Nhu cầu đường công nghiệp Việt Nam thiếu hụt nghiêm trọng

Đường được xem là nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, sữa, kem, bánh kẹo, dược phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt đường công nghiệp cho sản xuất, gây ra những tác động tiêu cực đến cơ hội phát triển ngành thực phẩm quốc gia.

Tại Việt Nam, nguồn nguyên liệu mía đang rơi vào tình trạng báo động. Nhiều năm qua, các nhà máy đường trong nước chịu các tác động kép dịch bệnh COVID-19, sức ép từ đường lậu, vùng nguyên liệu mía cả nước đang có dấu hiệu suy giảm khi cây mía cạnh tranh với cây trồng khác.

Diện tích trồng mía đã liên tục giảm mạnh trong những năm qua, theo thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2021 diện tích trồng mía cả nước chỉ còn 165,9 nghìn ha, sản lượng chỉ còn 10,7 triệu tấn. so sánh 2021/2002 diện tích trồng mía giảm 48,2% và sản lượng mía giảm 37,3%. Các nhà máy cũng thu hẹp sản xuất, nhiều nhà máy đã sát nhập, giải thể từ 39 nhà máy dường năm 2011/2012 đã giảm chỉ còn 24 nhà máy 2021/2022. Số hộ trồng mía cũng giảm một nữa chỉ còn 126 nghìn hộ mùa vụ 2019/2020. Tỷ lệ đóng góp của ngành mía đường trong chỉ còn khoảng 1,5 % tổng giá trị sản xuất của ngành nông lâm thủy sản.

Sự suy giảm của diện tích trồng mía cùng với việc thu hẹp hoạt động sản xuất tại các nhà máy đã ảnh hưởng đến sản lượng đường mía trong nước, gây ra tình trạng thiếu hụt cung ứng, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến thực phẩm và đồ uống. Mặc dù chính sách nhập khẩu đường mía cũng được điều chỉnh linh hoạt, song vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước. Do đó, tình trạng nhập lậu đường mía vẫn còn phổ biến.

Nguồn cung đường trong nước

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công bố số liệu cho thấy diện tích trồng mía trong mùa vụ 2021-2022 là 146.938 hecta, giảm 3,9% so với mùa vụ 2020-2021 (152.891 ha). Trong khi đó, năng suất trung bình của mía đạt 64,6 tấn/ha, tăng 2,5% so với năm trước (63,0 tấn/ha). Tổng sản lượng mía trong mùa vụ 2021-2022 là 9.496.358 tấn, giảm 1,4% so với mùa vụ 2020-2021 (9.635.607 tấn).

Nguyên nhân chính của sự suy giảm này là do xu hướng chuyển đổi loại cây trồng trong những năm gần đây. Người dân đã chuyển sang trồng các loại cây khác như ngô, sắn, keo lai, và lúa vì chúng mang lại hiệu suất kinh tế cao hơn. Bên cạnh đó, nhiều nhà máy mía đường tại các vùng đã thu hẹp hoạt động sản xuất hoặc thậm chí giải thể, khiến việc tiêu thụ mía không còn bền vững. Điều này buộc người dân phải tìm đến các loại cây trồng khác để thay thế.

Theo số liệu của Hiệp hội mía đường Việt Nam (VASS), ước tính cả nước niên vụ 2022-2023 (tính từ tháng 12/2022 đến tháng 05/2023), tổng sản lượng mía đưa vào ép đạt 9.372,3 nghìn tấn, sản lượng đường sản xuất năm 2023 dự kiến đạt 915,8 nghìn tấn.

Nguồn cung đường trong nước còn đến từ nhập khẩu, Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, năm 2022 lượng đường nhập khẩu chính ngạch 1,23 triệu tấn, giá trị đạt 1,08 tỷ USD, giảm 5,4% về sản lượng và tăng 2,5% về giá trị so với năm 2021. Theo báo cáo của VASS, ngoài lượng đường nhập chính ngạch trong và ngoài hạn ngạch, còn một lớn đường lớn nhập lậu từ Campuchia và Lào trong năm 2022 là 816,53 nghìn tấn, tăng 37,64% so với năm 2021.

