Chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại:

Viêm mũi do vận mạch và dị ứng (Tỵ cừu, tỵ uyên)

Viêm mũi vận mạch là một bệnh lý về đường hô hấp do phản ứng quá mức của hệ thần kinh đối giao cảm trong niêm mạc mũi, do các tác nhân như sự thay đổi độ ẩm, nhiệt độ, khói bụi, vi khuẩn, nấm, sử dụng một số loại thuốc, do rối loạn nội tiết, môi trường làm việc căng thẳng...

Năm 2020, Bộ Y tế đã ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại” tập I. Nhằm tiếp tục chuẩn hóa, cập nhật chuyên môn về chẩn đoán, điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cho người hành nghề, Bộ Y tế tiếp tục xây dựng và ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại” tập II. Tài liệu được xây dựng với sự nỗ lực cao, tâm huyết, trí tuệ, kinh nghiệm quý báu và cập nhật thông tin quốc tế của các nhà khoa học, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền và kinh nghiệm của các chuyên gia đầu ngành của Việt Nam về y, dược cổ truyền.

Tài liệu bao gồm 16 bài hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Trong đó, tập trung vào hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, vì vậy sẽ rất hữu ích cho người hành nghề với chức danh chuyên môn là bác sĩ, y sĩ y học cổ truyền và chức danh chuyên môn liên quan khác. Tài liệu này là căn cứ để các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại tại đơn vị.

Tạp chí Sức khỏe Việt trân trọng đăng tải lần lượt 16 bài hướng dẫn chẩn đoán bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại.

VIÊM MŨI DO VẬN MẠCH VÀ DỊ ỨNG (TỲ CỪU, TỲ UYÊN)

Bài 2: VIÊM MŨI DO VẬN MẠCH VÀ DỊ ỨNG (TỴ CỪU, TỴ UYÊN)

I. ĐẠI CƯƠNG

Viêm mũi vận mạch là một bệnh lý về đường hô hấp do phản ứng quá mức của hệ thần kinh đối giao cảm trong niêm mạc mũi, do các tác nhân như sự thay đổi độ ẩm, nhiệt độ, khói bụi, vi khuẩn, nấm, sử dụng một số loại thuốc, do rối loạn nội tiết, môi trường làm việc căng thẳng... Bệnh không nguy hiểm nhưng gây ra những biểu hiện khó chịu như hắt hơi liên tục, chảy nước mũi, nước mắt..., các xét nghiệm tiêm dưới da dị nguyên âm tính, xét nghiệm máu tìm IgE âm tính và lấy mẫu mô ở niêm mạc mũi làm xét nghiệm tế bào học cũng không thấy tế bào viêm đặc hiệu. Bệnh cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời để tránh các biến chứng như viêm xoang, viêm họng, viêm tai,... gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

Để điều trị viêm mũi vận mạch có thể điều trị nội khoa dùng các thuốc xịt như ipratropium bromid hay thuốc kháng cholinergic, các thuốc uống steroid. Điều trị ngoại khoa khi điều trị nội khoa thất bại, gồm có các phương pháp như phương pháp plasma, phương pháp mổ mở, mổ nội soi loại bỏ thần kinh vidian.

Viêm mũi dị ứng là biểu hiện tại chỗ của niêm mạc mũi trong bệnh cảnh dị ứng toàn thân, khi niêm mạc mũi xoang tiếp xúc với các dị nguyên. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là trẻ em và người trẻ. Bệnh viêm mũi dị ứng liên quan đến yếu tố thời tiết, môi trường, cơ địa, tiền sử gia đình. Dị nguyên có thể đặc hiệu hoặc không đặc hiệu. Dị nguyên hay gặp như bụi nhà, lông vũ, phấn hoa, nấm mốc, côn trùng, khói thuốc lá, các loại hóa chất, mỹ phẩm, sơn, vôi,..., thuốc gây tê, gây mê, kháng sinh,..., thức ăn như tôm, cua, cá, sữa, đồ biển,...

Chẩn đoán viêm mũi dị ứng dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng (kèm thêm tiền sử dị ứng của bản thân và gia đình):

+ Triệu chứng: Ngứa mũi, ngứa mắt, họng, vùng da cổ, da ống tai ngoài; hắt hơi đột ngột, nhiều, kéo dài nhiều phút và thường xuyên tái phát; chảy mũi nhiều, nước mũi trong, nhầy, có thể bội nhiễm chảy mũi nhầy đục; tắc ngạt mũi; đau nhức đầu.

