Associated Factors with Nursing Students’ Knowledge and Attitudes Regarding Contraceptive Practices

Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên điều dưỡng

Tóm tắt: Biện pháp tránh thai (BPTT) là hành động ngăn ngừa mang thai. Đây có thể là một thiết bị, một loại thuốc, một quy trình hoặc một hành vi. Tránh thai cho phép mọi người kiểm soát sức khoẻ sinh sản và khả năng tham gia tích cực vào kế hoạch hóa gia đình.

Từ khóa: kiến thức, thái độ, biện pháp tránh thai, sinh viên điều dưỡng.

Abstract: Contraceptive methods (CMs) are measures taken to prevent pregnancy. These may include a device, a medication, a procedure, or a behavior. Contraception enables individuals to control their reproductive health and actively participate in family planning.

Keywords: knowledge, attitude, contraception, nursing students.

Ngày nhận bài: 14/02/2025

Ngày hoàn thiện biên tập: 6/3/2025

Ngày duyệt đăng: 14/3/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 3+4/2025

Đánh giá yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên Điều dưỡng. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Có mối liên quan giữa kiến thức của sinh viên Điều dưỡng với tuổi, giới tính, năm học. Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của sinh viên Điều dưỡng với quê quán, người yêu, nguồn tiếp cận thông tin là trường học, bạn bè và trung tâm tư vấn. Có mối liên quan giữa thái độ của sinh viên Điều dưỡng với nguồn tiếp cận thông tin từ báo chí, truyền hình, gia đình và internet.

Đặt vấn đề

Phá thai đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong mẹ trên toàn thế giới. Có nhiều nguyên do để người mẹ quyết định phá thai nhưng mang thai ngoài ý muốn là một trong những nguyên nhân gặp nhiều nhất, chủ yếu là do không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả biện pháp tránh thai (Hiền Minh, 2023). Do đó kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai cho sinh viên nhằm góp phần giảm các rủi ro mang thai ngoài ý muốn, nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường tình dục, đồng thời có kiến thức và kỹ năng tư vấn sức khoẻ cộng đồng.

Tổng quan y văn

Biện pháp tránh thai (BPTT) là hành động ngăn ngừa mang thai. Đây có thể là một thiết bị, một loại thuốc, một quy trình hoặc một hành vi. Tránh thai cho phép mọi người kiểm soát sức khoẻ sinh sản và khả năng tham gia tích cực vào kế hoạch hóa gia đình. Kiểm soát sinh sản đã được sử dụng từ thời cổ đại, nhưng các phương pháp ngừa thai hiệu quả và an toàn chỉ có sẵn trong thế kỷ 20. Lập kế hoạch, làm cho có sẵn và sử dụng kiểm soát sinh sản được gọi là kế hoạch hóa gia đình (O.M.Bansode, 2024).

Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành về sử dụng biện pháp tránh thai trong giới trẻ tại các Trường Đại học được chọn ở Zimbabwe” của Marimirofa M và cộng sự năm 2022 có 95% phụ nữ trẻ trong các cơ sở Đại học đã từng nghe nói về BPTT và 27% đã từng sử dụng BPTT. Thuốc tránh thai là phương pháp tránh thai phổ biến nhất được biết đến 85% (M.Marimirofa, 2022).

Nghiên cứu “Kiến thức về các biện pháp tránh thai và các yếu tố liên quan ở sinh viên khối ngành khoa học sức khoẻ” của Nguyễn Tấn Thạch và cộng sự năm 2023, sinh viên (SV) Điều dưỡng lần lượt có điểm trung bình kiến thức đều thấp hơn các ngành còn lại, Y Đa khoa là 1,01 điểm, Răng Hàm Mặt là 0,86 điểm và Dược học là 0,94 điểm, SV khối ngành sức khoẻ có kiến thức chưa đầy đủ về các BPTT. Ở nhóm SV ngành Điều dưỡng, kiến thức thực tại của họ thấp hơn hầu hết SV các ngành còn lại (Nguyễn Tấn Thạch và cộng sự, 2023).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thiết kế mô tả cắt ngang. Thực hiện trên 430 SV Điều dưỡng đang theo học tại Trường Đại học Trà Vinh từ 05 - 07/2024. Với tiêu chí chọn vào: SV Điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh đồng ý tham gia nghiên cứu; tiêu chí loại ra: SV không trả lời hoàn chỉnh bộ câu hỏi.

Chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn cỡ mẫu toàn bộ.

Quy trình thu thập số liệu gồm 3 bước: Bước 1: Nghiên cứu viên dựa vào danh sách SV Điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh. Bước 2: Lập danh sách SV Điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh cho đủ tiêu chuẩn chọn mẫu. Bước 3: Phát vấn đối tượng bằng bộ câu hỏi.

Nhập liệu, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0. Mối liên quan sử dụng kiểm định chi bình phường (c2).