Nhu cầu đường công nghiệp Việt Nam thiếu hụt nghiêm trọng
Biến động diện tích và sản lượng mía đường năm 2000-2022. Theo Hiệp hội mía đường Việt Nam

Nhu cầu đường công nghiệp tại các nhà máy

Nhằm hiểu rõ hơn về nhu cầu đường công nghiệp, các số liệu trong bài lấy từ cuộc khảo sát 40 doanh nghiệp tiêu thụ đường quan trọng. Các doanh nghiệp này đều đứng trong hàng ngũ các doanh nghiệp hàng đầu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống và chế biến sữa-kem. Những doanh nghiệp này có quy mô lớn, trong đó số lượng doanh nghiệp có doanh thu từ 500 tỷ trở lên chiếm tỷ lệ 86,5%, còn số lượng doanh nghiệp có doanh thu vượt qua mốc 1000 tỷ đạt 51,4%.

Các doanh nghiệp này tiêu thụ lượng đường rất lớn. Số liệu khảo sát cho thấy 40 doanh nghiệp tiêu thụ 323,54 nghìn tấn, trong đó 75,6% (tương đương 244,71 nghìn tấn) là đường RE, 23,9% là đường RS và các loại đường khác chỉ chiếm 0,5%. Tổng số đường sử dụng của các DN này chiếm khoảng 21% đường công nghiệp.

Trong những năm qua, nhu cầu đường của các doanh nghiệp này ngày càng tăng lên mặc dù mức cung trong nước lại giảm xuống. Số liêu khảo sát của nhóm nghiên cứu cho thấy, năm 2023 nhu cầu đường các doanh nghiệp này sẽ tăng lên khoảng 60 nhìn tấn so với năm 2022 và đạt khoảng 382,66 nghìn tấn, trong đó đường RE chiếm 77,5% (tương đương 296,68 nghìn tấn). Nếu phân theo nhóm ngành, đối với đường RE thì các doanh nghiệp nhóm ngành nước giải khát tiêu thụ đường lớn nhất chiếm 70% (171,2 nghìn tấn), đối với đường RS nhóm ngành thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 65% (59,2 nghìn tấn).

Nhu cầu đường công nghiệp Việt Nam thiếu hụt nghiêm trọng
Nhu cầu tiêu thụ đường của doanh nghiệp của các DN khảo sát. Nguồn: Khảo sát doanh nghiệp 2023

Nguồn cung cấp đường của các doanh nghiệp được khảo sát chủ yếu đến từ các nhà máy đường trong nước, đường nhập khẩu và của các công ty thứ 3 trong nước cung cấp. Đối với đường RE, 76,5% số doanh nghiệp được khảo sát mua từ các nhà máy trong nước chỉ có 2,03% tự nhập khẩu đường, số còn lại do bên thứ 3 cung cấp. Đối với đường RS, 34,75% các DN cho biết biết là mua từ các nhà máy đường trường nước, số còn lại từ nguồn nhập khẩu.

Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường ngành chế biến, giải khát. Các doanh nghiệp cho biết, nhu cầu tiêu dùng đường công nghiệp của các doanh nghiệp được sự báo sẽ tăng lên trong những năm tới. Số liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu cho thấy, trong 5 năm tới, 98% các doanh nghiệp đều dự kiến sẽ tăng nhu cầu tiêu dùng, khối lượng các doanh nghiệp cần thêm khoảng 128,14 nghìn tấn trong 5 năm tới, tức tăng thêm 40% so với nhu cầu tiêu dùng của năm 2022 và tăng thêm 33,4% so với năm 2023. Nguyên nhân tăng nhu cầu do 60% doanh nghiệp được hỏi dự kiến mở rộng quy mô, 20% phát triển thêm sản phẩm mới, 10% sẽ xây dựng thêm nhà máy 10%.

