Prevalence of Urinary Tract Infections and Selected Associated Factors Among Pregnant Women Attending Antenatal Care in Tra Vinh Province

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh

(SKV) - Nhiễm trùng tiết niệu (NTTN) là loại nhiễm trùng phổ biến nhất trong thai kỳ, ảnh hưởng đến 10% phụ nữ mang thai. Chúng cũng được công nhận là căn bệnh phổ biến thứ hai khi mang thai, sau bệnh thiếu máu.

Tóm tắt:

Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu (NTTN) ở thai phụ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh năm 2023. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 179 thai phụ từ tháng 06/2023 đến 08/2023. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp và khai thác kết quả xét nghiệm nước tiểu từ hệ thống phần mềm bệnh viện. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ tại Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh là 19,55%. Các yếu tố nguy cơ gồm trình độ học vấn thấp, điều kiện vệ sinh cá nhân kém và tiền sử bệnh lý. Phụ nữ sống ở nông thôn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với khu vực thành thị. Kết luận: NTTN là vấn đề sức khỏe đáng quan tâm đối với phụ nữ mang thai. Việc nâng cao nhận thức, cải thiện điều kiện vệ sinh và tầm soát sớm là những biện pháp cần thiết để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh.

Từ khóa: Nhiễm trùng tiết niệu; thai phụ, nguy cơ nhiễm bệnh.

Summary:

This study aimed to determine the prevalence of urinary tract infections (UTIs) among pregnant women and identify associated factors at Tra Vinh Obstetrics and Pediatrics Hospital in 2023.

Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 179 pregnant women from June to August 2023. Data were collected through direct interviews and urinary test results retrieved from the hospital's medical software system.

Results: The prevalence of UTIs among pregnant women at the hospital was 19.55%. Risk factors included low educational attainment, poor personal hygiene, and a history of medical conditions. Women living in rural areas had a higher risk of infection compared to those in urban settings.

Conclusion: UTIs represent a significant health concern for pregnant women. Enhancing awareness, improving hygiene conditions, and promoting early screening are essential measures to reduce the risk of infection.

Key words: Urinary tract infection; Pregnant women; Risk factors.

Ngày nhận bài: 15/2/2025

Ngày phản biện khoa học: 2/3/2025

Ngày duyệt bài: 7/3/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 3+4/2025

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm trùng tiết niệu (NTTN) là loại nhiễm trùng phổ biến nhất trong thai kỳ, ảnh hưởng đến 10% phụ nữ mang thai. Chúng cũng được công nhận là căn bệnh phổ biến thứ hai khi mang thai, sau bệnh thiếu máu [3]. NTTN được xếp hạng là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho mẹ và làm phức tạp khoảng 20% thai kỳ [2]. Khả năng NTTN tăng lên trong thời kỳ mang thai do nhiều thay đổi sinh lý của phụ nữ [4]. Những thay đổi này làm tăng nguy cơ biến chứng nhiễm trùng nghiêm trọng do nhiễm trùng tiết niệu có triệu chứng và không có triệu chứng ngay cả ở phụ nữ mang thai khỏe mạnh [5].

NTTN còn liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở mẹ và trẻ sơ sinh, ngay cả khi nhiễm trùng không có triệu chứng. Nếu nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng không được điều trị trong thai kỳ, tỷ lệ nhiễm trùng tiểu sau đó là khoảng 25% [6]. NTTN còn liên quan đến các hậu quả bất lợi khác nhau cho bà mẹ và trẻ sơ sinh như nhẹ cân khi sinh, sinh non, thai chết lưu, tiền sản giật, thiếu máu ở mẹ và nhiễm trùng huyết, và viêm màng ối [5][1]. Theo McDermott, nguy cơ tương đối bị chậm phát triển và trí trệ tâm thần ở trẻ có mẹ nhiễm trùng niệu trong thai kỳ cao hơn 1,31 lần so với nhóm trẻ mẹ không có nhiễm trùng niệu trong thai kỳ. Nếu phụ nữ có thai mắc bệnh nhưng không điều trị nhiễm trùng niệu, trẻ sinh ra có nguy cơ tương đối chậm phát triển và trì trệ tâm thần là 1,22 lần cao hơn so với những trẻ mà mẹ được điều trị nhiễm trùng niệu [8].

