Tiếp cận chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi

TÓM TẮT:

Mục tiêu: Bài viết trình bày cách tiếp cận rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi dựa trên các bằng chứng từ y văn hiện có. Trong đó, nội dung tập trung mô tả đặc điểm dịch tễ học, các biểu hiện lâm sàng thường gặp cũng như những biểu hiện không điển hình của trầm cảm ở nhóm tuổi này, đồng thời phân tích các yếu tố nguy cơ và cơ chế bệnh sinh liên quan. Bên cạnh đó, bài viết cũng làm rõ cách tiếp cận trong sàng lọc và chẩn đoán thông qua các công cụ đánh giá thường được sử dụng như thang đo PHQ-9, GDS và tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-5-TR. Ngoài ra, bài viết cũng góp phần cung cấp cơ sở khoa học nhằm hỗ trợ phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác và nâng cao hiệu quả tiếp cận rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi trong thực hành lâm sàng.

Từ khóa: trầm cảm, người cao tuổi, DSM-5-TR

ABSTRACT:

Objective: This article presents an approach to major depressive disorder in older adults based on evidence from the existing literature. The content focuses on describing epidemiological characteristics, common clinical manifestations, as well as atypical presentations of depression in this population, while also analyzing associated risk factors and underlying pathophysiological mechanisms. In addition, the article clarifies approaches to screening and diagnosis using commonly applied assessment tools such as the Patient Health Questionnaire-9 (PHQ-9), the Geriatric Depression Scale (GDS), and the diagnostic criteria of DSM-5-TR. Furthermore, the article aims to provide a scientific basis to support early detection, accurate diagnosis, and improved clinical management of major depressive disorder in older adults.

Keywords: Depression, older adults, DSM-5-TR.

Chỉ số Doi:

Ngày nhận bài: 15/01/2026

Ngày hoàn thiện biên tập: 25/01/2026

Ngày duyệt đăng: 25/01/2026

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn trầm cảm chủ yếu (RLTCCY) là một trong những rối loạn khí sắc phổ biến, gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh, đồng thời là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng khuyết tật trên toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2023 ước tính có khoảng 280 triệu người đang sống chung với trầm cảm [1]. Người mắc RLTCCY thường bị suy giảm đáng kể về sức khỏe, giảm khả năng lao động và học tập, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Khoảng hai phần ba bệnh nhân trầm cảm có ý định tự tử và khoảng 10–15% bệnh nhân tử vong do tự tử [2].

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong bối cảnh dân số thế giới và Việt Nam đang có xu hướng già hóa nhanh chóng, tỉ lệ người cao tuổi (NCT) trong dân số ngày càng gia tăng. Dự báo từ năm 2015 đến năm 2050, tỉ lệ dân số toàn cầu trên 60 tuổi sẽ tăng gấp đôi, từ 12% lên 22% [3]. Tại Việt Nam, tỉ lệ người cao tuổi năm 2019 đã tăng 0,6% so với năm 2014 [4,5]. Do đó, các vấn đề sức khỏe ở người cao tuổi ngày càng trở thành mối quan tâm quan trọng, không chỉ về sức khỏe thể chất mà còn về sức khỏe tâm thần.

Tuy nhiên, cách tiếp cận rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi vẫn còn nhiều hạn chế do sự khác biệt về công cụ sàng lọc và tiêu chuẩn chẩn đoán giữa các cơ sở y tế, cũng như do các biểu hiện lâm sàng ở nhóm tuổi này thường không điển hình và dễ bị che lấp bởi các bệnh lý cơ thể kèm theo. Vì vậy, việc hệ thống hóa các đặc điểm lâm sàng và cách tiếp cận chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện sớm và quản lý hiệu quả rối loạn này trong thực hành lâm sàng.

III. KẾT QUẢ

3.1. Định nghĩa

Theo WHO, RLTCCY đặc trưng là những nỗi buồn dai dẳng hoặc mất hứng thú với các hoạt động mà mọi người thường yêu thích kèm theo không thể thực hiện các hoạt động hằng ngày trong 14 ngày hoặc lâu hơn [6].

