Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Bài viết phân tích sử liệu làm rõ quá trình hình thành, địa vị pháp lý của Hội Đông y và Hội Nam y Việt Nam. Tác giả khẳng định vai trò bảo tồn tri thức y học cổ truyền của hai Hội, đồng thời đề xuất hoàn thiện hồ sơ lịch sử và tăng cường phối hợp hoạt động.

TÓM TẮT

Bài viết khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt Nam qua tài liệu công bố đến ngày 23/10/2026. Phương pháp gồm phân tích sử liệu, đối chiếu văn bản và tổng hợp lịch sử tổ chức. Kết quả phân biệt ba bình diện: nền tảng y dược, truyền thống nghề nghiệp và địa vị pháp lý. Thái Y viện triều Nguyễn thuộc bối cảnh lịch sử; tư liệu năm 1946 ghi việc đổi tên Hội Việt Nam Y đoàn thành Nghiên cứu Nam dược Hội; nghị định năm 1957 cho phép thành lập Hội Đông y Việt Nam. Hội Nam y Việt Nam được phép thành lập năm 2017, phát triển riêng. Hai hội cùng đóng góp vào bảo tồn tri thức và chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện hồ sơ lịch sử, tăng phối hợp và đánh giá hoạt động.

ABSTRACT

This study examines the formation and development of the Đông y and Nam y associations in Vietnam using published materials available up to 23 October 2026. Historical source criticism, documentary comparison and institutional analysis distinguish three dimensions: medical heritage, professional traditions and legal establishment. The Nguyễn royal medical institution provides historical context. A contemporary gazette records the renaming of Hội Việt Nam Y đoàn as Nghiên cứu Nam dược Hội in 1946, while a 1957 decree authorized the establishment of Hội Đông y Việt Nam. Hội Nam y Việt Nam was authorized in 2017 and has its own institutional development. The findings support a shared commitment to preserving medical knowledge and serving public health. Similar purposes alone do not establish legal succession or an exclusive division of professional responsibilities. Further work should consolidate archival records, strengthen cooperation and assess organizational activities through documented outcomes.

Keywords: Hội Đông y Việt Nam; Hội Nam y Việt Nam; medical history; Nghiên cứu Nam dược Hội; professional associations; medical heritage.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Lịch sử y học cổ truyền Việt Nam được hình thành từ kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng, giao lưu y dược và quá trình tổ chức hoạt động chuyên môn qua các thời kỳ. Thuốc Nam, thuốc Bắc, Đông y, y học dân tộc và y học cổ truyền có quan hệ mật thiết, nhưng nội hàm và cách sử dụng thay đổi theo bối cảnh. Nghiên cứu của Oda cho thấy sự vận động của các khái niệm ấy gắn với lịch sử thuộc địa, chiến tranh và xây dựng quốc gia [1]. Vì vậy, lịch sử tổ chức hội cần được đặt trong lịch sử y dược rộng hơn, đồng thời dựa vào hồ sơ của từng tổ chức.

Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt Nam đều tập hợp những người hoạt động trong lĩnh vực y dược truyền thống. Tuy nhiên, cùng sử dụng thuốc Nam, cùng tôn vinh danh y hoặc cùng phục vụ cộng đồng chưa đủ để xác lập quan hệ kế thừa pháp lý giữa các tổ chức ở những thời điểm khác nhau.

Bài viết nhằm hệ thống hóa một số mốc lịch sử chủ yếu; đối chiếu cách diễn đạt trong tư liệu đương thời và tài liệu hồi cố; phân tích những điểm gặp gỡ về hoạt động và hướng phối hợp. Phạm vi gồm bối cảnh triều Nguyễn, hội đoàn thời thuộc địa và quá trình phát triển hai hội đến năm 2026.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu khảo cứu lịch sử qua tài liệu công bố, phân tích văn bản và tổng hợp theo thời kỳ. Nguồn gồm nghiên cứu lịch sử y học; công báo, nghị định, điều lệ; tài liệu của các hội và tường thuật hoạt động. Mốc cập nhật là ngày 23/10/2026. Đây là tổng quan tường thuật có lựa chọn.

Phân tích ưu tiên tư liệu đương thời và nội dung điều khoản khi xác định hành vi thành lập, đổi tên hoặc phê duyệt điều lệ. Nghiên cứu học thuật được dùng để giải thích bối cảnh; tài liệu kỷ niệm và báo chí được dùng để nhận diện truyền thống, hoạt động và cách tự thuật của tổ chức. Những thông tin được dẫn lại qua cơ quan ngôn luận hoặc đơn vị tham dự được ghi rõ nguồn, không trình bày như kết quả kiểm tra bản gốc.

Các mốc được đối chiếu theo thời gian, tên tổ chức, loại sự kiện và căn cứ. Phân tích phân biệt nền tảng tri thức, sự tiếp nối nghề nghiệp và quan hệ pháp lý; nêu khác biệt giữa các nguồn và giới hạn suy luận.

