Clinical Features of Chronic Constipation Attributed to Colonic Inertia Based on the Rome IV Diagnostic Criteria

Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân táo bón mạn tính do đờ đại tràng theo tiêu chí ROME IV

Nghiên cứu nhằm xác định tần suất triệu chứng táo bón theo tiêu chí Rome IV ở nhóm bệnh nhân đờ đại tràng. Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 27 trường hợp cho thấy tất cả đều đáp ứng đầy đủ tiêu chí Rome IV. Các triệu chứng nổi bật bao gồm rặn nhiều khi đi cầu và đi cầu <3 lần/tuần với tỉ lệ lần lượt là 100%; 92,6% bệnh nhân đi cầu phân cứng vón cục.

Tóm tắt:

Nghiên cứu nhằm xác định tần suất triệu chứng táo bón theo tiêu chí Rome IV ở nhóm bệnh nhân đờ đại tràng. Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 27 trường hợp cho thấy tất cả đều đáp ứng đầy đủ tiêu chí Rome IV. Các triệu chứng nổi bật bao gồm rặn nhiều khi đi cầu và đi cầu <3 lần/tuần với tỉ lệ lần lượt là 100%; 92,6% bệnh nhân đi cầu phân cứng vón cục. Một số triệu chứng khác như phân mềm hiếm gặp (48,2%) và cần sự hỗ trợ khi đi cầu (25,9%) cũng được ghi nhận với tần suất đáng kể. Các dấu hiệu gợi ý tắc nghẽn vùng hậu môn ít phổ biến hơn, trong đó cảm giác đi cầu không hết phân chiếm 18,5% và cảm giác phân bị nghẹt tại hậu môn chiếm 11,1%. Thời gian mắc táo bón dao động từ 6 tháng đến 11 năm, với trung vị là 2 năm và trung bình là 4,8 ± 4,3 năm, cho thấy sự đa dạng về tiến triển bệnh. Kết quả góp phần làm rõ đặc điểm lâm sàng của táo bón mạn tính do đờ đại tràng và cung cấp cơ sở hỗ trợ cho quá trình chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn trong thực hành lâm sàng.

Từ khóa: Táo bón, triệu chứng, đại tràng.

DOI: https://doi.org/10.63472/sucv.06202511

Abstract:

A study was conducted to determine the frequency of constipation symptoms based on the Rome IV criteria among patients with colonic inertia. This retrospective case series design included 27 patients, all of whom fully met the Rome IV diagnostic criteria. The most prominent symptoms included excessive straining during defecation and having fewer than three bowel movements per week, reported in 100% and 92.6% of cases, respectively. Additionally, 92.6% of patients passed hard, lumpy stools. Other symptoms, such as infrequent passage of soft stools (48.2%) and the need for manual maneuvers to facilitate defecation (25.9%), were also recorded at notable rates. Signs suggestive of anorectal outlet obstruction were less common, with sensations of incomplete evacuation and anorectal blockage reported in 18.5% and 11.1% of patients, respectively. The duration of constipation ranged from 6 months to 11 years, with a median of 2 years and a mean duration of 4.8 ± 4.3 years, reflecting a wide variability in disease progression. These findings help clarify the clinical characteristics of chronic constipation due to colonic inertia and provide a foundation to support more accurate diagnosis and effective treatment in clinical practice.

Key word: Constipation, Symptoms, Colon.

Ngày nhận bài: 7.5.2025;

Ngày phản biện khoa học: 9.5.2025;

Ngày duyệt bài: 21.5.2025.

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 5+6/2025

ĐẶT VẤN ĐỀ

Táo bón mạn tính là một vấn đề sức khỏe đáng lưu tâm trong lĩnh vực tiêu hóa, ảnh hưởng đến khoảng 15% dân số toàn cầu và đặc biệt phổ biến ở người cao tuổi, với tỉ lệ lên tới 33,5% ở nhóm ≥60 tuổi.¹ Tình trạng này không chỉ tác động tiêu cực đến thể chất và tinh thần người bệnh mà còn gây áp lực lớn cho hệ thống y tế.