+ Khám mũi: Niêm mạc mũi phù nề, nhợt nhạt, nhiều chất nhầy, cuốn mũi dưới phù nề, thành sau họng nề, nhợt màu, nhiều dịch trong.

Theo Y học cổ truyền, bệnh viêm mũi vận mạch và dị ứng thuộc phạm vi chứng Tỵ cừu, Tỵ uyên. Nguyên nhân gây bệnh do ngoại cảm và nội thương, có thể do chức năng tạng phủ suy yếu ảnh hưởng đến tạng Phế và Thận, hoặc do chính khí cơ thể giảm sút, tà khí thừa hư xâm phạm hay do tà khí xâm nhập lâu ngày gây khí trệ huyết ứ mà gây bệnh. Trên lâm sàng thường chia làm 3 thể chính: Phế Tỳ khí hư; tà khí cửu lưu, khí trệ huyết ứ và Thận hư, Phế mất ôn dưỡng. Tùy theo từng thể bệnh mà có chứng trạng khác nhau, nhưng có chung đặc điểm là ngạt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi.

II. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

- Phế, Tỳ khí hư, tà trệ tỵ khiếu: Phế khai khiếu ra mũi. Phế hòa thì mũi thông lợi, khứu giác nhạy bén. Phế khí bất túc, vệ dương bất cố thì ngoại tà dễ xâm phạm, chức năng thanh túc dễ bị rối loạn, khiến cho tà khí ứ đọng lại ở mũi. Hoặc do lao động quá sức làm tổn thương Tỳ Vị, chức năng vận hóa suy giảm, thăng thanh giáng trọc bị rối loạn làm cho thấp trọc ứ đọng tại mũi gây tắc trở kinh lạc, khí huyết vận hành không thông gây nên tắc mũi.

- Tà khí xâm nhập lâu ngày, khí trệ huyết ứ: Do cơ thể suy nhược, tà khí xâm nhập, lưu lại lâu không trừ được, tắc trở mạch lạc làm ứ trệ khí huyết, gây nên tắc mũi nghiêm trọng.

- Thận hư suy, Phế mất ôn dưỡng: Thận chủ nạp khí là gốc của khí, chủ mệnh môn hỏa. Thận thủy đầy đủ, khí hít vào mới có thể qua sự túc giáng của Phế mà nạp vào Thận. Nếu Thận hư, Phế mất ôn dưỡng mà thành bệnh.

III. CÁC THỂ LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ

Với mỗi thể lâm sàng, tùy từng tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề kê đơn thuốc cổ truyền dạng bào chế truyền thống, dạng bào chế hiện đại, thuốc 5 dược liệu, bài thuốc cổ phương, bài thuốc cổ phương gia giảm, bài thuốc đối pháp lập phương, bài thuốc nghiệm phương, gia giảm thành phần, khối lượng vị thuốc cổ truyền cho phù hợp với chẩn đoán.

1. Thể phế tỳ khí hư

1.1. Triệu chứng: Tắc mũi lúc nặng lúc nhẹ, chảy nước mũi; các triệu chứng nặng lên khi gặp lạnh, đầu đau nhẹ, căng đầu, khó chịu. Khám mũi thấy niêm mạc mũi sưng, nhạt màu.

+ Nếu Phế khí hư: Kèm theo ho, đờm loãng, khó thở, sắc mặt trắng nhợt, chất lưỡi hồng nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch hoãn hoặc phù vô lực.

+ Nếu Tỳ khí hư: Kèm theo ăn kém, đầy bụng, đại tiện phân nát, người mệt mỏi, chất lưỡi nhợt, rêu trắng hoặc hơi dày, mạch trầm hoãn.

1.2. Chẩn đoán:

- Chẩn đoán bát cương: Biểu lý tương kiêm, hư trung hiệp thực, thiên hàn.

- Chẩn đoán tạng phủ: Phế vệ, Phế khí, Tỳ khí.

- Chẩn đoán nguyên nhân: Ngoại nhân (Phong hàn), Bất nội ngoại nhân.

1.3. Pháp: Khu phong tán hàn, bổ ích Phế khí, kiện Tỳ trừ thấp.

1.4. Phương:

a. Điều trị bằng thuốc:

* Thuốc uống trong

- Cổ phương:

+ Nếu thiên về Phế khí hư: Dùng bài Ôn Phế chỉ lưu đan (Dương y đại toàn) gia giảm:

Tế tân 06g Ngũ vị tử 12g

Cát cánh 12g Cam thảo 06g

Kinh giới 12g Bạch truật 12g

Kha tử 12g Hoàng kỳ 12g

Sắc uống ngày 01 thang, chia 2 lần.