3. KẾT QUẢ KHẢO CỨU

3.1. Nền tảng y dược thời Nguyễn và sự hình thành hội đoàn trước năm 1945

Trước thời thuộc địa, hoạt động chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam chủ yếu dựa vào các truyền thống y dược, gồm kinh nghiệm bản địa và y học chịu ảnh hưởng Trung Hoa. Dưới triều Nguyễn, Thái Y viện là thiết chế y tế của triều đình, tập hợp thầy thuốc, tổ chức khám chữa bệnh và truyền dạy chuyên môn. Nghiên cứu của Đỗ Bang dựa trên chính sử, hội điển và châu bản làm rõ tổ chức, nhân sự và đào tạo của thiết chế này [2]. Thái Y viện đã có ở các triều đại trước và tiếp tục được phát triển dưới triều Nguyễn.

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Ảnh mô tả hoạt động của Thái y viện triều Nguyễn.

Tư liệu lưu trữ về Bình An đường, nơi điều trị và tĩnh dưỡng cho người phục vụ trong cung dưới sự trông coi của Thái Y viện, bổ sung chứng cứ về hoạt động y tế cung đình [3]. Gia đình, làng xã và mạng lưới truyền nghề tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Đây là nền tảng nhân lực, tri thức; chưa có căn cứ xem Thái Y viện là pháp nhân tiền thân của hai hội.

Trong thời thuộc địa, hệ thống Tây y được tổ chức, mở rộng cùng các quy định quản lý hành nghề và dược phẩm. Mai Thị Mỹ Vị phân tích những hạn chế đặt ra đối với Đông y, đồng thời chỉ ra sức sống của thực hành chữa bệnh truyền thống [4]. Bối cảnh đó góp phần thúc đẩy liên kết nghề nghiệp, xuất bản, trao đổi kinh nghiệm và vận động chấn hưng Đông y.

Các tài liệu công bố ghi nhận Hội Y học Trung Kỳ năm 1936, Hội Việt Nam Y dược ở Bắc Kỳ năm 1937 và Hội Đông y Nam Kỳ năm 1937 [4, 5]. Nghiên cứu của Mai Thị Mỹ Vị còn đề cập cuộc vận động chấn hưng Đông y tại Vinh năm 1939 với sự tham gia của Phó Đức Thành và Đặng Thúc Liêng [4]. Các sự kiện cho thấy quá trình hình thành không gian liên kết vượt phạm vi địa phương.

3.2. Mốc năm 1946 trong tư liệu công báo và lịch sử Hội

Sau Cách mạng Tháng Tám, quyền lập hội được đặt trong khuôn khổ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sắc lệnh 52 ngày 22/4/1946 quy định việc lập hội là văn bản chung về hội, không phải văn bản riêng thành lập một hội Đông y hoặc Nam y [6].

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Số nhà 75 Hàng Bồ Hà Nội thời thuộc Pháp (Nhà riêng của cụ Lê Điều, chủ hiệu thuốc Hồng Khê)

Việt Nam Dân Quốc Công Báo ngày 07/9/1946 đăng trích lục nghị định của Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946: Hội Việt Nam Y đoàn, trụ sở tại 75 phố Hàng Bồ, Hà Nội, được phép đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội và hoạt động theo điều lệ mới [7]. Nội dung này xác nhận một hành vi đổi tên tổ chức đã tồn tại. Trong phạm vi tư liệu được khảo cứu, chưa đủ hồ sơ để xác định Hội Việt Nam Y đoàn hình thành do hợp nhất toàn bộ các hội ba kỳ sau năm 1945.

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử
Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Điều lệ của Nghiên cứu Nam dược hội theo Nghị định số 337 NV-PC ngày 22 tháng 8 năm 1946 của Bộ Nội vụ.

Lời nói đầu Điều lệ Hội Đông y Việt Nam được phê duyệt năm 2011 ghi nhận mốc 22/8/1946 với Nghị định số 337NV/PC, sau đó là Hội Đông y Cứu quốc; khoản 4 Điều 4 xác định ngày 22/8 là ngày truyền thống [8]. Đây là chứng cứ về cách Hội ghi nhận lịch sử và truyền thống của mình. Khi mô tả hành vi pháp lý năm 1946, cần đồng thời lưu ý cách diễn đạt đổi tên trong công báo đương thời.

Như vậy, mốc 1946 có hai giá trị bổ sung cho nhau: chứng cứ về tổ chức nghiên cứu Nam dược trong khuôn khổ quản lý nhà nước và dấu mốc truyền thống được Hội Đông y Việt Nam ghi nhận về sau. Ý nghĩa nghiên cứu thuốc Nam cần được xác định thêm từ điều lệ và hoạt động, thay vì chỉ suy ra từ tên hội.

