Confidence in Clinical Practice Among Nursing Students at Tra Vinh University, 2024

Sự tự tin trong thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh năm 2024

Năng lực thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng đã được đề cập đến như là mục tiêu chính và là tiêu chí hiệu quả trong giáo dục điều dưỡng, bao gồm khả năng áp dụng kiến thức và thông tin, kỹ năng giao tiếp với bệnh nhân, người nhà và giao tiếp giữa các cá nhân, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng thực hiện các thủ thuật điều dưỡng.

Tóm tắt:

Hiện nay, thực hành lâm sàng không chỉ giúp sinh viên phát triển kỹ năng chuyên môn mà còn rèn luyện khả năng quản lý và đối phó với các tình huống trong môi trường y tế thực tế. Sinh viên sẽ học cách làm việc dưới áp lực, xử lý các tình huống khẩn cấp và tương tác chuyên nghiệp với bệnh nhân cũng như đồng nghiệp. Những kỹ năng này vô cùng quan trọng, giúp sinh viên trở nên tự tin và thành thạo khi bước vào môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp. Nghiên cứu khảo sát về mức độ tự tin của sinh viên điều dưỡng trong việc thực hiện các kỹ thuật y tế cho thấy một bức tranh đa dạng về kỹ năng và sự tự tin của họ. Kết quả nhận được từ các kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng là có 27,1% tỷ lệ sinh viên đạt mức độ tự tin cao, còn lại 72,9% sinh viên đạt mức tự tin trung bình. Trong đó, sinh viên điều dưỡng có mức độ tự tin cao trong các kỹ thuật như: lấy dấu hiệu sinh tồn cho người bệnh (65,6%); cho người bệnh uống thuốc đúng giờ và theo dõi tác dụng của thuốc (61,5%). Sinh viên điều dưỡng có mức độ tự tin trung bình - thấp đối với một số kỹ thuật như: hồi sinh tim phổi; chăm sóc người bệnh sau mổ.

Từ khóa: Sự tự tin, thực hành lâm sàng, sinh viên, điều dưỡng, Trường Đại học Trà Vinh.

Summary:

Nowadays, clinical practice not only helps students develop professional skills but also trains them to manage and cope with situations in real medical environments. Students will learn how to work under pressure, handle emergency situations and interact professionally with patients and colleagues. These skills are extremely important, helping students become confident and proficient when entering the working environment after graduation. The survey study on the level of confidence of nursing students in performing medical techniques shows a diverse picture of their skills and confidence. The results obtained from the clinical practice skills of nursing students are that 27.1% of students have a high level of confidence, the remaining 72.9% of students have an average level of confidence. Of which, nursing students have a high level of confidence in techniques such as: taking vital signs for patients (65.6%); giving patients medication on time and monitoring the effects of medication (61.5%). Nursing students have an average - low level of confidence in some techniques such as: cardiopulmonary resuscitation; post-operative patient care.

Keywords: Confidence, clinical practice, students, nursing, Tra Vinh University.

Ngày nhận bài: 04/02/2025

Ngày hoàn thiện biên tập: 11/2/2025

Ngày duyệt đăng: 17/03/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 3+4/2025

Đặt vấn đề

Năng lực thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng đã được đề cập đến như là mục tiêu chính và là tiêu chí hiệu quả trong giáo dục điều dưỡng, bao gồm khả năng áp dụng kiến thức và thông tin, kỹ năng giao tiếp với bệnh nhân, người nhà và giao tiếp giữa các cá nhân, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng thực hiện các thủ thuật điều dưỡng [1]. Bên cạnh đó, sự tự tin liên quan đến năng lực thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng là yếu tố cốt lõi liên quan đến tiêu chuẩn nghề nghiệp và an toàn người bệnh [2]; do đó đánh giá sự tự tin trong kỹ năng lâm sàng là một yếu tố quan trọng đối với các nhà giáo dục và quản lý. Thực hành lâm sàng là một phần không thể thiếu trong chương trình đào tạo điều dưỡng, mang đến cho sinh viên cơ hội áp dụng các kỹ năng đã học tại trường vào thực tế, đồng thời giúp liên kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Tuy nhiên, không giống như môi trường an toàn và có kiểm soát tại các phòng thực hành trong trường, khi tham gia thực hành lâm sàng, sinh viên phải đối mặt với nhiều thử thách. Môi trường lâm sàng thực tế thường thiếu sự kiểm soát và có nhiều khó khăn trong việc quản lý và xử lý các tình huống thực tế. Điều này đòi hỏi sinh viên phải linh hoạt, tự tin và có khả năng ứng phó tốt với các tình huống phát sinh trong quá trình học tập và làm việc [2].