Ở nước ta các nghiên cứu NTTN trên đối tượng phụ nữ mang thai vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu của Lê Triệu Hải và cộng sự (2011) có tỷ lệ NTTN trên phụ nữ mang thai là 7,5% [7]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Đoan Trinh và cộng sự (2021) có tỷ lệ là 13,4% [9]. Tại tỉnh Trà Vinh hiện không có nghiên cứu nào tương tự, do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ có thai tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh năm 2023” nhằm góp phần phản ánh, tạo thêm dữ liệu về sức khỏe thai phụ ở Thành phố Trà Vinh và từ đó có kế hoạch nâng cao sức khỏe cho thai phụ.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Xác định tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu ở phụ nữ có thai đến khám tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh năm 2023.

2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nhiễm trùng tiết niệu ở phụ nữ có thai đến khám tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh năm 2023.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mang thai có chỉ định xét nghiệm nước tiểu tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh.

Tiêu chuẩn chọn vào:

  • Phụ nữ mang thai đến khám tại phòng khám Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh năm 2023, có chỉ định làm xét nghiệm nước tiểu.

  • Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại trừ:

  • Thai phụ mắc bệnh lý thần kinh hoặc không có khả năng cung cấp thông tin chính xác.

  • Thai phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả với cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ, sử dụng công thức:

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh

Sau khi tính toán, cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 179 đối tượng.

Đánh giá kết quả:

  • Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

  • Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ

  • Tỷ lệ kiến thức về nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ

  • Các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ

KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh

Trong tổng 179 phụ nữ mang thai tham gia nghiên cứu, nhóm tuổi từ 25 - 36 tuổi chiếm nhiều nhất (54,19%). Tỷ lệ sinh sống ở nông thôn chiếm (86,03%). Hầu hết phụ nữ mang thai dân tộc Kinh chiếm nhiều nhất (64,25%), dân tộc Khmer chiếm (35,75%). Trong tổng số phụ nữ mang thai tham gia nghiên cứu, tỷ lệ tốt nghiệp THPT chiếm nhiều nhất (50,27%), tỷ lệ tốt nghiệp CĐ/ĐH/TC trở lên chiếm (14,53%) chỉ nhiều hơn so với tốt nghiệp tiểu học (6,15%). Phần lớn người tham gia nghiên cứu làm nội trợ chiếm (40,22%), tỷ lệ công nhân chiếm (16,75%), tỷ lệ cán bộ viên chức chiếm (14,53%) trong đó tỷ lệ làm nông lại chiếm thấp nhất (1,68%). Về tình trạng kinh tế, hầu như các đối tượng thuộc hộ khá trở lên chiếm chủ yếu (73,18%), hộ cận nghèo (24,58%), hộ nghèo chiếm ít nhất (2,24%).

Tỷ lệ phụ nữ mang thai ở lần đầu có mang chiếm nhiều (49,72%), trong đó lần hai có mang chiếm (35,20%), ba lần có mang trở lên chiếm (15,08%). Trong tổng số phụ nữ mang thai trong 3 tháng cuối chiếm chủ yếu (86,03%), tỷ lệ 3 tháng đầu chiếm thấp nhất (4,47%). Về tiền sử bệnh lý ở phụ nữ mang thai, phần lớn tỷ lệ không có tiền sử bệnh lý chiếm nhiều nhất (94,97%), trong khi đó tỷ lệ bệnh đái tháo đường chiếm (1,12%), tỷ lệ nhiễm trùng niệu trước đó chiếm (2,23%), tỷ lệ các bệnh khác chiếm (1,68%). Bên cạnh đó số lần vệ sinh trong ngày nhiều hơn hai lần chiếm (100%). Đối với nguồn nước vệ sinh hằng ngày, tỷ lệ sử dụng nước nước máy, nước khử khuẩn chiếm (97,21%), tỷ lệ sử dụng nước giếng chiếm (2,79%).

3.2. Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ

3.2.1. Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu

Trong tổng số 179 phụ nữa mang thai tham gia nghiên cứu, có 35 trường hợp bị nhiễm trùng tiết niệu chiếm 19,55% và có 144 trường hợp không bị nhiễm trùng tiết niệu chiếm 80,45%.