Theo số liệu khảo sát các nhà máy chế biến thực phẩm, đến năm 2028 dự kiến 40 doanh nghiệp này sẽ có nhu cầu tiêu thụ 510,8 nghìn tấn (tăng trên 50 % so với năm điều tra 2022), trong đó đường RE chiếm 81,1% (414,26 nghìn tấn), đường RS chiếm 18,6% (96,54 nghìn tấn). Đánh giá của các doanh nghiệp về khả năng cung cấp đường trong nước, có 65% doanh nghiệp khảo sát cho biết đường sản xuất trong nước không đủ cho nhu cầu sử dụng 40% đánh giá lượng đường nhập khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu của họ. Các doanh nghiệp cũng cho biết gặp một số khó khăn khi mua đường để chế biến thực phẩm trong đó khó khăn chính là giá đường biến động, phải dựa vào nguồn cung nhập khẩu, chất lượng đường chưa ổn định. Trước thực trạng nhu cầu tiêu dùng đường ngày càng tăng, nguy cơ thiếu nguồn cung trong nước, các doanh nghiệp được khảo sát cũng đưa ra rất nhiều các đề xuất. Trong đó, 70% cho rằng cần phải ổn định vùng trồng mía trong nước để tăng sản lượng, 30% cho rằng cần phải gỡ bỏ bảo hộ ngành đường để tăng năng lực cạnh tranh, 65% cho rằng cần phải tăng hạn ngạch nhập khẩu và xem xét lại thuế nhập khẩu, 30% cho rằng cần phải đánh tăng nhập khẩu chính ngạch với thuế ưu đãi để giảm nhập lậu từ đó ổn định giá đường trong nước.

Nhu cầu đường công nghiệp năm 2023

Theo báo cáo của Hiệp hội mía đường Tháng 8/2023, vụ mía 2022-2023 cả nước sản lượng lũy kế từ đầu vụ đã ép được 9,6 triệu tấn mía và sản xuất được 935 tấn đường các loại. So sánh với vụ ép mía 2021-2022 sản lượng mía ép đạt 128% và sản lượng đường đạt 125%. Tồn kho cuối kỳ năm 2022 là khoảng 395 ngàn tấn. Lượng đường nhập khẩu chính ngạch đến Tháng 7/2023 là 452 ngàn tấn. Như vậy lượng cung đường trong nước nếu tính cả số nhập khẩu đến Tháng 7/2023 là 1,76 triệu tấn.

Trong khi đó, lượng tiêu dùng đường trong nước ước tính khoảng 2,24 triệu tấn. Trong đó, dựa theo Điều tra mức sống dân cư, nhóm nghiên cứu ướ lượng tiêu dùng cho hộ gia đình là khoảng 429 ngàn tấn. Tiêu dùng cho công nghiệp chế biến thực phẩm đồ uống khoảng 1,8 triệu tấn. Ngoài ra, lượng đường xuất khẩu của cả năm theo ước tính của Hiệp hội mía đường là khoảng 147 ngàn tấn. Như vậy tổng cầu đường mía của cả nước năm 2023 (tính cả xuất khẩu) ước đạt khoảng 2,39 triệu tấn.

Như vậy, để bù đắp lượng đường thiếu hụt từ đây đến cuối năm thì Việt Nam cần nhập khẩu khoảng 625 ngàn tấn.

Nhu cầu đường công nghiệp Việt Nam thiếu hụt nghiêm trọng
Cung - cầu đường mía năm 2023 (tính theo số nhập khẩu tại thời điểm tháng 8 năm 2023). Nguồn: Tổng Cục Hải Quan

Giải pháp phát triển bền vững đối với ngành mía đường công nghiệp Việt Nam

Thực trạng nguồn cung – cầu đường trong nước đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt do sản xuất đường liên tục suy giảm. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đường công nghiệp ngành càng tăng. Việc thiếu hụt đường gần đây giúp giá mía và đường trong nước có xu hưởng ổn định, người nông dân trồng mía có giá bán tốt hơn nhưng nhu cầu tiêu thụ bị thiếu hụt.