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền về “Sự tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng của sinh viên điều dưỡng chính quy tại bệnh viện trung ương Thái Nguyên năm 2019” cho kết quả chỉ 14,2% sinh viên có sự tự tin trong thực hành kỹ năng lâm sàng ở mức độ cao [3]. Tại Trường Đại học Trà Vinh, sinh viên điều dưỡng bắt đầu tham gia thực hành lâm sàng từ năm học thứ hai, đây là giai đoạn quan trọng để sinh viên áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế. Do đó, nhằm nâng cao chất lượng thực hành lâm sàng, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu với chủ đề "Sự tự tin trong thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh năm 2024."

Tổng quan nghiên cứu

Theo nghiên cứu về những thách thức của sinh viên điều dưỡng gặp phải tại môi trường thực tập lâm sàng Đại học Quốc tế Hồng Bàng năm 2019. Tác giả Trần Thị Huyền đã đề cập đến một số thách thức của sinh viên điều dưỡng khi tham gia thực hành lâm sàng gồm: Sự tương tác và tham gia, sinh viên làm trung tâm, cho phép cá nhân tham gia, giá trị công việc điều dưỡng, bồi dưỡng học tập tại nơi làm việc, sự sáng tạo của sinh viên điều dưỡng [4].

Trần Thị Hoàng Oanh và cộng sự (2021) [5] đã tiến hành đề tài nghiên cứu về Mối liên hệ giữa sự hài lòng và sự tự tin của sinh viên đều giữ sau khóa học mô phỏng với sự tự tin của họ khi thực hành trên bệnh nhân thật tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng là sinh viên đại học Điều dưỡng hệ chính quy năm thứ 2 đang học thực hành mô phỏng tại trường đại học kỹ thuật y dược Đà Nẵng. Với cỡ mẫu là 182 sinh viên. Kết quả nghiên cứu thu được điểm trung bình của sự tự tin khá cao, có đến 52,7% trả lời rằng họ khá chắc chắn về những bước họ đã làm 23,1% đối tượng nghiên cứu không thấy do dự khi thực hiện hầu hết các công việc chăm sóc trên người bệnh 5,5% hoàn toàn không do dự khi thực hiện.

Nguyễn Thị Mỹ Hiền và cộng sự (2023) [6] đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 268 sinh viên thuộc khối ngành Điều dưỡng tại khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học năm 3, năm 4 tại Trường Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu xác định kiến thức, thái độ và sự tự tin về an toàn người bệnh của sinh viên khối ngành Điều dưỡng tại Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thu được điểm trung bình kiến thức, thái độ và sự tự tin về an toàn người bệnh của sinh viên lần lượt là 0,77 ± 0,11; 3,61 ± 0,39; 4,29 ± 0,58.

Một nghiên cứu của tác giả Marzieh Abdal và cộng sự (2015) được thực hiện trên tất cả sinh viên đang ở giữa học kỳ thứ 7 và thứ 8 của Trường Đại học Khoa học y tế Kasha với mục tiêu là để phác thảo quan điểm của sinh viên Điều dưỡng cao cấp về hiệu quả lâm sàng và để xác định mức độ của nó ở sinh viên Điều dưỡng. Kết quả đạt được tổng cộng có 36 học sinh, (63,2%) có mức độ tự tin vào năng lực bản thân ở mức trung bình và 21 học sinh (36,8%) có mức độ tự tin vào năng lực bản thân cao, không có học sinh nào có mức độ tự tin vào năng lực bản thân thấp.[7]

Kết quả và thảo luận

Bảng 1. Mức độ tự tin trong kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng (n=96)

STT

Nội dung

Mức độ tự tin

Thấp

n(%)

Trung bình

n ()

Cao

n()

1

Thực hiện kỹ thuật tiêm thuốc theo y lệnh cho người bệnh.

0 (0)

38 (39,6)

58 (60,4)

2

Lấy dấu hiệu sinh tồn của người bệnh.

0 (0)

33 (34,4)

63 (65,6)

3

Cho người bệnh uống thuốc đúng giờ và theo dõi tác dụng của thuốc.

0 (0)

37 (38,5)

59 (61,5)

4

Thay băng rửa vết thương đúng kỹ thuật.

0 (0)

55 (57,3)

41(42,7)

5

Chuẩn bị và thực hiện kỹ thuật truyền tĩnh mạch.

0 (0)

42 (43,8)

54 (56,3)

6

Thực hiện liệu pháp oxy.

0 (0)

74 (77,1)

22 (22,9)

7

Thực hiện lấy bệnh phẩm xét nghiệm.

0 (0)

62 (64.6)

34 (35.4)

8

Thực hiện đặt sode bàng quang

0 (0)

92 (95,8)

4 (4,2)

9

Thực hiện kỹ thuật hồi sinh tim phổi.