+ Nếu thiên về Tỳ khí hư: Dùng bài Sâm linh bạch truật tán gia giảm (hoặc Bổ trung ích khí thang gia giảm):

Đảng sâm 12g Bạch truật 12g

Bạch biển đậu 12g Ý dĩ nhân 12g

Phục linh 12g Hoài sơn 12g

Liên tử 12g Thạch xương bồ 12g

Trần bì 06g Cát cánh 08g

Cam thảo 06g

Sắc uống ngày 01 thang, chia 2 lần.

- Đối pháp lập phương: Lựa chọn các vị thuốc thuộc các nhóm thuốc theo pháp điều trị.

- Nghiệm phương:

Bạch truật 06g Sinh khương 04g

Quế chi 12g Hoài sơn 16g

Tang bạch bì 12g Ké đầu ngựa 10g

Bạch chỉ 12g Xuyên khung 12g

Cam thảo 04g

Sắc uống ngày 01 thang, chia 2 lần.

* Thuốc dùng ngoài:

Chườm ngải cứu:

Nguyên liệu: Ngải cứu tươi 200 - 300 g hoặc ngải cứu khô lượng vừa đủ, muối hạt 20 - 30 g hoặc cao ngải cứu dạng thành phẩm.

Chuẩn bị: Sao nóng muối với ngải cứu. Bọc ngải cứu và muối sao trong túi chườm hoặc khăn vải dày hoặc cao ngải cứu được làm nóng chườm vùng gáy, vai, lưng, thắt lưng dọc theo kinh Bàng quang, ở tay dọc theo kinh Phế, kinh Đại trường. Ngày làm một 1 - 2 lần. Mỗi lần 10 - 20 phút.

b. Điều trị không dùng thuốc:

- Châm các huyệt:

Nghinh hương, Hợp cốc, Thượng tinh

Đau đầu châm:

Phong trì, Thái dương, Ấn đường

Các kỹ thuật châm: hào châm, điện châm, nhĩ châm hoặc điện nhĩ châm, thủy châm.

- Cứu các huyệt:

Nhân trung, Nghinh hương

Phong phủ, Bách hội

Nếu Phế khí hư: Gia Phế du, Thái khê

Nếu Tỳ khí hư: Gia Tỳ du, Vị du, Túc tam lý cứu ngày 01 lần.

- Hoặc cấy chỉ vào các huyệt như phần châm cứu.

Tùy tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề chọn công thức huyệt cấy chỉ phù hợp. Mỗi lần cấy chỉ có tác dụng trong khoảng 7 đến 14 ngày, sau thời gian tự tiêu của chỉ đến khám lại để có chỉ định thực hiện liệu trình tiếp theo.

- Xoa bóp bấm huyệt: Các thủ thuật xát, xoa, miết, phân, day, ấn, bấm huyệt vùng đầu mặt cổ, huyệt như trên. Xoa bóp bấm huyệt 20 - 30 phút/lần/ngày. Một liệu trình điều trị từ 10 đến 15 ngày.

Chú ý: Tùy theo tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề lựa chọn các phương pháp, kỹ thuật chuyên môn y học cổ truyền và liệu trình điều trị phù hợp với chỉ định của kỹ thuật.

VIÊM MŨI DO VẬN MẠCH VÀ DỊ ỨNG (TỲ CỪU, TỲ UYÊN)
Ảnh minh họa

2. Thể tà khí cửu lưu, huyết hư, khí trệ huyết ứ

2.1. Triệu chứng: Cuốn mũi sưng, cứng, không phẳng. Mũi tắc, chảy nước mũi liên tục, nước mũi màu vàng hoặc trắng dính, khứu giác giảm, nói giọng mũi, ho nhiều đờm, tai ù, chất lưỡi đỏ có điểm ứ huyết, mạch hoạt.

2.2. Chẩn đoán:

- Chẩn đoán bát cương: Biểu lý tương kiêm, hư trung hiệp thực, thiên nhiệt.

- Chẩn đoán kinh lạc: Bệnh tại kinh Phế.

- Chẩn đoán nguyên nhân: Ngoại nhân, bất nội ngoại nhân.