Hạn ngạch ưu đãi nhập khẩu bị khống chế không đáp ứng được nhu cầu, thuế nhập khẩu đường chính ngạch ngoài hạn ngạch cao khiến gây khó khăn cho doanh nghiệp nhập khẩu khi giá đường thế giới tăng cao. Tình trạng này dẫn đến gia tăng nhập lậu đường qua nước như Lào, Campuchia với giá thấp hơn do không phải nộp thuế và cạnh tranh không lạnh mạnh với đường sản xuất trong nước và đường nhập chính ngạch. Điều này cho thấy để có thể đảm bảo nhu cầu tiêu thụ đường công nghiệp đồng thời ổn định giá đường tiêu thụ cho người tiêu dùng, hạn chế nhập lậu thì cần có chính sách linh hoạt trong chính sách thương mại đặc biệt là trong chính sách hạn ngạch đường nhập khẩu.

Trong ngắn hạn, cần có những điều chỉnh hợp lý tăng hạn ngạch nhập khẩu và tiếp tục thực hiện giải pháp phân giao hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thông qua đấu giá công khai minh bạch nhằm duy trì cân đối cung cầu bình ổn giá đường trong nước.

Bên cạnh đó, cần có nghiên cứu đánh giá tổng thể ngành mía đường để xây dựng các kịch bản xác định lượng hạn ngạch nhập khẩu tối ưu để đảm bảo cân đối cung cầu nhưng vẫn ổn định giá mía cho hộ nông dân, đánh giá và nghiên cứu chính sách hiệu quả hỗ trợ cho các hộ trồng mía, các nhà máy chế biến, đầu tư nghiên cứu giống mới có năng suất chất lượng cao giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đường Việt Nam. Nghiên cứu tiếp tục áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm đường nhập khẩu phù hợp với các cam kết quốc tế.

Ngoài ra, để bảo vệ sản xuất đường trong nước, cần tăng cường các giải pháp để phát hiện, bắt giữ, xử lý nghiêm hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép, gian lận thương mại mặt hàng đường, quản lý chặt hình thức nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu và xuất xứ nguồn gốc hàng hóa nhằm ổn định, phát triển lành mạnh thị trường đường trong nước.

ThS. Vũ Huy Phúc/Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp nông thôn
https://suckhoeviet.org.vn

Cùng chuyên mục

Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Ngưu bàng: Công dụng theo y học cổ truyền và các bài thuốc thường gặp

Trong kho tàng y học cổ truyền, ngưu bàng từ lâu đã được xem là một vị thuốc đa dụng. Không chỉ xuất hiện trong các bài thuốc dân gian, cây còn được ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe nhờ đặc tính thanh nhiệt, giải độc và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh thường gặp.
Những "vị thuốc thanh nhiệt" từ thiên nhiên theo y học cổ truyền

Những "vị thuốc thanh nhiệt" từ thiên nhiên theo y học cổ truyền

Vào những ngày thời tiết oi bức, cơ thể dễ rơi vào trạng thái “nóng trong” với các biểu hiện như nổi mụn, táo bón, miệng khô, mất ngủ. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân chủ yếu là do nhiệt tích tụ trong cơ thể, làm mất cân bằng âm - dương. Bên cạnh việc điều chỉnh sinh hoạt, chế độ ăn uống với các loại rau có tính mát được xem là giải pháp đơn giản, hiệu quả và an toàn.
Các phương thuốc tân lương giải biểu tiêu biểu trong y học cổ truyền và ứng dụng thực tiễn

Các phương thuốc tân lương giải biểu tiêu biểu trong y học cổ truyền và ứng dụng thực tiễn