Trong số các thể bệnh nguyên phát, táo bón do đờ đại tràng – một rối loạn vận động ruột với đặc điểm phân di chuyển chậm – được đánh giá là dạng nặng và khó kiểm soát nhất, chiếm từ 13–37% các trường hợp.²˒³ Phẫu thuật thường được chỉ định khi các biện pháp như thay đổi chế độ ăn, sử dụng chất xơ hay thuốc nhuận tràng không mang lại hiệu quả.

Một phân tích gộp toàn cầu từ 45 nghiên cứu trên 275.260 người trưởng thành xác định tỉ lệ táo bón chức năng là 15,3% (95% CI: 8,1–24,4%).⁴ Phụ nữ có nguy cơ mắc cao gần gấp đôi nam giới, và tỉ lệ này tăng theo tuổi và ở nhóm thu nhập thấp.⁵–⁷ Các thống kê gần đây sử dụng tiêu chí Rome IV chỉ ra rằng khoảng 9% dân số mắc táo bón mạn tính, trong đó 6% là táo bón chức năng và 3% còn lại bao gồm hội chứng ruột kích thích thể táo bón và táo bón do opioid.⁸ Riêng táo bón do đờ đại tràng chiếm tỉ lệ nhỏ, khoảng 3%. Về mặt kinh tế, theo Sahbi và cộng sự,⁹ chi phí y tế liên quan đến chẩn đoán và điều trị táo bón là rất đáng kể, ước tính gần 7 tỷ USD mỗi năm.

Tại Việt Nam, táo bón mạn tính cũng là một gánh nặng kinh tế, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Theo khảo sát của Vietnam Health Monitor, gần 29% người trưởng thành từng trải qua táo bón trong 12 tháng qua.¹⁰ Dữ liệu từ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cho thấy trong giai đoạn 2017–2022, có 6% bệnh nhân được chẩn đoán đờ đại tràng, trong đó 2% kèm theo tắc nghẽn ngõ ra. Tuy nhiên, việc chẩn đoán loại bệnh này thường gặp khó khăn do các triệu chứng không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn chức năng đại tràng khác. Trong bối cảnh đó, bộ tiêu chí Rome IV¹¹ đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa quy trình phân loại táo bón mạn tính, dù mức độ ứng dụng tại Việt Nam còn hạn chế.

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực hành lâm sàng, nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân táo bón mạn tính do đờ đại tràng theo tiêu chí Rome IV” được thực hiện với mục tiêu cung cấp thêm dữ liệu thực tiễn, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định tần suất triệu chứng táo bón theo Rome IV ở nhóm bệnh nhân đờ đại tràng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • Tiêu chuẩn chọn vào: Tất cả bệnh nhân có chẩn đoán xuất viện là đờ đại tràng và được điều trị phẫu thuật cắt đoạn đại tràng tại Khoa Hậu môn – Trực tràng, Bệnh viện Đại học Y Dược.

  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn nhưng không có đủ thông tin để đánh giá triệu chứng táo bón theo Rome IV và không thể liên lạc được.

  • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu loạt ca, lấy mẫu thuận tiện.

  • Đánh giá lâm sàng theo tiêu chí Rome IV:

    1. Có ≥2 tiêu chí sau:

      • Rặn >1/4 số lần đi cầu (Rome 1)

      • Phân cục lổn nhổn >1/4 số lần đi cầu (Rome 2)

      • Cảm giác không hết phân >1/4 số lần đi cầu (Rome 3)

      • Cảm giác phân tắc nghẽn ở hậu môn >1/4 số lần đi cầu (Rome 4)

      • Cần trợ giúp (dùng tay móc phân/thụt tháo) >1/4 số lần đi cầu (Rome 5)

      • Đi cầu <3 lần/tuần (Rome 6)

    2. Không đủ tiêu chuẩn hội chứng ruột kích thích (phân mềm hiếm có) (Rome 7).

    3. Triệu chứng kéo dài ≥3 tháng, khởi phát ≥6 tháng trước chẩn đoán và không có bệnh lý thực thể đường tiêu hóa.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Tần suất triệu chứng táo bón theo Rome IV

Khảo sát 27 bệnh nhân táo bón mạn tính do đờ đại tràng được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 01/2019 đến tháng 8/2024 ghi nhận tất cả đều đáp ứng đầy đủ tiêu chí Rome IV.