3.2. Dịch tễ học về rối loạn trầm cảm chủ yếu

Nghiên cứu về dịch tễ học của RLTCCY đã giúp chúng ta hiểu biết nhiều hơn về rối loạn này, là một trong những rối loạn tốn kém nhất. Tỉ lệ lưu hành của RLTCCY trong dân số chung khoảng 12,9%, tỉ lệ mắc trong một năm là 7,2% và tỉ lệ lưu hành suốt đời [2] là 10,8%. Tại Hoa Kỳ, dữ liệu dịch tễ học gần đây nhất cho thấy tỉ lệ của RLTCCY trong 1 năm là 7,1%, gần giống với dữ liệu quốc tế [2]. Tỉ lệ này có sự khác biệt rõ rệt theo nhóm tuổi, tỉ lệ ở nhóm tuổi từ 18 tuổi đến 29 tuổi cao gấp 3 lần tỉ lệ mắc bệnh ở những người từ 60 tuổi trở lên [7]. Độ tuổi khởi phát trung bình của RLTCCY là 40 tuổi, 50% bệnh nhân khởi phát trong độ tuổi từ 20-50 tuổi. Tuy nhiên, cũng có thể khởi phát sớm hơn hoặc muộn hơn. RLTCCY không phụ thuộc vào quốc gia hay nền văn hoá mà rối loạn này xảy ra ở nữ giới nhiều hơn nam giới. Sự khác biệt này được giải thích bằng nhiều cách khác nhau cả về mặt sinh học, tâm lý và xã hội chẳng hạn như sự thay đổi về hormone, sự bất bình đẳng của phụ nữ trong xã hội. Bên cạnh đó, điều đáng ngạc nhiên là trầm cảm phổ biến hơn ở vùng nông thôn so với thành thị. Ngoài ra, tỉ lệ của RLTCCY cao đáng kể ở những người có quan hệ xã hội kém hoặc li dị, ly thân, góa bụa [2].

Tiếp cận chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi

Biểu đồ 1. Tần suất mắc các rối loạn trầm cảm theo nhóm tuổi trên thế giới năm 2019

“Nguồn: Dữ liệu thống kê của Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2019” [8]

3.3. Cơ chế bệnh sinh rối loạn trầm cảm chủ yếu

RLTCCY có cơ chế bệnh sinh đa yếu tố. Giả thuyết kinh điển trước đây được cho là một căn bệnh do thiếu hụt monoamine đặc trưng bởi nồng độ serotonin, norepinephrine và dopamin giảm thấp ở khe synap trong hệ thần kinh trung ương [9]. Phần lớn các nghiên cứu về sinh học thần kinh của RLTCCY đều tập trung vào vai trò của các chất dẫn truyền thần kinh này.

(a) Noradrenaline

Bằng chứng thuyết phục nhất về vai trò trực tiếp của hệ thống noradrenaline trong rối loạn trầm cảm dựa vào mối tương quan giữa sự giảm điều hòa của các thụ thể ß-adrenergic và đáp ứng về mặt lâm sàng của thuốc chống trầm cảm. Ngoài ra, việc kích thích các thụ thể tiền synap b2 dẫn đến giảm lượng norepinephrine được phóng thích, các thụ thể này cũng nằm trên tế bào thần kinh tiết serotonin và điều chỉnh lượng serotonin được phóng thích [2].

(b) Serotonin

Hầu hết các thuốc chống trầm cảm thế hệ mới đều tác động lên serotonin chứ không phải norepinephrine và serotonin trở thành một chất dẫn truyền thần kinh liên quan nhất đến trầm cảm. Sự suy giảm serotonin có thể dẫn đến trầm cảm và một số bệnh nhân có xung động tự sát do nồng độ serotonin trong dịch não tủy thấp và vị trí tái hấp thu serotonin trên bề mặt tiểu cầu [2].

(c) Dopamine

Về chất dẫn truyền thần kinh dopamine, hoạt động của dopamine có thể giảm trong trầm cảm và tăng trong hưng cảm. Sự khám phá ra các phân nhóm mới của thụ thể dopamine và tăng hiểu biết về chức năng điều hòa tiền synap và hậu synap của dopamine càng thúc đẩy các nghiên cứu về mối liên quan giữa dopamine và các rối loạn khí sắc. Bên cạnh đó, ta cũng thấy những thuốc và bệnh gây giảm nồng độ dopamine (ví dụ như Parkinson) cũng làm xuất hiện các triệu chứng trầm cảm, trong khi đó những thuốc làm tăng nồng độ dopamine giúp làm giảm các triệu chứng này. Ngược lại, các thuốc làm tăng nồng độ dopamine chẳng hạn như tyrosine, amphetamine và bupropion làm giảm các triệu chứng trầm cảm [2]. Điều này càng củng cố vai trò của dopamine trong bệnh sinh của RLTCCY.