2.3. Pháp: Hành trệ hóa ứ, điều hòa khí huyết, thông tỵ khiếu.

2.4. Phương:

a. Điều trị bằng thuốc:

* Thuốc uống trong

- Cổ phương: Đương quy thược dược tán (Kim Quỹ yếu lược) gia vị

Đương quy 08g Phục linh 12g

Xuyên khung 10g Khương hoàng 12g

Thương nhĩ tử 12g Bạch chỉ 08g

Bạch truật 12g Xích thược 12g

Uất kim 08g Tân di 08g

Trạch tả 12g

Sắc uống ngày 01 thang, chia 2 lần.

- Đối pháp lập phương: Lựa chọn các vị thuốc thuộc các nhóm thuốc theo pháp điều trị.

- Gia thêm: Hoàng cầm, Kim ngân hoa, ... thanh nhiệt trừ thấp, giải độc.

* Thuốc dùng ngoài:

Xông hơi thuốc cổ truyền: tùy theo tình trạng bệnh lý thầy thuốc có thể chỉ định xông 1 - 2 lần/ngày, 01 liệu trình xông từ 3 - 5 ngày, có thể thực hiện nhiều liệu trình liên tục.

b. Điều trị không dùng thuốc:

- Châm tả các huyệt:

Nghinh hương Thượng tinh Toàn trúc

Phong trì Thái dương Ấn đường

Huyết hải Phế du Bách hội

Các kỹ thuật châm: hào châm, điện châm, nhĩ châm hoặc điện nhĩ châm, thủy châm.

- Hoặc cấy chỉ vào các huyệt như trên ở phần châm cứu.

- Tùy tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề chọn công thức huyệt cấy chỉ phù hợp. Mỗi lần cấy chỉ có tác dụng trong khoảng 7 đến 14 ngày, sau thời gian tự tiêu của chỉ đến khám lại để có chỉ định thực hiện liệu trình tiếp theo.

- Xoa bóp bấm huyệt: Các thủ thuật xát, xoa, miết, phân, day, ấn, bấm huyệt vùng đầu mặt cổ theo công thức huyệt trên. Xoa bóp bấm huyệt 20 - 30 phút/lần/ngày. Một liệu trình điều trị từ 10 đến 15 ngày.

Chú ý: Tùy theo tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề lựa chọn các phương pháp, kỹ thuật chuyên môn y học cổ truyền và liệu trình điều trị phù hợp với chỉ định của kỹ thuật.

3. Thể Thận hư, Phế mất ôn dưỡng

3.1. Triệu chứng: Bệnh kéo dài, ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi trong liên miên. Khám mũi: Niêm mạc nhợt màu, cuốn mũi phù nề, khe mũi đọng nhiều dịch trong.

- Nếu Thận dương hư: Người bệnh sợ gió, sợ lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt trắng nhạt, tiểu đêm, đau lưng, mỏi gối, chất lưỡi nhợt. Mạch trầm tế.

- Nếu Thận âm hư: Người gày yếu, sắc mặt trắng hoặc hồng nhạt, hoa mắt, ù tai, hay quên, lòng bàn tay, bàn chân nóng, lưng đau, gối mỏi, lưỡi ít rêu. Mạch tế sác.

3.2. Chẩn đoán:

- Chẩn đoán bát cương: Lý hư hàn/nhiệt (tùy theo thể).

- Chẩn đoán tạng phủ: Thận hư (Thận âm hư, Thận dương hư), Phế khí hư.

- Chẩn đoán nguyên nhân: Bất nội ngoại nhân (Thận dương hư, Thận âm hư). 3.3. Pháp: Ôn Thận bổ dương hoặc tư dưỡng Thận âm, thông tỵ khiếu.

3.4. Phương:

a. Điều trị bằng thuốc:

* Thuốc uống trong

- Cổ phương: Nếu Thận dương hư dùng bài: Hữu quy hoàn (Cảnh Nhạc toàn thư) gia giảm

Thục địa 12g Đỗ trọng 12g

Hoài sơn 12g Tân di 10g

Sơn thù 10g Tế tân 06g

Phụ tử chế 06g Thỏ ty tử 12g

Quế nhục 06g Đương quy 12g

Sắc uống ngày 01 thang, chia 2 lần.

Nếu Thận âm hư dùng bài: Tả quy hoàn (Cảnh Nhạc toàn thư) gia giảm:

Thục địa 12g Mạch môn 12g

Hoài sơn 12g Đương quy 12g

Sơn thù 10g Ngưu tất 12g

Kỷ tử 12g Tân di 10g

Sắc uống ngày 01 thang, chia 2 lần.

- Đối pháp lập phương: Lựa chọn các vị thuốc thuộc các nhóm thuốc theo pháp điều trị.