(SKV) - Các phương thuốc tân lương giải biểu gồm các vị thuốc vị cay, tính mát như Tang diệp, Cát căn, Bạc hà… dùng để phát tán phong nhiệt. Các phương thuốc tân lương giải biểu có tác dụng phát tán phong nhiệt dùng để chữa các chứng bệnh gây ra do ngoại cảm phong nhiệt: Phát sốt, ra mồ hôi, đau đầu, đau người, sợ gió, sợ lạnh, miệng khát, họng đau, ho, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng, mạch phù sác.
Quế chi thang phương thuốc tiêu biểu trong nhóm tân ôn giải biểu của Y học cổ truyền

Quế chi thang phương thuốc tiêu biểu trong nhóm tân ôn giải biểu của Y học cổ truyền

(SKV) - Bài thuốc có tác dụng chủ yếu là phát tán phong hàn ở phần biểu, đồng thời điều hòa dinh – vệ, giúp cơ thể phục hồi trạng thái cân bằng. Khác với những phương thuốc phát hãn mạnh, Quế chi thang có tính phát hãn nhẹ, điều hòa, thường được sử dụng trong các trường hợp ngoại cảm phong hàn thể biểu hư – khi cơ thể đã suy yếu, xuất hiện triệu chứng sốt nhẹ, sợ gió, ra mồ hôi tự nhiên, đau đầu và mạch phù hoãn.
Đại Thanh Long Thang và những ứng dụng trong điều trị chứng ngoại cảm phong hàn

Đại Thanh Long Thang và những ứng dụng trong điều trị chứng ngoại cảm phong hàn

(SKV) - Đại thanh long thang là phương thuốc tiêu biểu thuộc nhóm tân ôn giải biểu trong Y học cổ truyền, được sử dụng để điều trị chứng ngoại cảm phong hàn kèm nội nhiệt. Bài viết nhằm phân tích thành phần, cơ chế tác dụng theo lý luận Đông y và đánh giá ứng dụng lâm sàng hiện nay. Kết quả cho thấy bài thuốc có tác dụng phát hãn giải biểu, thanh nhiệt, trừ phiền, phù hợp với các trường hợp cảm mạo phong hàn có biểu hiện không ra mồ hôi, sốt, phiền táo. Ngoài ra, bài thuốc còn được ứng dụng trong một số bệnh lý hiện đại như viêm cầu thận cấp và phù do dị ứng lạnh.
Ma Hoàng Thang: Phương tễ kinh điển và giá trị trong điều trị cảm mạo phong hàn

Ma Hoàng Thang: Phương tễ kinh điển và giá trị trong điều trị cảm mạo phong hàn

(SKV) - Trong hệ thống phương tễ của Y học cổ truyền, Ma hoàng thang là một trong những bài thuốc tiêu biểu, xuất hiện từ Thương hàn luận và được sử dụng rộng rãi qua nhiều thế kỷ. Không chỉ mang giá trị lịch sử, bài thuốc còn thể hiện rõ tư duy biện chứng luận trị, nguyên tắc cốt lõi của Y học phương Đông khi điều trị không dựa trên tên bệnh mà dựa vào bản chất cơ chế bệnh sinh.

Các tin khác

Phương tễ trong Y học cổ truyền: Cấu trúc lý luận, nguyên tắc vận dụng và giá trị trong thực hành lâm sàng hiện đại

Phương tễ trong Y học cổ truyền: Cấu trúc lý luận, nguyên tắc vận dụng và giá trị trong thực hành lâm sàng hiện đại

(SKV) - Trong hệ thống Y học cổ truyền (YHCT), phương tễ không chỉ là tập hợp các bài thuốc mà còn là biểu hiện tập trung của tư duy biện chứng luận trị, nền tảng cốt lõi chi phối toàn bộ hoạt động chẩn đoán và điều trị. Việc nghiên cứu phương tễ, do đó, không thể tách rời khỏi hệ thống lý luận “lý – pháp – phương – dược”, trong đó phương tễ đóng vai trò cầu nối giữa nhận thức bệnh lý và can thiệp điều trị cụ thể.
Tiểu thanh long thang: Phương thuốc tân ôn giải biểu tiêu biểu trong điều trị ho đờm do phong hàn

Tiểu thanh long thang: Phương thuốc tân ôn giải biểu tiêu biểu trong điều trị ho đờm do phong hàn