3.3. Hoạt động thời kháng chiến và mốc pháp lý năm 1957

Trong kháng chiến chống Pháp, nguồn dược liệu tại chỗ và kinh nghiệm chữa bệnh của lương y có ý nghĩa thực tiễn đối với việc chăm sóc cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân. Các tư liệu tổng kết ghi nhận tên gọi Hội Đông y Cứu quốc, việc phát triển tổ chức ở một số địa phương và hoạt động chế biến thuốc phục vụ kháng chiến [9]. Điều lệ năm 2011 cũng ghi lại sự chuyển tiếp tên gọi từ Hội Nghiên cứu Nam dược sang Hội Đông y Cứu quốc [8].

Tư liệu tổng kết được công bố ghi nhận Bộ Y tế thành lập Ban Nghiên cứu Đông y năm 1948 [9].

Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị cán bộ y tế tháng 2/1955 định hướng học tập kinh nghiệm y học của nhân dân và phối hợp thuốc Đông với thuốc Tây [10]. Ngày 03/6/1957, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định 399-NV-DC-NĐ cho phép Hội Đông y Việt Nam thành lập. Điều 1 cho phép Hội thành lập và hoạt động theo luật lệ hiện hành; Điều 2 giao trách nhiệm thi hành cho các cơ quan liên quan [11].

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Theo tài liệu của Hội Đông y Việt Nam, số hội viên ban đầu có 1049 hội viên chính thức và 18.000 hội viên dự bị. Tháng 12 năm 1957 tổ chúc đại hội lầ thứ nhất có 19.049 hội viên. Đại hội bầu 26 ủy viên Ban chấp hành và Lương y Nguyễn Trung Khiêm là chủ tịch Trung ương hội Đông y. BS Nguyễn Văn Hướng và cụ Phó Đức Thành là phó Chủ tịch. Hội Đông y Việt Nam là thành viên của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Các tài liệu lịch sử Hội thường diễn đạt sự kiện này là tái lập, gắn với việc khôi phục tổ chức sau kháng chiến. Tài liệu kỷ niệm năm 2026 trên cổng thông tin Hội mô tả quá trình phát triển khi đó tại các tỉnh, thành phố từ Vĩnh Linh trở ra [12]. Do đó, cần đặt sự kiện trong bối cảnh đất nước tạm thời chia cắt, phân biệt địa vị pháp lý với phạm vi tổ chức và hoạt động thực tế.

Cùng năm 1957, Thông tư 22-BYT-TT ngày 17/6 của Bộ Y tế về thành lập Vụ Đông y và Viện Nghiên cứu Đông y cho thấy sự phát triển của thiết chế quản lý, nghiên cứu trong ngành y tế [13]. Thông tư giao Vụ Đông y nhiệm vụ lãnh đạo, giúp đỡ các hội Đông y, hướng dẫn người hành nghề và xây dựng kế hoạch nghiên cứu toàn ngành. Đây là căn cứ cụ thể về mối liên hệ giữa quản lý nhà nước và hoạt động hội [13].

3.4. Hội Đông y Việt Nam trong phát triển y học dân tộc và thời kỳ đổi mới

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Trụ sở Hội Đông y Việt Nam tại 19 Tông Đản – Hà Nội.

Từ sau năm 1957, Hội Đông y Việt Nam phát triển hoạt động tập hợp người hành nghề, truyền bá kinh nghiệm và phục vụ chăm sóc sức khỏe. Tư liệu tổng kết ghi nhận việc hướng dẫn nhận biết, sử dụng cây thuốc tại chỗ cho cán bộ trước khi vào chiến trường [9]. Những hoạt động đó thể hiện sự kết nối giữa tổ chức hội, nhu cầu y tế và kinh nghiệm của cộng đồng; cần nghiên cứu bằng hồ sơ địa phương để đánh giá đầy đủ quy mô và kết quả.

Sau khi đất nước thống nhất, phát triển y học dân tộc được đặt trong phạm vi chính sách quốc gia. Nghị quyết 266-CP ngày 19/10/1978 của Hội đồng Chính phủ định hướng phát triển y học dân tộc cổ truyền, kết hợp y học hiện đại, kế thừa kinh nghiệm và huy động lực lượng lương y [14]. Đây là bối cảnh chính sách quan trọng để khảo cứu việc củng cố mạng lưới hội trên cả nước.

Trong thời kỳ đổi mới, Chỉ thị 24-CT/TW ngày 04/7/2008 của Ban Bí thư đặt phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong cùng định hướng [15]. Điều lệ năm 2011 thể hiện các nội dung tập hợp hội viên, bồi dưỡng chuyên môn, giữ gìn bài thuốc và nguồn dược liệu, nghiên cứu, kết hợp Đông y với Tây y, tham gia xây dựng chính sách [8]. Các nhiệm vụ ấy cho thấy hoạt động Hội bao gồm cả thực hành nghề nghiệp, bảo tồn và phát triển tri thức.