Kết quả nghiên cứu

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về các BPTT của SV Điều dưỡng

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và tuổi của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa tuổi với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, nhóm SV có độ tuổi từ 20 – 21 có tỷ lệ kiến thức đạt là 9% cao hơn gấp 6,8 lần so với nhóm tuổi 18 – 19 có tỷ lệ 1,4% SV có kiến thức đạt. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong những SV có độ tuổi ≥ 20 có kiến thức cao hơn nhóm tuổi còn lại (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Không có mối liên quan giữa tuổi với thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng.

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và giới tính của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa giới tính với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, tỷ lệ SV nam có kiến thức đạt chỉ 1,3% thấp hơn 7,2 lần so với SV nữ có tỷ lệ kiến thức đạt là 9,3%. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong tỷ lệ SV nữ có kiến thức tốt cao hơn SV nam (Nguyễn Thanh Phong, 2017). Nghiên cứu của Trần quang Tuấn SV nữ có kiến thức tốt hơn SV nam gấp 3,5 lần (Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung, 2023). Nghiên cứu của I.M.López – Medina và cộng sự SV Điều dưỡng nữ có kiến thức về BPTT hơn SV nam (I.M.López-Medina S.Sanz-Martos et al, 2020). Nghiên cứu của K. Part các SV nam tại Đại học Venda không quan tâm đến việc sử dụng BPTT (K. Part et al, 2013).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và năm học của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa năm học với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, SV học từ năm 3 trở lên có kiến thức cao gấp 5,7 lần so với SV học năm nhất và năm 2. Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Thạch ở Đại học Đà Nẵng các SV năm 1 có kiến thức thấp hơn những năm còn lại, điểm trung bình kiến thức SV năm 1 thấp hơn năm 2 là 0,72, năm 3 là 0,63, năm 4 là 1,20 điểm (Nguyễn Tấn Thạch và cộng sự, 2023). Theo kết quả của Mai Thuý Mai và cộng sự kết luận rằng SV năm 4 có tỷ lệ kiến thức đạt cao hơn hẳn so với SV năm nhất (Mai Thúy Mai, Phạm Văn Thân, 2021). Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong những SV đã được học về sức khoẻ sinh sản có kiến thức cao gấp 2,6 lần SV chưa được học về sức khoẻ sinh sản (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Không có mối liên quan giữa năm học với thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng.

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và quê quán của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa quê quán với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, SV sống ở thành thị có kiến thức cao gấp 3,7 lần so với SV sống ở nông thôn.

Có mối liên quan giữa quê quán với thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng, SV sống ở thành thị có thái độ tốt hơn SV ở nông thôn gấp 1,96 lần. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong không có sự khác biệt giữa SV sống ở nông thôn và thành thị (Nguyễn Thanh Phong, 2017). Nghiên cứu trên thanh thiếu niên chưa lập gia đình ở Bang Osun, Nigeria kiến thức về BPTT ở thành thị 92% cao hơn nông thôn 74,7% (OK Israel et al, 2019).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai và nơi ở của SV Điều dưỡng

Không có mối liên quan giữa nơi ở với kiến thức, thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong sự khác biệt giữa nơi ở và kiến thức BPTT của SV cũng không có ý nghĩa thống kê (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và việc SV Điều dưỡng có người yêu

Có mối liên quan giữa SV Điều dưỡng có người yêu với kiến thức, thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng, giữa SV đang có/đã từng có nhưng hiện tại không có người yêu với SV chưa có người yêu thì SV đang có/đã từng có nhưng hiện tại không có người yêu có kiến thức đạt, thái độ tốt cao gấp 2,7 lần và 2,5 lần so với SV chưa có người yêu. Nghiên cứu Trần Quang Tuấn SV có hoặc đã từng có người yêu có kiến thức tốt cao gấp 2,078 lần so với nhóm chưa có người yêu. Có mối liên quan giữa nhóm SV kiến thức tốt về các BPTT với giới tính, có hoặc đã có người yêu (Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung, 2023). Nghiên cứu trên SV Trường Cao đẳng/Đại học ở Hà Nội có/đã có người yêu có kiến thức tốt về các BPTT cao gấp 1,6 lần so với nhóm SV chưa có người yêu (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và nguồn thông tin về BPTT

Có mối liên quan giữa nguồn thông tin về BPTT với kiến thức, thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng, nguồn thông tin từ trường học có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ về BPTT của SV. Nhóm SV nhận thông tin từ trường học có kiến thức đạt cao gấp 4,04 lần so với SV không nhận thông tin BPTT từ trường học. Nghiên cứu của Trần Quang Tuấn SV tiếp cận thông tin từ bạn bè có kiến thức tốt hơn SV không nhận thông về BPTT từ bạn bè (Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung, 2023). Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong cho thấy SV tiếp nhận thông tin từ bạn bè có kiến thức tốt gấp 2,2 lần và thái độ tốt cao gấp 1,7 lần so với nhóm SV không tiếp cận thông về BPTT từ bạn bè, trung tâm tư vấn có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ về BPTT của SV (Nguyễn Thanh Phong, 2017). Nghiên cứu của Sebastián López – Medina trên SV Điều dưỡng trẻ về BPTT ở Tây Ban Nha những SV có được thông tin từ các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe có trình độ kiến thức cao hơn đáng kể và thái độ tuyệt vời đối với việc sử dụng BPTT (Sebastián López-Medina Sanz-Martos et al, 2020).