(SKV) - Tiểu thanh long thang là một phương thuốc kinh điển thuộc nhóm tân ôn giải biểu, có nguồn gốc từ y học cổ truyền phương Đông. Bài thuốc được sử dụng trong các trường hợp ngoại cảm phong hàn kèm theo nội ẩm, khi tà khí xâm nhập vào phần biểu nhưng đồng thời ảnh hưởng đến chức năng tuyên phát và túc giáng của phế.
Phương thuốc Tân ôn giải biểu “Cát căn thang” và ứng dụng

Phương thuốc Tân ôn giải biểu “Cát căn thang” và ứng dụng

(SKV) - Cát căn thang là một phương thuốc cổ phương tiêu biểu thuộc nhóm tân ôn giải biểu trong y học cổ truyền. Bài thuốc có nguồn gốc từ tác phẩm kinh điển Thương hàn luận, được sử dụng trong các trường hợp ngoại cảm phong hàn khi tà khí còn ở phần biểu nhưng đã ảnh hưởng đến cân cơ và kinh lạc.
Tọa đàm khoa học: Y học Cổ truyền- Khó khăn, Thách thức và Triển vọng phát triển trong thời đại hiện nay

Tọa đàm khoa học: Y học Cổ truyền- Khó khăn, Thách thức và Triển vọng phát triển trong thời đại hiện nay

(Hà Nội, ngày 23/03/2026) – Chiều ngày 23/3/2026, tại Hội trường Hải Thượng Lãn Ông – Học viện Y dược Cổ truyền Việt Nam, một diễn đàn khoa học quy mô lớn đã quy tụ những trí tuệ hàng đầu của ngành Y học cổ truyền (YHCT) để cùng thảo luận về con đường phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Tác dụng của muối theo y học cổ truyền

Tác dụng của muối theo y học cổ truyền

Muối là gia vị quen thuộc trong gian bếp. Trong y học cổ truyền, muối còn được xem là một loại “dược liệu” quan trọng, gắn liền với nhiều bài thuốc dân gian và phương pháp dưỡng sinh.
Khoai lang: Từ thực phẩm dân dã đến vị thuốc quý trong y học cổ truyền

Khoai lang: Từ thực phẩm dân dã đến vị thuốc quý trong y học cổ truyền

Khoai lang là minh chứng tiêu biểu cho triết lý “thuốc trong thức ăn” của y học cổ truyền. Với đặc tính lành tính, dễ sử dụng và giàu giá trị dinh dưỡng, khoai lang không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn góp phần phòng ngừa nhiều bệnh lý thường gặp.
Ẩm thực dưỡng sinh mùa xuân: Nuôi dưỡng cơ thể từ những món ăn thanh đạm

Ẩm thực dưỡng sinh mùa xuân: Nuôi dưỡng cơ thể từ những món ăn thanh đạm

Mùa xuân - thời điểm giao hòa của đất trời - không chỉ mang đến sức sống mới cho thiên nhiên mà còn ảnh hưởng đến cơ thể con người. Theo quan niệm của y học cổ truyền, đây là giai đoạn dương khí bắt đầu sinh trưởng, cơ thể cần được nuôi dưỡng đúng cách để thích nghi với sự thay đổi của thời tiết. Chính vì vậy, việc lựa chọn các món ăn dưỡng sinh phù hợp trong mùa xuân đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật.
[Infographic] 7 loại dược liệu giúp cải thiện giấc ngủ

[Infographic] 7 loại dược liệu giúp cải thiện giấc ngủ

Giấc ngủ đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần. Bên cạnh việc duy trì lối sống lành mạnh, một số loại dược liệu có thể hỗ trợ thư giãn thần kinh, giúp cơ thể dễ đi vào giấc ngủ hơn. Dưới đây là những dược liệu quen thuộc, được dùng trong các loại trà hoặc nước uống giúp cải thiện giấc ngủ.
Nước gạo rang - Thức uống “dưỡng vị” trong y học cổ truyền