Tài liệu của Trung ương Hội năm 2025 tiếp tục viện dẫn Quyết định 1425/QĐ-BNV ngày 27/5/2016 phê duyệt Điều lệ Hội [16]. Kết luận 86-KL/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư đặt yêu cầu phát triển nền y học cổ truyền và Hội Đông y trong giai đoạn mới [17]. Các mốc tổ chức cần được đọc cùng sự thay đổi nhiệm vụ và môi trường chính sách.

3.5. Sự ra đời và phát triển của Hội Nam y Việt Nam từ năm 2017

Mốc pháp lý được các tài liệu của cơ quan ngôn luận Hội Nam y Việt Nam dẫn thống nhất là Quyết định 852/QĐ-BNV ngày 17/3/2017 của Bộ Nội vụ cho phép thành lập Hội Nam y Việt Nam [18]. Bài viết về sự cần thiết phát hành Tạp chí Sức khỏe Việt giới thiệu Hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp, tập hợp người và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam, hỗ trợ hội viên, giữ gìn và bảo tồn bài thuốc. Nguồn này được sử dụng như thông tin công bố của Hội; nghiên cứu chưa đối chiếu được toàn bộ bản gốc quyết định năm 2017.

Theo tường thuật đương thời của đơn vị tham dự, Đại hội lần thứ I diễn ra ngày 20/6/2017 tại Hà Nội, nhiệm kỳ 2017–2022, bầu ông Nguyễn Đức Đoàn làm Chủ tịch [19]. Đây là mốc tổ chức bộ máy và chương trình hoạt động sau khi được cho phép thành lập. Năm 2018, Hội được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam kết nạp làm hội thành viên, theo tài liệu của Liên hiệp Hội [20].

Ngày 15/9/2022, Hội tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ II, nhiệm kỳ 2022–2027, bầu GS TS Trương Việt Bình làm Chủ tịch. Báo Nhân Dân ghi nhận các báo cáo tổng kết, việc kiện toàn nhân sự và đề xuất đổi tên Hội tại đại hội [21]. Cần phân biệt đề xuất tại đại hội với quyết định chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền; không coi thông tin đề xuất là sự kiện đổi tên đã hoàn tất.

Báo cáo hoạt động năm 2023 được công bố trên Tạp chí Sức khỏe Việt cho biết Bộ Nội vụ ban hành Quyết định 1040/QĐ-BNV ngày 20/12/2023 phê duyệt Điều lệ Hội; đồng thời ghi nhận hoạt động kiện toàn chi hội, phát triển hội viên và tổ chức hội thảo [22]. Đó là những mốc hoàn thiện tổ chức; đánh giá tác động cần thêm dữ liệu về kết quả bảo tồn và chăm sóc sức khỏe.

Nhìn trong lịch sử dài hạn, Hội Nam y Việt Nam có sự tương đồng về định hướng phát huy Nam dược với phong trào nghiên cứu thuốc trong nước trước đây. Tuy nhiên, nguồn tư liệu được khảo cứu chưa xác lập việc chuyển giao pháp nhân từ Nghiên cứu Nam dược Hội năm 1946 sang Hội Nam y Việt Nam năm 2017. Sự tiếp nối về tinh thần, tri thức và nghề nghiệp cần được diễn đạt đúng bình diện đó.

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Hội nghị Ban Thường vụ Hội Nam y Việt Nam Quý III năm 2026 diễn ra vào ngày 04/10/2026, Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội Nam y Việt Nam phát biểu chỉ đạo quan trọng, định hướng chiến lược cho các hoạt động của Hội trong Quý IV năm 2026 và chặng đường phát triển tiếp theo.

3.6. Các mốc lịch sử chủ yếu và mức độ xác định

Bảng 1 tổng hợp những mốc tiêu biểu, phân biệt sự kiện pháp lý với hoạt động nghề nghiệp và tư liệu hồi cố.

Bảng 1. Các mốc tiêu biểu trong lịch sử hình thành và phát triển tổ chức

Thời gian

Tổ chức hoặc sự kiện

Căn cứ và cách xác định

Triều Nguyễn

Thái Y viện và thực hành y dược cộng đồng

Bối cảnh tri thức, nhân lực; không xác lập tiền thân pháp nhân [2, 3]

1936–1939

Hội đoàn ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Nam Kỳ; vận động chấn hưng Đông y

Tài liệu công bố; cần bổ sung hồ sơ từng hội [4, 5]

22/8/1946

Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội

Trích lục nghị định trong Công Báo ngày 07/9/1946 [7]

Kháng chiến chống Pháp

Hội Đông y Cứu quốc; hoạt động nghiên cứu, dùng thuốc tại chỗ

Tư liệu tổng kết; chưa xác nhận số thứ tự đại hội đổi tên [8, 9]