14 (14,5)

82 (85.4)

0 (0)

Qua kết quả cho thấy, một số kỹ thuật như "Thực hiện kỹ thuật tiêm thuốc theo y lệnh cho người bệnh" và "Lấy dấu hiệu sinh tồn của người bệnh" có tỷ lệ sinh viên tự tin ở mức cao (trên 60%). Điều này phản ánh sự chuẩn bị kỹ lưỡng và kinh nghiệm thực hành tốt trong các kỹ năng cơ bản và thường xuyên của điều dưỡng. Kỹ năng này được thực hiện thường xuyên và là một trong những kỹ năng đầu tiên được giảng dạy và thực hành trong chương trình đào tạo điều dưỡng, do đó sinh viên có nhiều cơ hội để rèn luyện và thành thạo.. Tuy nhiên, kỹ thuật như "Thay băng rửa vết thương", “Thực hiện liệu pháp oxy” có tỷ lệ sinh viên tự tin ở mức trung bình (45- < 60%). Kỹ thuật như "Thực hiện kỹ thuật hồi sinh tim phổi có tỷ lệ sinh viên tự tin ở mức thấp.

Bảng 3.2 Mức độ tự tin trong kỹ năng thực hành lâm sàng

n

%

Trung bình

70

72,9

Cao

26

27,1

Nhìn chung kết quả nhận được từ 30 kỹ năng thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng là có 27,1% tỷ lệ sinh viên đạt mức độ tự tin cao, còn lại 72,9% sinh viên đạt mức tự tin trung bình.

Bảng 3.3. Mối liên quan giữa sự tự tin và đặc điểm chung của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh

Đặc điểm

Sự tự tin n ()

OR

(95% CI)

p

Trung bình

Cao

Tuổi

≤ 21

43 (87,8)

6 (12,2)

1

0,002

>21

27 (57,4)

20 (42,6)

5,309

(1,892; 14,892)

Giới tính

Nam

9 (81,8)

2 (18,2)

1

0,485

Nữ

61 (71,8)

24 (28,2)

1.770

(0,356; 8,798)

Nhận xét: Qua nghiên cứu cho thấy sinh viên ≥ 21 tuổi có mức độ tự tin cao hơn đáng kể so với sinh viên 21 tuổi trở xuống. Cụ thể có 57,4% sinh viên trên 21 tuổi có mức độ tự tin trung bình, trong khi 42,6% có mức độ tự tin cao. Ở nhóm ≤ 21 tuổi, 87,8% có mức độ tự tin trung bình và chỉ 12,2% có mức độ tự tin cao. Giá trị p = 0,002, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy rằng sinh viên ≥ 21 tuổi có khả năng tự tin cao hơn gấp khoảng 5 lần so với sinh viên ≤ 21 tuổi. Điều này có thể được lý giải bởi sự trưởng thành và kinh nghiệm sống của các sinh viên lớn tuổi hơn, giúp sinh viên tự tin hơn trong các tình huống khác nhau. Ngoài ra, sinh viên >21 có thể đã có nhiều thời gian hơn để phát triển kỹ năng và kiến thức, điều này góp phần vào sự tự tin của sinh viên.Về giới tính, mức độ tự tin của sinh viên nam và nữ không có sự khác biệt lớn, cụ thể 81,8% nam giới có mức độ tự tin trung bình và 18,2% có mức độ tự tin cao, nữ giới có 71,8% đạt mức độ tự tin trung bình và 28,2% có mức độ tự tin cao. Giá trị p là 0,485, nghĩa là không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê giữa nam và nữ trong mức độ tự tin.

Kết luận

Nhìn chung, sự chênh lệch về mức độ tự tin giữa các kỹ năng cho thấy cần có sự tập trung nhiều hơn vào việc đào tạo và thực hành các kỹ thuật khó, đặc biệt là những kỹ năng liên quan đến chăm sóc người bệnh ở giai đoạn cuối đời và các kỹ thuật phức tạp. Điều này sẽ giúp sinh viên nâng cao năng lực toàn diện, đảm bảo chất lượng chăm sóc tốt nhất cho người bệnh. Việc đào tạo cần phải linh hoạt và đa dạng hơn để đáp ứng nhu cầu thực tế, giúp sinh viên phát triển toàn diện và tự tin hơn trong công việc sau khi ra trường. Các chương trình đào tạo nên tăng cường các buổi thực hành, mô phỏng tình huống thực tế, và có sự hướng dẫn chặt chẽ từ các chuyên gia để sinh viên có thể nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết [35]. Việc đánh giá và phản hồi liên tục cũng là yếu tố quan trọng để sinh viên có thể cải thiện kỹ năng của mình. Thông qua các buổi kiểm tra thực hành và phản hồi từ giảng viên, sinh viên có thể nhận biết điểm mạnh và điểm yếu của mình, từ đó có kế hoạch học tập và rèn luyện phù hợp hơn. Sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và môi trường học tập tích cực cũng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao sự tự tin của sinh viên [36].