  1. Các cơ chế khác

Ngoài ra, khả biến thần kinh là khả năng thích nghi của bộ não với những biến cố và căng thẳng lâu dài hoặc những kích thích nội sinh. Những thay đổi này mang tính thích nghi và tăng khả năng phục hồi ở nhóm nguy cơ cao, tuy nhiên có thể không thích nghi dẫn đến các bệnh lý thần kinh và rối loạn tâm thần [9].

Bên cạnh đó, cơ chế bệnh sinh của trầm cảm có liên quan đến đồi hải mã. Đồi hải mã có vai trò điều chỉnh khí sắc. Một phần do đồi hải mã có liên quan với các vùng não mà liên quan đến cảm xúc như hạch hạnh nhân và vùng vành cung vỏ não trán trước. Thứ hai là do đồi hải mã có khả năng tiếp tục sản xuất tế bào thần kinh ở người trưởng thành. Thứ ba là do vai trò của nó trong điều hòa trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận, có mối liên quan giữa căng thẳng và nồng độ cortisol, nồng độ cortisol tăng cao trong trầm cảm [9].

TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN

3.4. Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm chủ yếu

Khí sắc trầm và mất hứng thú hoặc vui thích là những triệu chứng chính của bệnh trầm cảm. Ở một số bệnh nhân, khí sắc trầm là một điểm riêng để phân biệt với nỗi buồn thông thường hoặc đau thương. Bệnh nhân thường mô tả triệu chứng của trầm cảm là một nỗi đau tinh thần tột độ. Một số khác coi đó là một căn bệnh thể chất khiến họ cảm thấy kiệt sức và không có động lực. Những người khác thì khó tận hưởng những hoạt động bình thường mình yêu thích. Chậm tâm thần vận động toàn diện là một trong số các dấu hiệu của trầm cảm có thể quan sát được, bệnh nhân ít cử động tự phát, cử động chậm chạp làm đôi khi người ta nhầm với hội chứng căng trương lực. Tuy nhiên, kích động tâm thần vẫn xảy ra bao gồm các hành vi xoắn vặn tay hoặc giật tóc. Các nghiên cứu cho thấy 97% bệnh nhân đều nói về việc giảm năng lượng, khó khăn trong hoàn thành nhiệm vụ, giảm khả năng học tập và công việc và ít động lực để thực hiện các dự án mới [2]. Ngoài ra, 80% bệnh nhân cho biết rằng bị khó ngủ, mất ngủ cuối hôm và thức giấc nhiều lần trong đêm [2]. Bên cạnh đó, nhiều bệnh nhân giảm cảm giác thèm ăn và sụt cân, nhưng có những người khác lại thèm ăn, tăng cân và ngủ nhiều hơn. Bệnh nhân trầm cảm thường có cái nhìn tiêu cực về thế giới và bản thân. Nội dung suy nghĩ của họ thường bận tâm về sự mất mát, cảm giác tội lỗi, tự sát và cái chết. Khoảng 2/3 bệnh nhân trầm cảm có ý nghĩ tự tử và có đến 15% tự tử. Khoảng 50-75% bệnh nhân trầm cảm có mức độ suy giảm nhận thức, 84% bệnh nhân không thể tập trung, 67% bệnh nhân giảm khả năng suy nghĩ [2].

3.5. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu

Hiện nay hai hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn tâm thần dành cho bác sĩ lâm sàng đánh giá phổ biến trên thế giới là Sổ tay Phân loại bệnh tật quốc tế, bản thứ 11 (ICD – 11) vào năm 2019, hệ thống này được dùng nhiều trong thực hành lâm sàng và Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần, bản thứ 5, đã sửa đổi (DSM – 5 – TR) vào năm 2022 của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, hệ thống chẩn đoán của DSM – 5 – TR được sử dụng nhiều trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM – 5 – TR. Theo DSM – 5 – TR, một bệnh nhân được chẩn đoán là mắc RLTCCY khi thỏa các tiêu chí sau [7]:

A. Năm (hoặc hơn) các triệu chứng dưới đây, hiện diện trong suốt một khoảng thời gian 2 tuần và gây nên sự thay đổi so với chức năng trước đây. Ít nhất 1 trong số các triệu chứng phải bao gồm: (1) khí sắc trầm cảm và (2) mất quan tâm hoặc hứng thú.