03/6/1957

Cho phép thành lập Hội Đông y Việt Nam

Nghị định 399-NV-DC-NĐ, Điều 1 [11]

1978–2016

Củng cố Hội trong phát triển y học dân tộc và thời kỳ đổi mới

Chính sách quốc gia, điều lệ và tài liệu Hội [8, 14, 15, 16]

17/3 và 20/6/2017

Cho phép thành lập Hội Nam y Việt Nam; Đại hội lần I

Quyết định 852/QĐ-BNV được dẫn lại; tường thuật đại hội [18, 19]

15/9/2022; 20/12/2023

Đại hội lần II Hội Nam y; phê duyệt Điều lệ

Tường thuật đại hội và báo cáo của Hội [21, 22]

2024–2026

Củng cố vai trò hội, tăng hoạt động phối hợp

Văn kiện chính sách và thông tin hoạt động đương thời [17, 23, 24]

Nguồn: tác giả đối chiếu và tổng hợp từ các tài liệu được dẫn.

4. BÀN LUẬN

4.1. Phân biệt truyền thống lịch sử và sự kế thừa pháp lý

Kết quả khảo cứu cho thấy ba lớp lịch sử có liên hệ nhưng cần được nhận diện riêng. Nền tảng tri thức và truyền nghề hình thành trước các hội hiện đại. Truyền thống tổ chức phản ánh cách hội ghi nhận các thế hệ và phong trào đi trước. Địa vị pháp lý được xác định qua những văn bản về từng tổ chức, tại từng thời điểm.

Cách phân biệt này cho phép trân trọng mốc truyền thống năm 1946 của Hội Đông y Việt Nam, đồng thời mô tả đúng nghị định năm 1957. Với Hội Nam y Việt Nam, năm 2017 là mốc cho phép thành lập tổ chức hiện nay; lịch sử Nam dược lâu đời cung cấp nền tảng tri thức và giá trị để Hội kế thừa.

Hồ sơ cần bổ sung gồm điều lệ các hội, biên bản đại hội thời kháng chiến, đơn xin thành lập năm 1957 và hồ sơ vận động năm 2017. Báo chí đương thời và lịch sử địa phương có thể bổ sung cho văn bản hành chính.

4.2. Mối quan hệ giữa hai hội trong bảo tồn và phát triển y dược dân tộc

Các tài liệu công bố cho thấy hai hội cùng quan tâm tập hợp người hành nghề, bảo tồn bài thuốc, truyền dạy, nghiên cứu và chăm sóc cộng đồng. Hoạt động thuốc Nam hiện diện trong phạm vi nghề nghiệp của Hội Đông y; Hội Nam y có trọng tâm phát huy thuốc Nam và tri thức gắn với dược liệu trong nước [8, 18]. Không đủ căn cứ để diễn giải sự ra đời của Hội Nam y như một quyết định phân công độc quyền giữa hai hội hoặc xác định hội này bao trùm hội kia.

Thực tiễn phối hợp đã được ghi nhận: ngày 25/7/2026, Hội Đông y, Hội Nam y, Hội Quân dân y và Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng phối hợp tọa đàm về đề xuất nội dung xây dựng luật y dược cổ truyền [23]. Sự kiện là chứng cứ về một hoạt động hợp tác cụ thể, chưa phải căn cứ đánh giá tác động của phối hợp trên toàn hệ thống.

Từ đó, nghiên cứu đề xuất tăng phối hợp theo nhiệm vụ: tư liệu hóa bài thuốc có sự tham gia của người lưu giữ; kết nối chuyên gia đánh giá chất lượng, an toàn và hiệu quả; bảo tồn nguồn dược liệu; bồi dưỡng y đức, chuyên môn và truyền thông có căn cứ. Tính phù hợp của từng hoạt động cần được xem xét theo điều lệ và quy định liên quan, gắn với nhu cầu thực tế của cộng đồng.

4.3. Ý nghĩa hiện nay và giới hạn nghiên cứu

Chiến lược quốc gia tại Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 13/10/2026 đặt bảo tồn tri thức, phát triển nhân lực, khoa học và kinh tế y dược cổ truyền trong một định hướng chung; đồng thời nêu việc phát huy vai trò phản biện của các hội nghề nghiệp [24]. Bối cảnh này làm rõ yêu cầu xây dựng hội có năng lực chuyên môn, hồ sơ minh bạch và khả năng kết nối giữa người lưu giữ tri thức với nghiên cứu, thực hành.

Đánh giá phát triển hội nên theo dõi chất lượng tư liệu được xác minh, kết quả truyền dạy, sản phẩm nghiên cứu và lợi ích cộng đồng. Số hội viên, hội thảo cần được đặt cùng các chỉ số kết quả. Tôn vinh di sản cần đi cùng đánh giá chuyên môn đối với từng phương thuốc, phương pháp.