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu

3.2.2. Tỷ lệ dương tính và âm tính của Esterase bạch cầu và nitrit

Bảng 3.2. Tỷ lệ dương tính và âm tính của Esterase bạch cầu và nitrit

Thông số

Dương tính n(%)

Âm tính n(%)

Esterase bạch cầu

34(18,99%) 145(81,01%)
Nitrit 25(%) 154(86,03%)

Trong tổng số 179 mẫu xét nghiêm có 34 mẫu xét nghiệm có kết quả Esterase bạch cầu dương tính chiếm (18,99%) và 25 mẫu xét nghiệm có kết quả nitrit dương tính chiếm (13,97%).

3.2.3. Tỷ lệ xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở phụ nữ mang thai

Trong tổng số 179 mẫu xét nghiệm có 9 mẫu xét nghiệm có triệu chứng tiểu đau, tiểu rát chiếm (5,03%), 6 mẫu xét nghiệm có triệu chứng tiểu khó chiếm (3,35%), 11 mẫu xét nghiệm có triệu chứng vừa tiểu đau, tiểu rát và tiểu khó. Phần lớn thai phụ không có triệu chứng lâm sàng chiếm (85,47%).

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ xuất hiện triệu chứng ở phụ nữ mang thai

3.3. Tỷ lệ kiến thức về nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ kiến thức về nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ

Trong tổng số 179 phụ nữa mang thai tham gia phỏng vấn có 75 trường hợp biết và có kiến thức về bệnh nhiễm trùng tiết niệu chiếm 41,90% và có 104 trường hợp không biết về bệnh nhiễm trùng tiết niệu chiếm 58,10%.

3.4. Các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng tiết niệu ở thai phụ

3.4.1. Mối liên quan giữa nhiễm trùng tiết niệu với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3. Liên quan giữa nhiễm trùng niệu với các đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu trên phụ nữ mang thai sống ở nông thôn bằng 0,97 lần so với ở thành thị (PR= 0,97, KTC: 0,42–2,27). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kế (p= 0,95). Nhóm đối tượng dân tộc kinh có tỷ lệ NTTN ở phụ nữ mang thai bằng 0,82 lần so với đối tượng dân tộc khmer (PR= 0,82, KTC: 0,43-1,57). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p= 0,55).

Tính toán từ nghiên cứu, nhận thấy tỷ lệ NTTN trên phụ nữ mang thai không có khuynh hướng thay đổi theo độ tuổi, cấp học. Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, các cấp học, cũng không có ý nghĩa thống kê ( lần lượt là PR, KTC không xác định). Không tìm thấy mối liên hệ giữa nghề nghiệp với NTTN (p< 0,0001 < 0,05,) nên sự khác biệt giữa 2 nhóm mắc và không mắc không có ý nghĩa thống kê.

Từ kết quả trên, nhận thấy tỷ lệ NTTN trên phụ nữa mang thai có khuynh hướng thay đổi theo tình hình kinh tế hay nguồn nước vệ sinh. Sự khác biệt giữa các nhóm tình hình kinh tế, các nhóm nguồn nước vệ sinh (p< 0,0001, p= 0,0005) nên sự khác biết giữa 2 nhóm mắc và không mắc có ý nghĩa thống kê.

3.4.2. Liên quan giữa nhiễm trùng tiết niệu với tình hình mang thai

Bảng 3.4. Nhiễm trùng tiết niệu với đặc điểm mang thai của thai phụ

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Trà Vinh

Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhận thấy tỷ lệ NTTN trên phụ nữ mang thai có khuynh hướng tăng từ lần mang thai thứ ba trở lên (p< 0,0001). Không tìm thấy mối liên hệ giữa tiền sử bệnh lý và thời kỳ mang thai với NTTN.

KẾT LUẬN

Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu ở phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh năm 2023 là 19,55%. Các yếu tố nguy cơ liên quan nhiễm trùng tiết niệu trong thai kỳ bao gồm tình hình kinh tế, nguồn nước vệ sinh, số lần mang thai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] A. P. Glaser and A. J. Schaeffer, “Urinary tract infection and bacteriuria in pregnancy,” Urologic Clinics, vol. 42, no. 4, pp. 547–560, 2015.