Ghi chú: Không liệt kê các triệu chứng mà đã rõ ràng quy cho một bệnh lý y khoa khác.

(1) Khí sắc trầm cảm hầu như cả ngày và gần như mỗi ngày, do chính bệnh nhân kể lại (Ví dụ: cảm thấy buồn, trống rỗng, vô vọng…) hoặc được quan sát bởi người khác (Ví dụ: dễ khóc) (Lưu ý: ở trẻ em và trẻ vị thành niên, có thể là khí sắc dễ bực tức).

(2) Giảm quan tâm hứng thú rõ rệt ở tất cả, hoặc hầu như tất cả, các hoạt động hầu như cả ngày và gần như mỗi ngày (được bệnh nhân kể lại hoặc được quan sát thấy bởi người khác).

(3) Sụt cân rõ rệt khi không ăn kiêng hoặc tăng cân (Vd: thay đổi 5% cân nặng hoặc hơn trong 1 tháng) hoặc giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng gần như mỗi ngày (Lưu ý: ở trẻ em, có thể không tăng cân ở mức bình thường).

(4) Mất ngủ hoặc ngủ nhiều, xảy ra hầu như hàng ngày.

(5) Kích động hoặc chậm chạp tâm thần – vận động hầu như hàng ngày (có thể quan sát thấy được bởi những người xung quanh, không phải hạn chế ở những cảm giác chủ quan thấy bồn chồn hoặc buồn bã trong lòng).

(6) Mệt mỏi hoặc mất sinh lực hầu như hàng ngày.

(7) Cảm giác thấy mình vô dụng, không có giá trị hoặc tự thấy tội lỗi quá đáng hoặc quá mức một cách không phù hợp (có thể là hoang tưởng) hầu như hàng ngày (không phải chỉ đơn thuần là ân hận, tự trách mình hoặc tự cảm thấy bản thân có lỗi khi mắc bệnh).

(8) Do dự, giảm năng lực tập trung và suy nghĩ, hầu như hàng ngày (có thể do chính bệnh nhân kể lại hoặc do người chung quanh thấy được).

(9) Ý nghĩ về cái chết tái diễn nhiều lần (nhưng không chỉ đơn thuần là bệnh nhân sợ chết), ý tưởng tự tử tái diễn nhiều lần nhưng không có kế hoạch cụ thể nào, hoặc có toan tính tự tử, hoặc có kế hoạch cụ thể để thực hiện việc tự tử.

B. Các triệu chứng gây nên sự đau khổ rõ rệt về mặt lâm sàng hoặc làm suy giảm các chức năng về mặt xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác.

C. Giai đoạn này không gây ra bởi tác động sinh lý của một chất hoặc của một bệnh lý y khoa khác.

Ghi chú: Các tiêu chuẩn A – C đại diện cho 1 giai đoạn trầm cảm chủ yếu.

Ghi chú: Các đáp ứng đối với một mất mát to lớn (mất người thân, phá sản, tổn thất do thiên tai, bệnh nặng hoặc tàn tật) có thể bao gồm cảm giác buồn rầu, sự nghiền ngẫm về mất mát, mất ngủ, ăn kém ngon và sụt cân như trong tiêu chuẩn A, có thể giống với một giai đoạn trầm cảm. Mặc dù những triệu chứng này có thể hiểu được hoặc được coi là phù hợp với sự mất mát, nhưng sự hiện diện của một giai đoạn trầm cảm chủ yếu bên cạnh những đáp ứng bình thường với mất mát nên được xem xét cẩn trọng. Quyết định này bắt buộc đòi hỏi thực hiện việc đánh giá về mặt lâm sàng dựa trên tiền sử cá nhân cũng như các chuẩn mực văn hóa về sự biểu hiện đau khổ trong bối cảnh mất mát.

D. Giai đoạn trầm cảm chủ yếu này không được giải thích tốt hơn bởi rối loạn cảm xúc phân liệt, tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt, rối loạn hoang tưởng hoặc phổ tâm thần phân liệt chuyên biệt hoặc không chuyên biệt, và các rối loạn tâm thần khác.