Biểu đồ 3.1. Phân bố tần suất triệu chứng theo Rome IV

Các triệu chứng như rặn nhiều khi đi cầu, phân cứng và đi cầu ít hơn 3 lần/tuần có tần suất cao nhất với tỉ lệ lần lượt là 100%, 92,6% và 100%. Các triệu chứng như phân mềm hiếm có (48,2%) và cần hỗ trợ khi đi cầu (25,9%) cũng khá phổ biến. Các triệu chứng như cảm giác đi cầu không hết phân và cảm giác phân bị tắc nghẽn ở hậu môn ít gặp hơn với tỉ lệ tương ứng là 18,5% và 11,1%.

Bảng 3.1. Tần suất triệu chứng táo bón theo Rome IV so với các nghiên cứu khác

Nghiên cứu

Rome 1

Rome 2

Rome 3

Rome 4

Rome 5

Rome 6

Rome 7

Chúng tôi (n=27)

100

92,6

18,5

11,1

25,9

100

48,2

Chaichanavichkij (2021) (n=594)

88,7

41,1

93,3

82,2

44,3

69,5

Tsimogiannis (2019) (n=17)

52,9

100

64,7

100

Pinedo (2009) (n=20)

90

75

100

90

Lundin (2002) (n=25)

76

48

60

100

Pikarsky (2001) (n=50)

100

46

100

Khi so sánh với các nghiên cứu khác (Bảng 3.1), các triệu chứng như rặn nhiều, phân cứng, cần trợ giúp và đi cầu <3 lần/tuần chiếm tỉ lệ cao (dao động từ 41–100%), tương đồng với kết quả của chúng tôi. Tuy nhiên, các triệu chứng đặc trưng cho tắc nghẽn ngõ ra như cảm giác đi cầu không hết phân và cảm giác tắc nghẽn phân ở hậu môn trong nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ thấp hơn đáng kể (11,1%–18,5%) so với nghiên cứu của Chaichanavichkij (2021) (82,2%–93,3%). Sự khác biệt này có thể do nghiên cứu của Chaichanavichkij phân tích trên mẫu lớn (1.568 trường hợp) bao gồm tất cả bệnh nhân táo bón mạn tính, trong đó chỉ 1,7% là đờ đại tràng có chỉ định phẫu thuật. Ngược lại, nghiên cứu của chúng tôi đặc hiệu với nhóm bệnh nhân đờ đại tràng có chỉ định phẫu thuật, do đó phản ánh đặc điểm riêng biệt của thể bệnh này. Một số nghiên cứu khác cũng không ghi nhận triệu chứng tắc nghẽn ngõ ra do đã loại trừ các trường hợp này.¹³˒¹⁵˒¹⁶

Mặc dù các triệu chứng tắc nghẽn khi đi cầu như cảm giác đi không hết phân hay phân tắc nghẽn ở hậu môn có tỉ lệ thấp, nhưng vẫn cần được lưu ý trong thực hành lâm sàng nhằm phân biệt táo bón do đờ đại tràng với táo bón do tắc nghẽn ngõ ra, từ đó định hướng lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp.

3.2. Thời gian táo bón

Bảng 3.2. Thời gian táo bón so với các nghiên cứu khác

Tác giả

Thời gian TB (năm)