Nước gạo rang - Thức uống “dưỡng vị” trong y học cổ truyền

Trong kho tàng ẩm thực và kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe của người Việt, nhiều thức uống giản dị lại mang giá trị dưỡng sinh đáng kể. Nước gạo rang là một ví dụ điển hình. Từ những hạt gạo quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày, khi được rang thơm và nấu thành nước, thức uống này không chỉ có hương vị dễ chịu mà còn được y học cổ truyền đánh giá là có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể.
Cây lá bỏng - “Tủ thuốc xanh” trong vườn nhà

Cây lá bỏng - “Tủ thuốc xanh” trong vườn nhà

Cây lá bỏng (còn gọi là sống đời) thường được trồng làm cảnh hoặc làm thuốc. Theo kinh nghiệm dân gian, loại cây này không chỉ dễ trồng mà còn có nhiều tác dụng như thanh nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ làm lành vết thương và giảm ho. Từ lâu, lá bỏng đã trở thành vị thuốc quen thuộc trong nhiều bài thuốc đơn giản, dễ áp dụng tại nhà.
Xem thêm
Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

Hành Trình "Về Nguồn": Lãnh Đạo Hội Nam Y Việt Nam Dâng Hương Tại Cụm Di Tích Y Thánh Tuệ Tĩnh

HẢI PHÒNG – Trong không khí trang nghiêm của những ngày lễ hội, đoàn đại biểu Hội Nam Y Việt Nam do Thầy thuốc Nhân dân. Giáo sư. Tiến sĩ Trương Việt Bình – Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn, đã có chuyến hành trình đầy ý nghĩa về với vùng đất địa linh nhân kiệt Cẩm Văn – Cẩm Vũ (Cẩm Giang, Hải Phòng). Đây là hoạt động thiết thực nhằm tri ân các bậc tiền nhân, đặc biệt là Đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh – vị Thánh thuốc Nam của dân tộc.
Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

Chi hội Nam Y tỉnh Thái Nguyên: Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

(Sức khỏe Việt) – Sáng ngày 26/03/2026, trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Bính Ngọ, Chi hội Nam y tỉnh Thái Nguyên đã trang trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Hội năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị đánh dấu bước phát triển vượt bậc của Chi hội với những thành tích xuất sắc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bảo tồn giá trị y học cổ truyền.
Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Thiền Năng lượng sinh học: Hành trình lan tỏa sức mạnh chữa lành từ tâm

Trong không khí ấm áp của những ngày đầu xuân, Chi hội Câu lạc bộ (CLB) Healing In Balance đã tổ chức buổi gặp mặt đầy ý nghĩa, tổng kết công tác hoạt động năm 2025, đánh dấu bước phát triển mới trong việc đưa bộ môn Thiền năng lượng sinh học đến gần hơn với cộng đồng Việt Nam.
Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Hội Nam Y Việt Nam Tổng kết Hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào Thi đua năm 2026: Khát vọng vươn tầm Y học Dân tộc

Ngày 21 tháng 3 năm 2026, tại Hà Nội, Hội Nam Y Việt Nam đã long trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2025 và Phát động phong trào thi đua năm 2026. Sự kiện là dịp nhìn lại những thành tựu trong việc gìn giữ tinh hoa y học dân tộc, đồng thời kích hoạt hành trình mới vì sức khỏe cộng đồng.
​Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: Pho sử sống của Y đức và Khát vọng tự chủ Y học dân tộc

​Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: Pho sử sống của Y đức và Khát vọng tự chủ Y học dân tộc

Trong tiết xuân của ngày rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ, ngành Y tế Việt Nam lại cùng hướng về Y Miếu (Hà Nội) và mảnh đất Liêu Xá (Hưng Yên) để tưởng niệm 235 năm ngày mất của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Sự kiện không chỉ là nghi thức tâm linh, mà còn là dịp để nhìn lại giá trị xuyên thời đại của một hệ thống tư tưởng y học đồ sộ.
Phiên bản di động