E. Chưa từng có giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ.

Ghi chú: Sự loại trừ này không được áp dụng nếu giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ gây ra do tác dụng của một chất hoặc do tác động sinh lý của một bệnh lý y khoa khác.

3.6. Thang đo trầm cảm

Có nhiều thang đo được sử dụng trong đánh giá rối loạn trầm cảm chủ yếu bao gồm thang đo do bác sĩ đánh giá (HAM – D) và thang đo do bệnh nhân đánh giá (PHQ – 9, QIDS – SR) [10]. Một đặc điểm quan trọng của thang đo là độ nhạy thay đổi theo thời gian. Hay nói cách khác, điểm số của thang đo sẽ tăng hoặc giảm, phản ánh tình trạng trầm cảm nặng lên hay cải thiện với các liệu pháp điều trị. Chính vì thế, thang đo được ứng dụng trong chẩn đoán ban đầu, đánh giá mức độ nặng, đánh giá hiệu quả điều trị [11].

Đối với nhóm NCT, một số thang đo được thiết kế chuyên biệt để phù hợp với đặc thù tâm lý và sinh lý, giúp giảm thiểu nhầm lẫn với các triệu chứng lão hóa hoặc bệnh lý đồng mắc. Nổi bật là thang GDS phiên bản 30 hoặc 15 mục, được phát triển bởi Yesavage và cộng sự năm 1982, với độ nhạy 84-92% và độ đặc hiệu 62-89% ở NCT, tập trung vào các triệu chứng cảm xúc mà tránh các dấu hiệu somatic thường bị che lấp bởi bệnh lý thể chất [12,13]. GDS dễ sử dụng, không yêu cầu đào tạo chuyên sâu và đã được chứng minh hiệu quả trong các nghiên cứu cộng đồng và lâm sàng tại Việt Nam như nghiên cứu của Nguyễn Minh Tú và cộng sự [14]. Ngoài ra, thang đo CSDD dành cho NCT có sa sút trí tuệ, kết hợp quan sát và phỏng vấn, với độ tin cậy cao [13]. Những thang đo này giúp phát hiện sớm trầm cảm ở NCT, nơi tỉ lệ bỏ sót cao do kỳ thị hoặc triệu chứng không điển hình [15].

HAM – D là thang đo chuẩn trong lâm sàng tuy nhiên cần đến 15-30 phút thời gian của bác sĩ lâm sàng do đó không khả thi trong nhiều cơ sở thực hành. Bên cạnh đó, thang HAM – D cũng khá phức tạp và bác sĩ lâm sàng phải được đào tạo. Thang tự đánh giá trầm cảm BECK gồm 21 mục và Zung gồm 20 mục có thể được sử dụng nhưng độ nhạy thấp hơn HAM – D. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn sử dụng thang đo PHQ – 9 do Spitzer, Williams và Kroenke phát triển năm 1999, dựa trên 9 tiêu chí DSM-IV với độ nhạy và độ đặc hiệu lên tới 88% khi điểm cắt lớn hơn 10 [11,16]. Thang đo trầm cảm PHQ – 9 có độ dài bằng một nửa so với các thang đo trầm cảm khác, độ nhạy, độ đặc hiệu tương đương, bao gồm 9 tiêu chí, dao động từ 0 đến 27 điểm, mỗi mục trong chín mục được tính từ 0 (không chút nào), 1 (vài ngày), 2 (hơn một nửa số ngày) đến 3 (gần như mọi ngày). Một mục được thêm vào cuối cùng của thang đánh giá là hỏi bệnh nhân đã đánh dấu bất kì vấn đề nào trong bảng câu hỏi đánh giá là “Những vấn đề này đã gây khó khăn cho bạn như thế nào trong công việc ở nhà và trong mối quan hệ với người khác” [11,16]. Tổng số điểm PHQ – 9 cho biết mức độ nặng nhẹ của trầm cảm giúp gợi ý hướng xử trí phù hợp [10]. Trong nghiên cứu này, thang PHQ – 9 được sử dụng để sàng lọc RLTCCY ở NCT với điểm cắt là 5 nhằm tối ưu hóa khả năng phát hiện sớm các trường hợp trầm cảm, đặc biệt ở mức độ nhẹ [11].

