửa người…
Cây bòng bong (hải kim sa): Công dụng, cách dùng trị bệnh trong y học cổ truyền

Cây bòng bong (hải kim sa): Công dụng, cách dùng trị bệnh trong y học cổ truyền

Bòng bong hay còn gọi là hải kim sa. Bòng bong có vị ngọt, tính hàn, công dụng thanh nhiệt, tả thấp nhiệt ở tiểu đường, bàng quang và thông lâm. Vì vậy hải kim sa thường được nhân dân sử dụng để trị chứng tiểu tiện vàng/ đỏ, tiểu khó, sạn đường tiết niệu do thấp nhiệt.

Các tin khác

Đắk Lắk: Phấn đấu hình thành 1 chuỗi liên kết nghiên cứu, nuôi trồng, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dược liệu

Đắk Lắk: Phấn đấu hình thành 1 chuỗi liên kết nghiên cứu, nuôi trồng, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dược liệu

SKV - UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Kế hoạch số 172/KH-UBND về việc thực hiện Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 tỉnh Đắk Lắk.
Sốt xuất huyết theo Y học cổ truyền

Sốt xuất huyết theo Y học cổ truyền

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm do muỗi Aedes là tác nhân trung gian, hiện nay đang có nguy cơ chuyển thành dịch, Y học cổ truyền gọi là Thử Thấp ôn bệnh đặc trưng của mùa Hạ. Đa phần bệnh có thể tự khỏi nhưng có một tỷ lệ nhỏ có khả năng chuyển nặng. Thông qua dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm là giai đoạn phải xử trí kịp thời tránh gây hậu quả không tốt. Do chưa có vắc-xin dự phòng và thuốc đặc hiệu nên điều trị triệu chứng và phòng cắt đường truyền (diệt muỗi)
Bệnh Bạch hầu và chứng ôn độc toả hầu phong theo y học cổ truyền

Bệnh Bạch hầu và chứng ôn độc toả hầu phong theo y học cổ truyền

(SKV) - Bệnh bạch hầu do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra, có khả năng lây lan mạnh và nhanh chóng tạo thành dịch. Theo World Health Organization (WHO) tỷ lệ tử vong chiếm 2-5% các ca bị mắc bạch hầu [1,2]. Bệnh rất dễ dàng lây lan từ người bệnh sang người lành chưa có đáp ứng miễn dịch bạch hầu qua đường hô hấp hoặc lây gián tiếp qua tiếp xúc với đồ vật có vi khuẩn. Bệnh cảnh bạch hầu có tính tương đồng với Toả hầu phong trong Ôn độc xuất hiện mùa Đông mạt Xuân sơ thuộc của Ôn bệnh của Y học cổ truyền (YHCT). Ôn bệnh có tà khí đặc trưng gây bệnh theo mùa gọi là Thời bệnh, tương ứng với các bệnh truyền nhiễm của Y học hiện đại (YHHĐ). [4, 6].
Trigger Point Và A Thị Huyệt theo Y Học Cổ Truyền

Trigger Point Và A Thị Huyệt theo Y Học Cổ Truyền

(SKV) - Trigger point và A thị huyệt theo Y học cổ truyền có những đặc điểm tương đồng cần phân biệt trong chẩn đoán và điều trị. Trigger point là điểm đau kích hoạt có tổn thương thục thể các sợi cơ và A thị huyệt theo Y học cổ truyền (YHCT) lại đau do tổn thương mô khi mô không được tưới máu tốt bao gồm cả tổn thương phần mềm ( mô mềm, cơ, thần kinh, mạch máu) và xương khớp. Điều trị Trigger point bằng thuốc giảm đau không hiệu quả nhưng điều trị bằng phương pháp Y học cổ truyền đặc biệt châm cứu thành công mang ý nghĩa thống kê.
Bồ công anh dược liệu có nhiều công dụng đối với sức khỏe