Nghiên cứu phụ thuộc tài liệu công bố, chưa tiếp cận đầy đủ hồ sơ gốc và lịch sử hội ở miền Nam. Một số quyết định được nhận diện qua nguồn dẫn lại. Kết quả cung cấp khung niên biểu bước đầu, chưa xác nhận chuỗi kế thừa pháp lý cho mọi giai đoạn.

5. KẾT LUẬN

Quá trình hình thành các hội y dược hiện đại gắn với nền tảng tri thức dân tộc, phong trào liên kết nghề nghiệp và môi trường chính sách qua từng thời kỳ. Thái Y viện triều Nguyễn và y dược cộng đồng thuộc bối cảnh lịch sử; các hội đoàn thời thuộc địa tạo không gian quy tụ và trao đổi nghề nghiệp. Tư liệu công báo năm 1946 ghi nhận việc đổi tên Việt Nam Y đoàn thành Nghiên cứu Nam dược Hội; Nghị định 399-NV-DC-NĐ năm 1957 cho phép thành lập Hội Đông y Việt Nam. Hội Nam y Việt Nam được cho phép thành lập năm 2017 và tiếp tục kiện toàn tổ chức qua các kỳ đại hội, điều lệ.

Hai hội cùng có thể phát huy tri thức y dược dân tộc thông qua bảo tồn, truyền dạy, nghiên cứu và phục vụ sức khỏe nhân dân. Hoàn thiện lịch sử tổ chức cần tiếp tục bổ sung hồ sơ, phân biệt truyền thống với quan hệ pháp lý và đánh giá đóng góp bằng kết quả cụ thể. Đó là cơ sở để củng cố phối hợp và phát triển các tổ chức hội phù hợp yêu cầu hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Oda Nara. The Place of “Traditional Medicine” in the Modern History of Vietnam: How “National Medicine” Came into Being. Southeast Asia: History and Culture. 2011;(40):126–144. doi:10.5512/sea.2011.40_126.

2. Đỗ Bang. Thái Y viện triều Nguyễn – đỉnh cao trong lịch sử phòng, chữa bệnh, tổ chức và đào tạo lương y Việt Nam thời quân chủ. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn. 2020;129(6E). doi:10.26459/hueunijssh.v129i6E.6073.

3. Lê Thông. “Bệnh viện” dành cho thái giám, nữ quan triều Nguyễn. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I; 10/7/2022. Bài giới thiệu tư liệu lưu trữ.

4. Mai Thị Mỹ Vị. Đông y Việt Nam thời Pháp thuộc (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945). Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. 2021;(9/277):63–76. Thông tin bài báo.

5. Hội Đông y Hà Nội. Tài liệu điện tử 1000baithuockn.pdf. Nội dung về lịch sử y học cổ truyền. Tệp tài liệu được công bố.

6. Chủ tịch Chính phủ. Sắc lệnh 52 ngày 22/4/1946 quy định việc lập hội. Bản đăng lại toàn văn.

7. Bộ Nội vụ. Trích lục nghị định ngày 22/8/1946 về Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội. Việt Nam Dân Quốc Công Báo. 07/9/1946. Mục Bộ Nội vụ. Bản số hóa.

8. Bộ Nội vụ. Quyết định 162/QĐ-BNV ngày 21/02/2011 phê duyệt Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) Hội Đông y Việt Nam. Lời nói đầu; Điều 2–6. Bản đăng lại toàn văn.

9. Sông Lam. Hội Đông y Việt Nam tham gia phòng chống dịch Covid-19 và truyền thống 75 năm xây dựng và trưởng thành. Pháp luật Plus. Tư liệu tổng kết.

10. Hồ Chí Minh. Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, tháng 02/1955. Bản công bố trên chuyên trang Hồ Chí Minh.

11. Bộ Nội vụ. Nghị định 399-NV-DC-NĐ ngày 03/6/1957 cho phép Hội Đông y Việt Nam thành lập. Điều 1–2. Bản đăng lại toàn văn.

12. Hội Đông y Việt Nam. Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946–22/8/2026). 21/8/2026. Tư liệu kỷ niệm.

13. Bộ Y tế. Thông tư 22-BYT-TT ngày 17/6/1957 về việc thành lập Vụ Đông y và Viện Nghiên cứu Đông y. Bản đăng lại toàn văn.

14. Hội đồng Chính phủ. Nghị quyết 266-CP ngày 19/10/1978 về phát triển y học dân tộc cổ truyền kết hợp chặt chẽ với y học hiện đại, nhằm xây dựng nền y học Việt Nam. Bản đăng lại toàn văn.