IV. KẾT LUẬN

Rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi là một vấn đề sức khỏe tâm thần quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến chức năng hoạt động, chất lượng cuộc sống và nguy cơ tử vong của người bệnh. Do đặc điểm lâm sàng ở nhóm tuổi này thường không điển hình và dễ bị che lấp bởi các bệnh lý cơ thể kèm theo, việc nhận diện và chẩn đoán trầm cảm vẫn còn nhiều thách thức trong thực hành lâm sàng. Việc tiếp cận chẩn đoán cần dựa trên sự kết hợp giữa đánh giá lâm sàng toàn diện, áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán và sử dụng các thang đo sàng lọc phù hợp. Phát hiện sớm và đánh giá đúng mức độ trầm cảm sẽ giúp định hướng các can thiệp điều trị kịp thời, bao gồm điều trị bằng thuốc và các biện pháp tâm lý xã hội, từ đó góp phần cải thiện tiên lượng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. World Health Organization Website; [updated March 31, 2023; cited 2024 May 9]. Available from: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/depression.

2. Sadock BJ. Kaplan & Sadock’s synopsis of psychiatry. 12th ed. Philadelphia: Lippincott Williams & Wilkins; 2022. 3768 p.

3. World Health Organization. Ageing and health. [Internet]. Geneva: World Health Organization Website; [updated October 1, 2022; cited 2024 May 9]. Available from: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/ageing-and-health.

4. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở: Nhà xuất bản thống kê; 2019.

5. Tổng cục thống kê, UNFPA. Điều tra dân số và nhà ở giữa kì 2014: Cơ cấu tuổi, giới tính và một số vấn đề kinh tế xã hội ở Việt Nam: Nhà xuất bản Thông tấn; 2016.

6. World Health Organization. Depression. [Internet]. Geneva: World Health Organization Website; [cited 2024 May 11]. Available from: https://www.who.int/health-topics/depression#tab=tab_1.

7. Yen Phi HN, Quoc Tho T, Xuan Manh B, Anh Ngoc T, Minh Chau PT, Trung Nghia N, et al. Prevalence of depressive disorders in a primary care setting in Ho Chi Minh City, Vietnam: A cross-sectional epidemiological study. Int J Psychiatry Med. 2023 Mar;58(2):86-101. doi: 10.1177/00912174221141757.

8. American Psychiatric Association. Diagnostic and Statistical manual of mental disorders: DSM-5-TR. 5th text revision ed. Washington, DC: American Psychiatric Association Publishing; 2022. 1050 p.

9. Tartt AN, Mariani MB, Hen R, Mann JJ, Boldrini M. Dysregulation of adult hippocampal neuroplasticity in major depression: pathogenesis and therapeutic implications. Molecular psychiatry. 2022;27(6):2689-99. doi: 10.1038/s41380-022-01520-y.

10. Lam RW, McIntosh D, Wang J, Enns MW, Kolivakis T, Michalak EE, et al. Canadian Network for Mood and Anxiety Treatments (CANMAT) 2016 clinical guidelines for the management of adults with major depressive disorder: section 1. Disease burden and principles of care. The Canadian Journal of Psychiatry. 2016;61(9):510-23.

11. Kroenke K, Spitzer RL, Williams JB. The PHQ‐9: validity of a brief depression severity measure. Journal of general internal medicine. 2001;16(9):606-13. doi: 10.1046/j.1525-1497.2001.016009606.x.

12. Cheung ESL, Mui AC. Gender Variation and Late-life Depression: Findings from a National Survey in the USA. Ageing International. 2023;48(1):263-80. doi: 10.1007/s12126-021-09471-5.

13. Chew-Graham C, Ray M. Mental Health and Older People: A Guide for Primary Care Practitioners. Switzerland: Springer Nature; 2016. 364 p.

14. Nguyễn Minh Tú, Nguyễn Thị Mai, Trần Thị Hoa, Nguyễn Võ Trà Mi, Trần Thị Quỳnh Tâm, Lê Thị Lan và cộng sự. Nghiên cứu tỷ lệ trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại một số xã, phường tỉnh Thừa Thiên Huế. Journal of Medicine and Pharmacy. 2021;11(2):60-9. doi: 10.34071/jmp.2021.2.9.rs. Switzerland: Springer Nature; 2016. 364 p.

15. Mulat N, Gutema H, Wassie GT. Prevalence of depression and associated factors among elderly people in Womberma District, north-west, Ethiopia. BMC psychiatry. 2021;21:1-9. doi: 10.1186/s12888-021-03145-x.