* Thuốc dùng ngoài: Thận dương hư:

Chườm ngải cứu:

Nguyên liệu: Ngải cứu tươi 200 - 300 g hoặc ngải cứu khô lượng vừa đủ, muối hạt 20 - 30 g hoặc cao ngải cứu dạng thành phẩm.

Chuẩn bị: Sao nóng muối với ngải cứu. Bọc ngải cứu và muối sao trong túi chườm hoặc khăn vải dày hoặc cao ngải cứu được làm nóng chườm vùng vai gáy, dọc theo kinh Phế, Đại trường. Ngày làm một 1 - 2 lần. Mỗi lần 10 - 20 phút.

b. Điều trị không dùng thuốc:

- Châm bổ các huyệt:

Nghinh hương Thượng tinh Toản trúc

Phong trì Thái dương Ấn đường

Huyết hải Phế du Bách hội

- Cứu vào các huyệt như trên đối với thể Thận dương hư, Phế khí hư.

Các kỹ thuật châm: hào châm, điện châm, nhĩ châm hoặc điện nhĩ châm, thủy châm.

- Hoặc cấy chỉ vào các huyệt như trên ở phần châm cứu.

Tùy tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề chọn công thức huyệt cấy chỉ phù hợp. Mỗi lần cấy chỉ có tác dụng trong khoảng 7 đến 14 ngày, sau thời gian tự tiêu của chỉ đến khám lại để có chỉ định thực hiện liệu trình tiếp theo.

- Xoa bóp bấm huyệt: Các thủ thuật xát, xoa, miết, phân, day, ấn, bấm huyệt vùng đầu mặt cổ theo công thức huyệt trên. Xoa bóp bấm huyệt 20 - 30 phút/lần/ngày. Một liệu trình điều trị từ 10 đến 15 ngày.

Chú ý: Tùy theo tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề lựa chọn các phương pháp, kỹ thuật chuyên môn y học cổ truyền và liệu trình điều trị phù hợp với chỉ định của kỹ thuật.

IV. KẾT HỢP ĐIỀU TRỊ Y HỌC HIỆN ĐẠI

1. Nguyên tắc điều trị

- Điều trị theo nguyên nhân.

- Kết hợp điều trị với các biện pháp phục hồi chức năng, luyện tập, thay đổi lối sống nhằm phòng bệnh, tránh các phản ứng dị ứng.

2. Điều trị cụ thể

2.1. Điều trị nguyên nhân: Tránh tiếp xúc với các yếu tố dị nguyên

2.2. Điều trị không đặc hiệu: Thuốc viên uống toàn thân và thuốc nhỏ tại chỗ. Tùy từng trường hợp bệnh, có thể chọn trong các nhóm thuốc sau:

- Thuốc kháng cholinergic hoặc nhóm ipratropium bromid: Điều trị viêm mũi vận mạch.

- Thuốc kháng histamine, thuốc xịt hay tiêm chứa corticoid: Điều trị viêm mũi dị ứng.

- Các phương pháp giải mẫn cảm: Không đặc hiệu.

- Điều trị các bệnh mũi và bệnh toàn thân khác.

2.3. Điều trị ngoại khoa: Chỉ định phẫu thuật cho các trường hợp viêm mũi do vận mạch tái phát nhiều lần: Đốt nhiệt hoặc đốt hóa chất, phẫu thuật mổ mở cắt một phần cuốn mũi dưới, phẫu thuật nội soi loại bỏ thần kinh vidian.

V. PHÒNG BỆNH

- Tập thể dục thường xuyên, rèn luyện cơ thể, tránh cảm nhiễm lạnh.

- Tích cực điều trị các bệnh mũi từ khi mới mắc.

- Tránh lạm dụng các thuốc vận mạch, xì mũi quá mạnh, sai cách sẽ làm dịch tiết

vào trong tai.

- Kiêng rượu; ăn uống vệ sinh sạch sẽ; tránh nơi nhiều bụi bẩn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Khoa Y học cổ truyền - Trường Đại học Y Hà Nội (2005). Bài giảng Y học cổ truyền, Tập II. Nhà xuất bản Y học.