15. Ban Bí thư. Chỉ thị 24-CT/TW ngày 04/7/2008 về phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới.

16. Hội Đông y Việt Nam. Quyết định 21/QĐ-HĐYVN ngày 02/6/2025 thành lập Hội đồng xét tặng danh hiệu Thầy thuốc Đông y tiêu biểu toàn quốc năm 2025. Phần căn cứ. Tài liệu của Hội.

17. Ban Bí thư. Kết luận 86-KL/TW ngày 10/7/2024 về phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong giai đoạn mới. Nội dung công bố.

18. Tạp chí Sức khỏe Việt. Sự cần thiết phát hành Tạp chí Sức khỏe Việt. 15/3/2021. Dẫn Quyết định 852/QĐ-BNV ngày 17/3/2017. Thông tin công bố của cơ quan ngôn luận Hội.

19. Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc. Đại hội đại biểu Hội Nam y lần thứ nhất. 22/6/2017. Tường thuật của đơn vị tham dự.

20. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Phân công nhiệm vụ trong Hội đồng Trung ương, Đoàn Chủ tịch và Thường trực Đoàn Chủ tịch. 24/12/2020. Phần kết nạp hội thành viên năm 2018. Tài liệu của Liên hiệp Hội.

21. Thế Sơn. Hội Nam y Việt Nam tổ chức thành công Đại hội đại biểu lần thứ hai. Báo Nhân Dân. 15/9/2022. Tường thuật đại hội.

22. Tạp chí Sức khỏe Việt. Hội Nam y Việt Nam tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Hội năm 2023 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2024 khu vực phía Bắc. 01/3/2024. Thông tin báo cáo của Hội.

23. Hội Quân dân y Việt Nam. Đề xuất xây dựng Luật Y dược cổ truyền: góc nhìn khoa học và thực tiễn từ tọa đàm các hội ngành nghề. 2026. Thông tin của đơn vị tổ chức.

24. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 13/10/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phần III của Chiến lược. Văn bản và bản PDF.

Các nguồn trực tuyến được đối chiếu đến ngày 23/10/2026.

BSCKI Quách Tuấn Vinh1, GS, TS Trương Việt Bình,2 PGS, TS Phạm Lê Tuấn3; TS Trần Tử Bình3; PGS, TS Vũ Mạnh Hùng3

1 Hội Đông y Việt Nam; Hội Nam y Việt Nam; Hội Quân dân y Việt Nam

2 Hội Nam y Việt Nam

3Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe – Hội Quân dân y Việt Nam

suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Cơ được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Y tế

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Cơ được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Y tế

Theo Quyết định số 2079/QĐ-TTg ngày 30/10, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Đào Xuân Cơ - Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.

Các tin khác

Sự hình thành và phát triển Nam y Việt Nam qua tư liệu lịch sử thời quân chủ

Sự hình thành và phát triển Nam y Việt Nam qua tư liệu lịch sử thời quân chủ

TÓM TẮT - Bài viết khảo cứu sự hình thành và phát triển Nam y Việt Nam thời quân chủ bằng phương pháp tổng quan lịch sử và phê bình tư liệu. Nguồn gồm truyện ký, chính sử, luật pháp, y thư và công bố về tài liệu lưu trữ. Kết quả cho thấy kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe được ghi chép, hệ thống hóa qua nhiều thế hệ; hoạt động tuyển chọn thầy thuốc và quy định hành nghề thể hiện sự tham gia của nhà nước. Trước thời Pháp thuộc, y học truyền thống giữ vai trò chủ đạo; Tây y từng có những tiếp xúc sớm, sau đó được tổ chức thành hệ thống thời thuộc địa. Bài viết phân biệt giá trị chứng cứ giữa các nhóm nguồn, đề xuất bảo tồn Nam y gắn với khảo chứng văn bản và đánh giá khoa học.
Từ Di Sản Tri Thức Sống Đến Đối Tượng Chính Sách: Thuốc Nam Trong Lịch Sử Y Dược Việt Nam

Từ Di Sản Tri Thức Sống Đến Đối Tượng Chính Sách: Thuốc Nam Trong Lịch Sử Y Dược Việt Nam

TÓM TẮT - Thuốc Nam là một bộ phận của di sản tri thức y dược được hình thành và lưu truyền trong đời sống cộng đồng Việt Nam. Nghiên cứu khảo cứu lịch sử Thuốc Nam và phân tích tiến trình hình thành, phát triển các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước liên quan đến y học dân tộc/y học cổ truyền ở Việt Nam. Kết quả cho thấy các định hướng qua nhiều giai đoạn có thể được khái quát theo trục kế thừa, bảo tồn, phát huy và phát triển toàn diện: từ tri thức, nghiên cứu, đào tạo và hành nghề đến tổ chức hệ thống y tế, phát triển dược liệu, thuốc và sản phẩm, cũng như nâng cao giá trị và đóng góp của y học cổ truyền đối với sức khỏe và kinh tế. Bài viết đặt vấn đề tiếp tục nhận diện vị trí cụ thể của Thuốc Nam trong khung chính sách rộng về y học cổ truyền.
Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