Tóm lại, kết quả khảo sát cho thấy rằng mặc dù sinh viên điều dưỡng có mức độ tự tin cao trong một số kỹ năng cơ bản, nhưng vẫn cần có sự cải thiện đáng kể trong các kỹ năng phức tạp và đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. Việc tăng cường đào tạo thực hành, cải thiện môi trường học tập, và cung cấp sự hỗ trợ liên tục sẽ giúp sinh viên điều dưỡng phát triển toàn diện và tự tin hơn trong công việc tương lai.

Tài liệu tham khảo

1. Hakimzadeh Rezvan, Karamdost Novrozali, Memarian Robabeh, Ghodrati Akram, Mirmosavi Jamal, "Assessing nursing students’ clinical competency:self-assessment," Quarterly Journal of Nursing Management, vol. 1, pp. 17-25, 2012.

2. K. H. Kim, "Clinical competence among senior nursing students after their preceptorship experiences," J Prof Nurs, vol. 23, no. 6, pp. 369-75, 2007.

3. Claire Leader (2022)."The experiences of mature nursing students: achievements against the odds", British Journal of Nursing

4. Trần Thị Huyền (2019) “Những thách thức mà sinh viên điều dưỡng gặp phải tại môi trường học tập lâm sàng tại Đại học Quốc tế Hồng Bàng năm 2019”

5. Trần Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Thị Yến Hoài, Phạm Thị Thùy (2021) “The relationships of nursing students' satisfaction and self-confidence after a simulation-based course with their self-confidence while practicing on real patients in Vietnam” Tạp chí đánh giá giáo dục cho ngành nghề sức khỏe 2021," 2021.

6. Thị Mỹ Hiền Nguyễn, Thị Như Quỳnh Phạm, Quốc Cường Trần (2023) " Kiến thức, thái độ và sự tự tin về an toàn người bệnh của sinh viên khối ngành Điều dưỡng tại Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh," Tạp chí Y học Việt Nam, vol. 531, no. 1B, 2023.

7. . Abo Al-Shiekh, S. S., Ibrahim, M. A., Alajerami, Y. S. (2021), Breast cancer knowledge and practice of breast self-examination among female university students, Gaza, The Scientific World Journal, 2021.

ThSDD. Trần Thị Hồng Phương – ThSDD. Vũ Thị Đào – ThSDD. Bùi Thị Kim Tuyến – CNDD. Võ Ngọc Cẩm Tú - Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Một hành trình – Một sứ mệnh: Tổng kết chuỗi chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho sinh viên toàn quốc

Một hành trình – Một sứ mệnh: Tổng kết chuỗi chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho sinh viên toàn quốc

SKV - Sau hơn ba tháng triển khai tại 11 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, chuỗi chương trình truyền thông – giáo dục sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản do Tạp chí Sức Khỏe Việt, Hội Nam y Việt Nam phối hợp DKT International thực hiện đã khép lại với nhiều dấu ấn đậm nét. Không chỉ trang bị kiến thức khoa học, kỹ năng tự bảo vệ cho hàng chục nghìn sinh viên, chương trình còn tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của thanh thiếu niên, hướng tới một thế hệ trẻ sống an toàn, có trách nhiệm và nhân văn.
Chuỗi chương trình tuyên truyền giáo dục: Từ nhà trường đến cộng đồng, lan tỏa tri thức, kiến tạo tương lai cho giới trẻ

Chuỗi chương trình tuyên truyền giáo dục: Từ nhà trường đến cộng đồng, lan tỏa tri thức, kiến tạo tương lai cho giới trẻ

SKV - Chuỗi chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản do Tạp chí Sức Khỏe Việt phối hợp DKT International triển khai tại 10 trường đại học trên toàn quốc đã để lại dấu ấn sâu đậm, góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của hàng chục nghìn sinh viên, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực tới cộng đồng thanh thiếu niên Việt Nam.
Thắp sáng trí thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cho sinh viên Đại học Đà Nẵng

Thắp sáng trí thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cho sinh viên Đại học Đà Nẵng

SKV - Ngày 04/12/2025, tại Đại học Đà Nẵng, hàng trăm sinh viên đã hòa mình vào chương trình Tuyên truyền Sức khỏe Tình dục – Sức khỏe Sinh sản (SKTD – SKSS) 2025 do Tạp chí Sức Khỏe Việt phối hợp Nhà trường và Tổ chức DKT Việt Nam tổ chức. Sự kiện mang đến cho sinh viên những kiến thức thiết thực, gần gũi và hữu ích trong hành trình bảo vệ sức khỏe bản thân.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động