16. Nguyễn Trung Nghĩa. Giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng việt trên đối tượng sinh viên y khoa [Luận án Thạc sĩ Y học]: Đại học Y dược TP.HCM.

BS.CKII Thạch Cao Nhân* – ThS.BS Nguyễn Hồng Phượng* – ThS.BS Hồ Y Băng*
*Trường Y Dược, Đại học Trà Vinh

Cùng chuyên mục

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Quá trình hình thành và phát triển của Hội Đông y Việt Nam và Hội Nam y Việt nam qua các thời kỳ lịch sử

Bài viết phân tích sử liệu làm rõ quá trình hình thành, địa vị pháp lý của Hội Đông y và Hội Nam y Việt Nam. Tác giả khẳng định vai trò bảo tồn tri thức y học cổ truyền của hai Hội, đồng thời đề xuất hoàn thiện hồ sơ lịch sử và tăng cường phối hợp hoạt động.
Sự hình thành và phát triển Nam y Việt Nam qua tư liệu lịch sử thời quân chủ

Sự hình thành và phát triển Nam y Việt Nam qua tư liệu lịch sử thời quân chủ

TÓM TẮT - Bài viết khảo cứu sự hình thành và phát triển Nam y Việt Nam thời quân chủ bằng phương pháp tổng quan lịch sử và phê bình tư liệu. Nguồn gồm truyện ký, chính sử, luật pháp, y thư và công bố về tài liệu lưu trữ. Kết quả cho thấy kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe được ghi chép, hệ thống hóa qua nhiều thế hệ; hoạt động tuyển chọn thầy thuốc và quy định hành nghề thể hiện sự tham gia của nhà nước. Trước thời Pháp thuộc, y học truyền thống giữ vai trò chủ đạo; Tây y từng có những tiếp xúc sớm, sau đó được tổ chức thành hệ thống thời thuộc địa. Bài viết phân biệt giá trị chứng cứ giữa các nhóm nguồn, đề xuất bảo tồn Nam y gắn với khảo chứng văn bản và đánh giá khoa học.
Từ Di Sản Tri Thức Sống Đến Đối Tượng Chính Sách: Thuốc Nam Trong Lịch Sử Y Dược Việt Nam

Từ Di Sản Tri Thức Sống Đến Đối Tượng Chính Sách: Thuốc Nam Trong Lịch Sử Y Dược Việt Nam

TÓM TẮT - Thuốc Nam là một bộ phận của di sản tri thức y dược được hình thành và lưu truyền trong đời sống cộng đồng Việt Nam. Nghiên cứu khảo cứu lịch sử Thuốc Nam và phân tích tiến trình hình thành, phát triển các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước liên quan đến y học dân tộc/y học cổ truyền ở Việt Nam. Kết quả cho thấy các định hướng qua nhiều giai đoạn có thể được khái quát theo trục kế thừa, bảo tồn, phát huy và phát triển toàn diện: từ tri thức, nghiên cứu, đào tạo và hành nghề đến tổ chức hệ thống y tế, phát triển dược liệu, thuốc và sản phẩm, cũng như nâng cao giá trị và đóng góp của y học cổ truyền đối với sức khỏe và kinh tế. Bài viết đặt vấn đề tiếp tục nhận diện vị trí cụ thể của Thuốc Nam trong khung chính sách rộng về y học cổ truyền.
Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