TÓM TẮT: Nghẹt mũi, chảy dịch mũi và đau tức vùng mặt là những triệu chứng thường gặp trong các bệnh lý đường hô hấp trên, trong đó có viêm mũi xoang. Những biểu hiện này có thể xuất hiện hoặc nặng lên trong các giai đoạn thời tiết thay đổi, đồng thời dễ bị nhầm lẫn với cảm lạnh và viêm mũi dị ứng. Việc nhận diện đúng triệu chứng, xác định khả năng mắc bệnh và lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe người bệnh.
Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Người cao tuổi mắc bệnh không lây nhiễm có nhu cầu chăm sóc mắt đồng thời với quản lý bệnh nền. Bài viết tổng quan chọn lọc bằng chứng nhãn khoa và phân tích chính sách y tế Việt Nam đến tháng 10 năm 2026. Nội dung tập trung vào đục thủy tinh thể, bệnh võng mạc đái tháo đường và tổn thương mạch máu võng mạc. Đối chiếu với Nghị quyết 20, Chỉ thị 25, Nghị quyết 72 và hướng dẫn của Bộ Y tế cho thấy cơ sở để lồng ghép chăm sóc mắt vào quản lý bệnh mạn tính. Bài viết đề xuất quy trình nhận diện nguy cơ, sàng lọc, chuyển khám, điều trị và theo dõi tại cộng đồng. Mô hình cần được thí điểm, đánh giá về khả năng tiếp cận, hoàn thành chuyển khám và kết quả thị giác; chưa có dữ liệu thực nghiệm chứng minh hiệu quả.
Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Tóm tắt - Bệnh Parkinson gây rối loạn vận động và nhiều triệu chứng ngoài vận động, đòi hỏi chăm sóc phối hợp. Chuyên khảo tổng hợp có chọn lọc các nghiên cứu về châm cứu, nhĩ châm và kích thích thần kinh qua da ở tai, cập nhật đến tháng 10 năm 2026. Một số thử nghiệm đối chứng ghi nhận châm cứu cải thiện giấc ngủ, lo âu, táo bón và chức năng vận động khi bổ sung vào điều trị thuốc. Tuy nhiên, kết quả không đồng nhất; bằng chứng trực tiếp về nhĩ châm còn hạn chế. Dữ liệu hình ảnh não, nội tiết và yếu tố dinh dưỡng thần kinh gợi ý cơ chế điều biến thần kinh nhưng chưa chứng minh tác dụng làm chậm bệnh. Việc ứng dụng cần xác định mục tiêu triệu chứng, chuẩn hóa đánh giá, bảo đảm an toàn và tiếp tục điều trị nền.
Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Tóm tắt - Bài viết phân tích di sản Hoàng Đôn Hòa và Hoạt nhân toát yếu theo cách tiếp cận liên ngành. Tư liệu gồm bản dịch năm 1980, thư mục bản Hán Nôm A.2535 và nghiên cứu liên quan. Cần phân biệt nguyên tác gắn với Hoàng Đôn Hòa, bản tăng bổ của Trịnh Đôn Phác và dịch hiện đại. Tác phẩm là phương thư thực hành, chú trọng thuốc Nam, bệnh cấp, ngoại thương, phụ khoa, nhi khoa, thú y và dưỡng sinh. Tam hoàng hoàn và Thần ứng hoàn phản ánh tư duy bào chế thích ứng với dịch bệnh và hành quân, nhưng cần kiểm soát độc tính của hùng hoàng, hoàng nàn và chu sa. Di sản nên được bảo tồn bằng khảo cứu văn bản, số hóa, chuẩn hóa dược liệu, đánh giá an toàn và giáo dục y đức; không phục dựng nguyên xi toa thuốc cổ để tự điều trị.
Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

TÓM TẮT - Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhóm E có gánh nặng triệu chứng và nguy cơ đợt cấp cao. Cấy chỉ có thể tạo kích thích huyệt kéo dài, qua đó hỗ trợ điều hòa thần kinh tự chủ, đáp ứng viêm và khả năng gắng sức, nhưng bằng chứng lâm sàng còn cần được củng cố.
Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tía tô (Perilla frutescens) và gừng tươi (Zingiber officinale) là hai dược liệu được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á để phòng và hỗ trợ điều trị các chứng ngoại cảm phong hàn, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn và một số bệnh lý đường hô hấp. Trong cộng đồng hiện nay, nước lá tía tô phối hợp gừng được sử dụng rộng rãi như một loại đồ uống hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng còn mang tính kinh nghiệm, chưa được chuẩn hóa về chỉ định, thời điểm sử dụng và liều lượng dựa trên y học chứng cứ.
Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Xem thêm
Phiên bản di động