2. Khoa Y học cổ truyền - Trường Đại học Y Hà Nội (2006). Bệnh Ngũ quan Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học

3. Bộ Y tế (2010). Tai mũi họng (Dùng đào tạo Bác sĩ đa khoa). Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

4. Bộ Y tế (2020). Hướng dẫn Quy trình kỹ thuật chuyên ngành Y học cổ truyền, Quyết định số 5480/QĐ-BYT ngày 30/12/2020.

Nhật Phương
suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Các hội y khoa đồng thuận thúc đẩy giảm natri, phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ

Các hội y khoa đồng thuận thúc đẩy giảm natri, phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ

Ngày 31/10, các hội: Đột quỵ Việt Nam, Tiết chế Dinh dưỡng Việt Nam, Người giáo dục bệnh đái tháo đường Việt Nam và Dinh dưỡng Việt Nam đã ký Tuyên bố đồng thuận về giảm natri, bổ sung kali, tăng cường i-ốt trong muối ăn và ghi nhãn dinh dưỡng mặt trước bao bì để phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ.

Cùng chuyên mục

Học thuyết Thủy – Hỏa trong y lý của Hải Thượng Lãn Ông

Học thuyết Thủy – Hỏa trong y lý của Hải Thượng Lãn Ông

Học thuyết Thủy – Hỏa là một nội dung đáng chú ý trong hệ thống lý luận y học cổ truyền của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Thông qua mối quan hệ giữa Thủy, Hỏa, âm dương và tạng phủ, ông góp phần hệ thống hóa cách lý giải bệnh lý và định hướng điều trị theo nguyên tắc biện chứng luận trị.
Quyên tý thang trong dòng chảy kế thừa y học của Hải Thượng Lãn Ông

Quyên tý thang trong dòng chảy kế thừa y học của Hải Thượng Lãn Ông

Không chỉ sưu tầm những bài thuốc của người đi trước, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác còn dành nhiều năm khảo cứu, hệ thống hóa y lý và đúc kết kinh nghiệm chữa bệnh thành một di sản đồ sộ. Nhìn từ quá trình kế thừa và vận dụng các cổ phương, câu chuyện Quyên tý thang gợi mở cách tri thức y học cổ truyền được tiếp nối, điều chỉnh và đưa vào thực hành qua nhiều thế hệ thầy thuốc.
Thế mạnh y học cổ truyền trong điều trị bệnh

Thế mạnh y học cổ truyền trong điều trị bệnh

Thời gian qua, các cơ sở khám, chữa bệnh tại thành phố Hà Nội đã tăng cường kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân, góp phần xây dựng nền y học Thủ đô phát triển toàn diện, nhân văn.
Những bài thuốc trong di sản Hải Thượng Lãn Ông

Những bài thuốc trong di sản Hải Thượng Lãn Ông

Không chỉ để lại một hệ thống lý luận y học đồ sộ, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác còn dành nhiều năm sưu tầm, khảo cứu, chỉnh lý và phát triển các phương thuốc. Trong kho tàng ấy có những cổ phương được kế thừa từ y học phương Đông, những bài thuốc thu thập trong dân gian và cả những phương được ông đúc kết từ thực tiễn lâm sàng. Lục vị, Bát vị, Tứ quân, Tứ vật hay Độc hoạt tang ký sinh là một số phương tiêu biểu thường được nhắc đến trong di sản này.
Lục vị – bài thuốc kinh điển và tư duy “bổ thủy” của Hải Thượng Lãn Ông

Lục vị – bài thuốc kinh điển và tư duy “bổ thủy” của Hải Thượng Lãn Ông

Không phải bài thuốc do Hải Thượng Lãn Ông sáng chế, Lục vị địa hoàng hoàn là cổ phương gắn với danh y Tiền Ất đời Tống. Từ một phương thuốc kinh điển của y học cổ truyền, Hải Thượng Lãn Ông tiếp nhận, đặt trong hệ thống lý luận về thủy – hỏa và vận dụng linh hoạt cùng phép biện chứng luận trị. Qua đó, giá trị của Lục vị không chỉ nằm ở sáu vị thuốc, mà còn cho thấy cách một danh y Việt Nam kế thừa và phát triển y lý cổ truyền.
Bát vị hoàn trong di sản Hải Thượng Lãn Ông

Bát vị hoàn trong di sản Hải Thượng Lãn Ông

Trong Hải Thượng y tông tâm lĩnh, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác dành nhiều trang khảo cứu phương tễ và lý giải cách phối hợp các vị thuốc. Bát vị hoàn là một trong những phương thuốc đáng chú ý, thể hiện rõ tư duy của ông về sự phối hợp giữa bổ và tả, giữa âm và dương. Hơn hai thế kỷ sau, giá trị của phương thuốc không chỉ nằm ở công thức cổ truyền, mà còn gợi mở cách nhìn nhận về việc kế thừa và sử dụng di sản y học.