TÓM TẮT: Nghẹt mũi, chảy dịch mũi và đau tức vùng mặt là những triệu chứng thường gặp trong các bệnh lý đường hô hấp trên, trong đó có viêm mũi xoang. Những biểu hiện này có thể xuất hiện hoặc nặng lên trong các giai đoạn thời tiết thay đổi, đồng thời dễ bị nhầm lẫn với cảm lạnh và viêm mũi dị ứng. Việc nhận diện đúng triệu chứng, xác định khả năng mắc bệnh và lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe người bệnh.
Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Người cao tuổi mắc bệnh không lây nhiễm có nhu cầu chăm sóc mắt đồng thời với quản lý bệnh nền. Bài viết tổng quan chọn lọc bằng chứng nhãn khoa và phân tích chính sách y tế Việt Nam đến tháng 10 năm 2026. Nội dung tập trung vào đục thủy tinh thể, bệnh võng mạc đái tháo đường và tổn thương mạch máu võng mạc. Đối chiếu với Nghị quyết 20, Chỉ thị 25, Nghị quyết 72 và hướng dẫn của Bộ Y tế cho thấy cơ sở để lồng ghép chăm sóc mắt vào quản lý bệnh mạn tính. Bài viết đề xuất quy trình nhận diện nguy cơ, sàng lọc, chuyển khám, điều trị và theo dõi tại cộng đồng. Mô hình cần được thí điểm, đánh giá về khả năng tiếp cận, hoàn thành chuyển khám và kết quả thị giác; chưa có dữ liệu thực nghiệm chứng minh hiệu quả.
Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Tóm tắt - Bệnh Parkinson gây rối loạn vận động và nhiều triệu chứng ngoài vận động, đòi hỏi chăm sóc phối hợp. Chuyên khảo tổng hợp có chọn lọc các nghiên cứu về châm cứu, nhĩ châm và kích thích thần kinh qua da ở tai, cập nhật đến tháng 10 năm 2026. Một số thử nghiệm đối chứng ghi nhận châm cứu cải thiện giấc ngủ, lo âu, táo bón và chức năng vận động khi bổ sung vào điều trị thuốc. Tuy nhiên, kết quả không đồng nhất; bằng chứng trực tiếp về nhĩ châm còn hạn chế. Dữ liệu hình ảnh não, nội tiết và yếu tố dinh dưỡng thần kinh gợi ý cơ chế điều biến thần kinh nhưng chưa chứng minh tác dụng làm chậm bệnh. Việc ứng dụng cần xác định mục tiêu triệu chứng, chuẩn hóa đánh giá, bảo đảm an toàn và tiếp tục điều trị nền.

Các tin khác

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Tóm tắt - Bài viết phân tích di sản Hoàng Đôn Hòa và Hoạt nhân toát yếu theo cách tiếp cận liên ngành. Tư liệu gồm bản dịch năm 1980, thư mục bản Hán Nôm A.2535 và nghiên cứu liên quan. Cần phân biệt nguyên tác gắn với Hoàng Đôn Hòa, bản tăng bổ của Trịnh Đôn Phác và dịch hiện đại. Tác phẩm là phương thư thực hành, chú trọng thuốc Nam, bệnh cấp, ngoại thương, phụ khoa, nhi khoa, thú y và dưỡng sinh. Tam hoàng hoàn và Thần ứng hoàn phản ánh tư duy bào chế thích ứng với dịch bệnh và hành quân, nhưng cần kiểm soát độc tính của hùng hoàng, hoàng nàn và chu sa. Di sản nên được bảo tồn bằng khảo cứu văn bản, số hóa, chuẩn hóa dược liệu, đánh giá an toàn và giáo dục y đức; không phục dựng nguyên xi toa thuốc cổ để tự điều trị.
Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

TÓM TẮT - Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhóm E có gánh nặng triệu chứng và nguy cơ đợt cấp cao. Cấy chỉ có thể tạo kích thích huyệt kéo dài, qua đó hỗ trợ điều hòa thần kinh tự chủ, đáp ứng viêm và khả năng gắng sức, nhưng bằng chứng lâm sàng còn cần được củng cố.
Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tía tô (Perilla frutescens) và gừng tươi (Zingiber officinale) là hai dược liệu được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á để phòng và hỗ trợ điều trị các chứng ngoại cảm phong hàn, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn và một số bệnh lý đường hô hấp. Trong cộng đồng hiện nay, nước lá tía tô phối hợp gừng được sử dụng rộng rãi như một loại đồ uống hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng còn mang tính kinh nghiệm, chưa được chuẩn hóa về chỉ định, thời điểm sử dụng và liều lượng dựa trên y học chứng cứ.
Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

TÓM TẮT
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

TÓM TẮT
Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Tóm tắt: Trước khi chúng ta có được thứ gọi là trí nhớ thì “nó” phải trải qua một quá trình hình thành tuần tự như sau: Khi chúng ta nhìn, nghe hoặc cảm nhận thấy một sự vật hoặc một hiện tượng nào đó, bộ não sẽ ghi nhớ những điều này và tự sắp xếp lại. Khi chúng ta lặp đi lặp lại những điều này, não bộ sẽ tự động chuyển những dữ liệu đã được sắp xếp đó từ trí nhớ tạm thời thành trí nhớ dài hạn.
Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

TÓM TẮT:
Xem thêm
Phiên bản di động