Min – Max

Beck (1989)¹⁷

21

Không cung cấp

Sample (2005)¹⁸

4,5

Không cung cấp

Iannelli (2007)³

10

Không cung cấp

Jiang (2008)¹⁹

13

5 – 38

Wang (2013)²⁰

12,8 ± 8,8

Không cung cấp

Xie (2019)²¹

13

5 – 38

Geng (2024)²²

13,4 ± 10,4

9 – 43

Chúng tôi

4,8 ± 4,3

0,5 – 11

Kết quả phân tích của chúng tôi cho thấy thời gian táo bón ở bệnh nhân đờ đại tràng có sự dao động lớn, với trung vị là 2 năm và trung bình là 4,8 ± 4,3 năm (từ 6 tháng đến 11 năm). Điều này phản ánh sự đa dạng về thời gian mắc bệnh giữa các bệnh nhân, tuy nhiên phần lớn rơi vào mức trung bình thấp so với các nghiên cứu trước đó (Bảng 3.2). Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Sample (2005)¹⁸, với thời gian táo bón trung bình là 4,5 năm. Trong khi đó, các nghiên cứu khác như của Iannelli (2007)³, Jiang (2008)¹⁹, Wang (2013)²⁰, Xie (2019)²¹ và Geng (2024)²² đều ghi nhận thời gian táo bón trung bình kéo dài từ 10 đến 13,4 năm, cao hơn đáng kể. Riêng nghiên cứu của Beck (1989)¹⁷ ghi nhận thời gian táo bón trung bình cao nhất là 21 năm, cho thấy tồn tại một nhóm bệnh nhân có tình trạng táo bón kéo dài mạn tính. Sự khác biệt này có thể phản ánh thời điểm chẩn đoán không đồng nhất giữa các nghiên cứu, cũng như tiêu chuẩn chọn bệnh nhân khác nhau đối với nhóm đờ đại tràng.

KẾT LUẬN

Khảo sát trên 27 bệnh nhân đờ đại tràng điều trị bằng phẫu thuật và được đánh giá lâm sàng theo tiêu chuẩn Rome IV ghi nhận các triệu chứng phổ biến nhất gồm rặn khi đi cầu, phân cứng và đi cầu dưới ba lần mỗi tuần với tỉ lệ từ 92,6–100%. Triệu chứng cần hỗ trợ khi đi cầu và hiếm khi đi phân mềm xuất hiện với tỉ lệ đáng kể từ 25,9–48,2%, trong khi các dấu hiệu gợi ý tắc nghẽn ngõ ra ít phổ biến hơn (11,1–18,5%) nhưng vẫn cần chú ý do liên quan đến biểu hiện tắc nghẽn kèm theo trong đờ đại tràng.

Thời gian mắc táo bón ở nhóm bệnh nhân này dao động từ 6 tháng đến 11 năm, với trung vị là 2 năm và trung bình 4,8 ± 4,3 năm.

Những kết quả này góp phần làm rõ đặc điểm lâm sàng của táo bón do đờ đại tràng, từ đó cung cấp cơ sở hỗ trợ cho việc chẩn đoán và điều trị chính xác hơn trong thực hành lâm sàng.

Tài liệu tham khảo

1. Everhart JE, Ruhl CE. Burden of digestive diseases in the United States part II: lower gastrointestinal diseases. Gastroenterology. Mar 2009;136(3):741-54. doi:10.1053/j.gastro.2009.01.015

2. Soares ASGF, Barbosa LER. Colonic Inertia: approach and treatment. Journal of Coloproctology. 2021;37(01):063-071. doi:10.1016/j.jcol.2016.05.006

3. Iannelli A, Piche T, Dainese R, et al. Long-term results of subtotal colectomy with cecorectal anastomosis for isolated colonic inertia. World J Gastroenterol. May 14 2007;13(18):2590-5. doi:10.3748/wjg.v13.i18.2590

4. Barberio B, Judge C, Savarino EV, et al. Global prevalence of functional constipation according to the Rome criteria: a systematic review and meta-analysis. The lancet Gastroenterology & hepatology. Aug 2021;6(8):638-648. doi:10.1016/s2468-1253(21)00111-4

5. Camilleri M, Ford AC, Mawe GM, et al. Chronic constipation. Nat Rev Dis Primers. Dec 14 2017;3:17095. doi:10.1038/nrdp.2017.95

6. Wald A, Bharucha AE, Limketkai B, et al. ACG Clinical Guidelines: Management of Benign Anorectal Disorders. Am J Gastroenterol. Oct 1 2021;116(10):1987-2008. doi:10.14309/ajg.0000000000001507

7. Suares NC, Ford AC. Prevalence of, and risk factors for, chronic idiopathic constipation in the community: systematic review and meta-analysis. Am J Gastroenterol. Sep 2011;106(9):1582-91; quiz 1581, 1592. doi:10.1038/ajg.2011.164

8. Wald A. Colonic Inertia and Megacolon. In: Rose. S, ed. Constipation: A Practical Approach to Diagnosis and Treatment. Springer; 2014:97-106.