Các tin khác

Tăng tốc chuyển đổi số ở ngành dược

Tăng tốc chuyển đổi số ở ngành dược

Thị trường dược phẩm Việt Nam đã đạt quy mô khoảng 7 tỷ USD và có mức tăng trưởng khoảng từ 12 đến 15% mỗi năm. Cùng với nâng cao năng lực sản xuất, chuyển đổi số đang từng bước thay đổi phương thức quản lý, sản xuất, phân phối và sử dụng thuốc… từ đó giúp giảm thủ tục, tăng minh bạch và khả năng kiểm soát thị trường.
Giải pháp hỗ trợ điều trị ung thư từ cây gừng gió

Giải pháp hỗ trợ điều trị ung thư từ cây gừng gió

Gừng gió là cây thuốc được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền để chữa một số bệnh như: Giảm đau, trúng gió, viêm ruột kết…
Từ những câu chuyện làm đẹp bằng nguyên liệu Việt đến khát vọng gia tăng giá trị Việt

Từ những câu chuyện làm đẹp bằng nguyên liệu Việt đến khát vọng gia tăng giá trị Việt

Câu hỏi đáng suy nghĩ là: Tại sao cùng một nguồn tài nguyên, có người nhìn thấy nhiều giá trị hơn chúng ta?
Hải Thượng y tông tâm lĩnh: Công trình để đời của Hải Thượng Lãn Ông

Hải Thượng y tông tâm lĩnh: Công trình để đời của Hải Thượng Lãn Ông

Hơn hai thế kỷ sau khi được hoàn thành, Hải Thượng y tông tâm lĩnh vẫn là một trong những di sản quan trọng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Không chỉ ghi chép lý luận, phương thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh, bộ sách còn thể hiện quan niệm của ông về y đức, nghề nghiệp và trách nhiệm của người thầy thuốc.
Người huyết áp cao có nên bổ sung magie?

Người huyết áp cao có nên bổ sung magie?

Magie có thể hỗ trợ hạ huyết áp nhưng không nên xem đây là phương pháp thay thế thuốc điều trị.
Kỳ II: Y học cổ truyền - Từ tiềm năng y tế nội sinh đến lợi thế cạnh tranh quốc gia

Kỳ II: Y học cổ truyền - Từ tiềm năng y tế nội sinh đến lợi thế cạnh tranh quốc gia

Nhìn nhận y học cổ truyền là nguồn lực nội sinh mới chỉ là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là tạo cơ chế để nguồn lực ấy kết nối với khoa học, công nghệ, y học hiện đại và các ngành liên quan, hình thành hệ sinh thái kinh tế sức khỏe mang bản sắc Việt Nam - nền tảng của một lợi thế cạnh tranh mới trong bối cảnh toàn cầu.
Kỳ I: Khơi thông nguồn lực y học cổ truyền - Từ bài học Đổi mới đến yêu cầu phát triển mới

Kỳ I: Khơi thông nguồn lực y học cổ truyền - Từ bài học Đổi mới đến yêu cầu phát triển mới

(SKV) Thông điệp "Chúng ta không thể viết lại lịch sử, nhưng có thể hoạch định lại tương lai" của Tổng Bí thư Tô Lâm gợi mở yêu cầu tiếp tục khơi thông các nguồn lực nội sinh. Trong đó, y học cổ truyền cần được nhìn nhận không chỉ là di sản, mà còn là nguồn lực góp phần phát triển đất nước.
Dược liệu và phương thuốc trong di sản Hải Thượng Lãn Ông

Dược liệu và phương thuốc trong di sản Hải Thượng Lãn Ông

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ để lại một hệ thống trước tác lớn về y học mà còn dành nhiều tâm huyết khảo cứu dược liệu, phương thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh. Trong Hải Thượng y tông tâm lĩnh, những tri thức được kế thừa từ các y thư trước, kinh nghiệm dân gian và thực tiễn hành nghề được ông chọn lọc, bình giải và hệ thống hóa. Di sản ấy góp phần quan trọng vào quá trình hình thành và phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam.
7 nguyên tắc kê đơn của Hải Thượng Lãn Ông và những giá trị còn mãi

7 nguyên tắc kê đơn của Hải Thượng Lãn Ông và những giá trị còn mãi

Hơn hai thế kỷ trước, trong điều kiện y học còn nhiều hạn chế, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã để lại một di sản y học đồ sộ, trong đó có nhiều quan niệm về khám bệnh, dùng thuốc và đạo đức của người thầy thuốc. Dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về chẩn đoán và điều trị, một số tư tưởng ấy vẫn gợi mở những bài học đáng suy ngẫm về sự thận trọng khi dùng thuốc, tôn trọng từng người bệnh và chủ động giữ gìn sức khỏe.
Cây bảy lá một hoa trên bệnh nhân ung thư bàng quang