[2] Foxman B, Barlow R, D’Arcy H. Urinary tract infection: self-reported incidence, morbidity and economic costs. Am J Med. 2002;113:5-12.

[3] Hanna Szweda, Marcin Jozwik (2016), “ Urinary tract infections during pregnancy - an updated overview”, Developmental period medicine, 20(4), 263-272.

[4] J. B. Hill, J. S. Sheffield, D. D. McIntire, and G. D. Wendel, “Acute pyelonephritis in pregnancy,” Obstetrics & Gynecology, vol. 105, no. 1, pp. 18–23, 2005.

[5] K. Kalinderi, D. Delkos, M. Kalinderis, A. Athanasiadis, and I. Kalogiannidis, “Urinary tract infection during pregnancy: current concepts on a common multifaceted problem,” Journal of Obstetrics and Gynaecology, vol. 38, no. 4, pp. 448–453, 2018.

[6] L. Yan, Y. Jin, H. Hang, and B. Yan, “The association between urinary tract infection during pregnancy and preeclampsia: a meta-analysis,” Medicine, vol. 97, no. 36, p. e12192, 2018.

[7] Lê Triệu Hải, Nguyễn Duy Tài (2011) Giá trị chẩn đoán của tổng phân tích nước tiểu trong chẩn đoán nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng ở thai phụ trong 3 tháng đầu thai kỳ. Tạp chí Nghiên cứu y học sản phụ khoa, Y học TP Hồ Chí Minh, tập 15, phụ bản 1.

[8] McDermott S, Callaghan W, Szwejbka L, Mann H, Daguise V. Urinary tract infections during pregnancy and mental retardation and developmental delay. Obstet Gynecol 2000;96:113-9.

[9] Nguyễn Thị Đoan Trinh (2021), “Tình hình nhiễm trùng tiết niệu ở phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện Phụ Sản – Nhi Đà Nẵng”. Tạp chí Y học Việt Nam 509(2), tr.154 – 159.

ThSBS. Nguyễn Thị Kim Hiền - ThSBS. Huỳnh Văn Linh - BS Huỳnh Hoài Phương - CN Trần Thị Ngọc Giàu Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Bệnh gan ở phụ nữ mang thai: Cách phòng ngừa

Bệnh gan ở phụ nữ mang thai: Cách phòng ngừa

Bệnh gan là một trong những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến phụ nữ mang thai. Sự thay đổi trong cơ thể trong thời kỳ mang thai có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh gan, từ viêm gan đến bệnh gan nhiễm mỡ. Để bảo vệ sức khỏe của mẹ và thai nhi, việc hiểu biết về bệnh gan và cách phòng ngừa là rất quan trọng.
Những bệnh gì nên hạn chế ăn rau dền?

Những bệnh gì nên hạn chế ăn rau dền?

Rau dền là một loại rau phổ biến trong bữa ăn của người Việt, được ưa chuộng nhờ tính mát, dễ trồng, giá rẻ và giàu dinh dưỡng. Rau dền chứa nhiều chất xơ, vitamin A, C, sắt, canxi và đặc biệt là chất chống oxy hóa như flavonoid và polyphenol. Tuy nhiên, không phải ai cũng nên ăn rau dền thường xuyên. Với một số người mắc các bệnh lý sau, việc tiêu thụ rau dền quá mức có thể gây tác dụng ngược, ảnh hưởng đến sức khỏe.
Những ai không nên ăn rau ngót – Loại rau lành tính nhưng không dành cho tất cả mọi người

Những ai không nên ăn rau ngót – Loại rau lành tính nhưng không dành cho tất cả mọi người

Rau ngót từ lâu đã được xem là một loại rau lành tính, bổ dưỡng, phổ biến trong bữa cơm gia đình Việt Nam. Với vị ngọt mát, giàu vitamin C, canxi và sắt, rau ngót thường được dùng để giải nhiệt, bổ huyết, hỗ trợ phụ nữ sau sinh phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể sử dụng loại rau này một cách tùy tiện. Dưới đây là những nhóm người không nên hoặc cần thận trọng khi ăn rau ngót, để tránh những tác dụng không mong muốn.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động