Bồ công anh dược liệu có nhiều công dụng đối với sức khỏe

Bồ công anh là dược liệu có nhiều công dụng đối với sức khỏe con người. Theo Y học cổ truyền bồ công anh là dược liệu có vị đắng, tính mát, quy vào các kinh can, thận, tâm và có công dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm và hóa thấp. Y học cổ truyền sử dụng cây bồ anh để chữa chứng chán ăn, khó chịu dạ dày, đầy hơi, sỏi mật, đau khớp, đau nhức cơ bắp, bệnh chàm, mẩn ngứa, bầm tím, viêm vú, thông tắc tia sữa...
Bài thuốc chữa bệnh của dược liệu hương nhu

Bài thuốc chữa bệnh của dược liệu hương nhu

Cây hương nhu là vị thuốc quý trong Đông y với nhiều tác dụng như tán hàn, lợi thấp, lợi niệu, phát hãn, trị phù thũng,...
Công dụng chữa bệnh của cây lá bỏng

Công dụng chữa bệnh của cây lá bỏng

Cây lá bỏng còn gọi là cây sống đời, nó được gọi là lá bỏng vì lá của nó có thể dùng làm thuốc chữa bỏng.
Vị thuốc chuối hột rừng

Vị thuốc chuối hột rừng

Theo tài liệu Y học cổ truyền, chuối hột rừng có công dụng sát trùng, lương huyết, an thai, lợi tiểu,…
Danh mục một số cây thuốc  Nam theo nhóm bệnh

Danh mục một số cây thuốc Nam theo nhóm bệnh

Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời trong việc dùng cây cỏ để phòng và điều trị bệnh. Vườn thuốc nam có vai trò thiết thực trong việc sơ cứu và chữa trị một số bệnh thông thường.
12 bài thuốc chữa bệnh hiệu quả của xà sàng tử

12 bài thuốc chữa bệnh hiệu quả của xà sàng tử

Xà sàng tử là tên gọi của vị thuốc được dùng điều trị các bệnh lý, chẳng hạn như trĩ, lạnh tử cung, bệnh viêm da hoặc vấn đề sinh lý nam.
Xem thêm
Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam Y Việt Nam lần thứ 14: Kiến tạo nền móng cho nhiệm kỳ mới và nâng tầm vị thế y học dân tộc

Hà Nội, ngày 11/4/2026 Hội Nam Y Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Ban Thường vụ lần thứ 14. Đây là kỳ họp quan trọng nhằm đánh giá toàn diện các hoạt động trong quý 1 năm 2026, đồng thời hoạch định chiến lược trọng tâm cho năm 2026, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nam Y Việt Nam nhiệm kỳ 3 (2027–2032)
Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

HẢI PHÒNG – Trong không khí trang nghiêm của những ngày lễ hội, đoàn đại biểu Hội Nam Y Việt Nam do Thầy thuốc Nhân dân. Giáo sư. Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn, đã có chuyến hành trình đầy ý nghĩa về với vùng đất địa linh nhân kiệt Cẩm Văn – Cẩm Vũ (Cẩm Giang, Hải Phòng). Đây là hoạt động thiết thực nhằm tri ân các bậc tiền nhân, đặc biệt là Đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh – vị Thánh thuốc Nam của dân tộc.
Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

(Sức khỏe Việt) – Sáng ngày 26/03/2026, trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Bính Ngọ, Chi hội Nam y tỉnh Thái Nguyên đã trang trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Hội năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị đánh dấu bước phát triển vượt bậc của Chi hội với những thành tích xuất sắc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bảo tồn giá trị y học cổ truyền.
Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Trong không khí ấm áp của những ngày đầu xuân, Chi hội Câu lạc bộ (CLB) Healing In Balance đã tổ chức buổi gặp mặt đầy ý nghĩa, tổng kết công tác hoạt động năm 2025, đánh dấu bước phát triển mới trong việc đưa bộ môn Thiền năng lượng sinh học đến gần hơn với cộng đồng Việt Nam.
Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Ngày 21 tháng 3 năm 2026, tại Hà Nội, Hội Nam Y Việt Nam đã long trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào thi đua năm 2026. Sự kiện là dịp nhìn lại những thành tựu trong việc gìn giữ tinh hoa y học dân tộc, đồng thời kích hoạt hành trình mới vì sức khỏe cộng đồng.
Phiên bản di động