Cây bảy lá một hoa trên bệnh nhân ung thư bàng quang

(SKV) - Tháng 9 năm 2025, Phòng khám Y học bản địa Việt Nam tiếp nhận một bệnh nhân nam, 67 tuổi, ở tỉnh Lạng Sơn, được chẩn đoán ung thư bàng quang đã di căn xương. Bệnh nhân đã được phẫu thuật bàng quang và đặt ống thông niệu quản JJ để duy trì đường lưu thông nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Khi đến phòng khám, bệnh nhân bơ phờ, thờ ơ, ít quan tâm đến xung quanh; thể trạng suy mòn nhưng chưa suy kiệt, cân nặng khoảng 46 kg.
Xem thêm
Chi hội Nam Y Văn phòng tổ chức sinh hoạt định kỳ thành công tốt đẹp tại Phú Thọ

Chi hội Nam Y Văn phòng tổ chức sinh hoạt định kỳ thành công tốt đẹp tại Phú Thọ

Ngày 31/10 và 01/11 vừa qua, Chi hội Nam Y Văn phòng đã tổ chức thành công chuyến sinh hoạt định kỳ kết hợp tham quan, học tập và tổng kết công tác hội tại khu vực Đảo Ngọc Xanh (Thanh Thủy, Phú Thọ). Sự kiện có sự tham dự và phát biểu chỉ đạo quan trọng của TTND.GS.TS Trương Việt Bình - Chủ tịch Hội Nam Y Việt Nam.
Lan tỏa yêu thương: Hơn 220 triệu đồng chăm sóc sức khỏe và tặng quà người cao tuổi tại xã Đồng Hỷ

Lan tỏa yêu thương: Hơn 220 triệu đồng chăm sóc sức khỏe và tặng quà người cao tuổi tại xã Đồng Hỷ

Thiết thực hưởng ứng Tháng hành động vì Người cao tuổi Việt Nam và Ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10), Trạm Y tế xã Đồng Hỷ phối hợp cùng Chi hội Nam y tỉnh Thái Nguyên tổ chức đợt cao điểm khám sức khỏe, tư vấn điều trị và trao tặng những phần quà ý nghĩa cho đông đảo người cao tuổi trên địa bàn. Chương trình mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và sự quan tâm thiết thực đến sức khỏe của thế hệ đi trước.
Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam y Việt Nam: Đẩy mạnh thi đua khen thưởng, hoạt động thiện nguyện và mở rộng hợp tác quốc tế

Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam y Việt Nam: Đẩy mạnh thi đua khen thưởng, hoạt động thiện nguyện và mở rộng hợp tác quốc tế

Ngày 24/10/2026, tại Văn phòng Hội Nam y Việt Nam (E23 khu đấu giá Yên Xá, Hà Đông), Ban Thường vụ Hội Nam y Việt Nam đã tổ chức hội nghị trọng thể dưới sự chủ trì của Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội Nam y Việt Nam. Hội nghị tập trung thảo luận, thống nhất các nội dung trọng tâm về công tác thi đua khen thưởng nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Hội, triển khai công tác thiện nguyện xã hội và đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y học cổ truyền.
TTND.GS.TS Trương Việt Bình chỉ đạo nhiều nhiệm vụ trọng tâm tại Hội nghị Ban Thường vụ Quý III/2026

TTND.GS.TS Trương Việt Bình chỉ đạo nhiều nhiệm vụ trọng tâm tại Hội nghị Ban Thường vụ Quý III/2026

Tại Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam y Việt Nam Quý III năm 2026 diễn ra vào ngày 04/10/2026, Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội Nam y Việt Nam đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng, định hướng chiến lược cho các hoạt động của Hội trong Quý IV năm 2026 và chặng đường phát triển tiếp theo.
TP Hồ Chí Minh: Hội thảo “Giải pháp xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam”: Hướng tới phát triển bền vững

TP Hồ Chí Minh: Hội thảo “Giải pháp xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam”: Hướng tới phát triển bền vững

Ngày 29/9, tại TP.HCM, Hội Nam Y Việt Nam tổ chức Hội thảo “Giải pháp xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam”, tập trung trao đổi các giải pháp củng cố tổ chức, phát triển hội viên, nâng cao chất lượng hoạt động, hướng tới xây dựng hệ thống Hội vững mạnh, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy giá trị y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Phiên bản di động