9. Sbahi H, Cash BD. Chronic Constipation: a Review of Current Literature. Curr Gastroenterol Rep. Dec 2015;17(12):47. doi:10.1007/s11894-015-0471-z

10. Anh NT, Anh NH, Xuan DT, et al. Prevalence of constipation among older people at national geriatric hospital. Military pharmaco - Medicine. 2021;(4):195-202.

11. Aziz I, Whitehead WE, Palsson OS, et al. An approach to the diagnosis and management of Rome IV functional disorders of chronic constipation. Expert Rev Gastroenterol Hepatol. Jan 2020;14(1):39-46. doi:10.1080/17474124.2020.1708718

12. Chaichanavichkij P, Vollebregt PF, Tee SZY, et al. Slow-transit constipation and criteria for colectomy: a cross-sectional study of 1568 patients. BJS open. May 7 2021;5(3)doi:10.1093/bjsopen/zrab049

13. Tsimogiannis KE, Karlbom U, Lundin E, et al. Long-term outcome after segmental colonic resection for slow transit constipation. Int J Colorectal Dis. Jun 2019;34(6):1013-1019. doi:10.1007/s00384-019-03283-5

14. Pinedo G, Zarate AJ, Garcia E, et al. Laparoscopic total colectomy for colonic inertia: surgical and functional results. Surg Endosc. Jan 2009;23(1):62-5. doi:10.1007/s00464-008-9901-4

15. Lundin E, Karlbom U, Påhlman L, et al. Outcome of segmental colonic resection for slow-transit constipation. The British journal of surgery. Oct 2002;89(10):1270-4. doi:10.1046/j.1365-2168.2002.02213.x

16. Pikarsky AJ, Singh JJ, Weiss EG, et al. Long-term follow-up of patients undergoing colectomy for colonic inertia. Dis Colon Rectum. Feb 2001;44(2):179-83. doi:10.1007/BF02234290

17. Beck DE, Fazio VW, Jagelman DG, et al. Surgical management of colonic inertia. South Med J. Mar 1989;82(3):305-9. doi:10.1097/00007611-198903000-00007

18. Sample C, Gupta R, Bamehriz F, et al. Laparoscopic subtotal colectomy for colonic inertia. J Gastrointest Surg. Jul-Aug 2005;9(6):803-8. doi:10.1016/j.gassur.2005.01.294

19. Jiang CQ, Qian Q, Liu ZS, et al. Subtotal colectomy with antiperistaltic cecoproctostomy for selected patients with slow transit constipation-from Chinese report. Int J Colorectal Dis. Dec 2008;23(12):1251-6. doi:10.1007/s00384-008-0552-7

20. Wang DY, Lin JJ, Xu XM, et al. The role of hand-assisted laparoscopic surgery in total colectomy for colonic inertia: a retrospective study. J Korean Surg Soc. Sep 2013;85(3):123-7. doi:10.4174/jkss.2013.85.3.123

21. Xie XY, Sun KL, Chen WH, et al. Surgical outcomes of subtotal colectomy with antiperistaltic caecorectal anastomosis vs total colectomy with ileorectal anastomosis for intractable slow-transit constipation. Gastroenterology report. Dec 2019;7(6):449-454. doi:10.1093/gastro/goz014

22. Geng HZ, Xu C, Yu Y, et al. Ileorectal intussusception compared to end-to-end ileorectal anastomosis after laparoscopic total colectomy in slow-transit constipation. Curr Probl Surg. Jun 2024;61(6):101471. doi:10.1016/j.cpsurg.2024.101471

ThS.BS Hồ Y Băng; PGS.TS.BS Nguyễn Trung Tín; ThS.BS Huỳnh Văn Linh; ThS.BS Nguyễn Thị Kim Hiền; ThS.DD Huỳnh Tố Như - Trường Đại học Trà Vinh - Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM
https://suckhoeviet.org.vn

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động