Báo chí, truyền hình và internet cũng là một trong những yếu tố liên quan đến thái độ về BPTT của SV. SV có nhận thông tin từ báo chí, truyền hình và internet có thái độ tốt gấp 4,3 lần và 7,7 lần so với SV không tiếp nhận thông tin BPTT từ báo chí, truyền hình và internet.

Gia đình cũng là một nguồn thông tin liên quan đến thái độ của SV. Sinh viên nhận thông tin BPTT từ gia đình có thái độ tốt gấp 2,7 lần so với SV không được tiếp cận thông tin từ gia đình.

KẾT LUẬN

Có mối liên quan giữa kiến thức của SV Điều dưỡng với tuổi, giới tính, năm học.

Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của SV Điều dưỡng với quê quán, người yêu, nguồn tiếp cận thông tin là trường học, bạn bè và trung tâm tư vấn.

Có mối liên quan giữa thái độ của SV Điều dưỡng với nguồn tiếp cận thông tin từ báo chí, truyền hình, gia đình và internet.

Tài liệu tham khảo:

Tiếng Việt

[1] Mai Thúy Mai, Phạm Văn Thân. (2021). Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về sức khoẻ sinh sản của sinh viên học viện y năm 2017. Tạp chí Y học Quân sự (350), 48-52.

[2] Hiền Minh. (2023). Lý do mang thai ngoài ý muốn chiếm phần lớn trong số ca phá thai.

[3] Nguyễn Tấn Thạch, Nguyễn Thị Phương Trinh, Nguyễn Thị Mỹ Hiếu, Nguyễn Thị Tường Vi, Hoàng Thị Nam Giang. (2023). Kiến thức về các biện pháp tránh thai và các yếu tố liên quan ở sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe. Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, 89-93.

[4] Nguyễn Thanh Phong. (2017). Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên một số Trường Đại học/Cao đẳng Thành phố Hà Nội và hiệu quả giải pháp can thiệp. Tạp chí Y học Hà Nội.

[5] Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung. (2023). Thực trạng kiến thức về biện pháp tránh thai của sinh viên Điều dưỡng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm 2022. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân, 528 (2).

Tiếng Anh

[6] OK Israel, AA Adeomi, OA Adeoye, MG Israel, AI Olugbenga-Bello. (2019). Contraceptive Knowledge, Access and Up-take among Rural and Urban Unmarried in-school Adolescents in Osun State, Nigeria: A Comparative Study. J Community Med Public Health, 3 (166), 2577-2228.100066.

[7] M.Marimirofa, M.Murwira, F.Machinga, A.Zvoushe, L. S.Gamba. (2022). Knowledge, attitudes and practices on contraceptive use among young people in selected universities in Zimbabwe. Afr J Reprod Health, 26 (10), 55-62.

[8] O.M.Bansode, M.S.Sarao, D.B.Cooper. (2024). Contraception. StatPearls. StatPearls Publishing Copyright © 2024. StatPearls Publishing LLC, Treasure Island (FL).

[9] K. Part, C. Moreau, S. Donati, M. Gissler, I. Fronteira, H. Karro. (2013). Teenage pregnancies in the European Union in the context of legislation and youth sexual and reproductive health services. Acta Obstet Gynecol Scand, 92 (12), 1395-406.

[10] I.M.López-Medina S.Sanz-Martos, C.Álvarez-García et al. (2020). Young Nursing Student's Knowledge and Attitudes about Contraceptive Methods. Int J Environ Res Public Health, 17 (16).

[11] Sebastián López-Medina Sanz-Martos et al. (2020). Young nursing student’s knowledge and attitudes about contraceptive methods. International Journal of Environmental Research and Public Health, 17 (16), 5869.

ThS. Trương Thị Bích Uyên, ThS. Trần Thị Hồng Phương, Huỳnh Thị Trút - Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Một hành trình – Một sứ mệnh: Tổng kết chuỗi chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho sinh viên toàn quốc

Một hành trình – Một sứ mệnh: Tổng kết chuỗi chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho sinh viên toàn quốc

SKV - Sau hơn ba tháng triển khai tại 11 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, chuỗi chương trình truyền thông – giáo dục sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản do Tạp chí Sức Khỏe Việt, Hội Nam y Việt Nam phối hợp DKT International thực hiện đã khép lại với nhiều dấu ấn đậm nét. Không chỉ trang bị kiến thức khoa học, kỹ năng tự bảo vệ cho hàng chục nghìn sinh viên, chương trình còn tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của thanh thiếu niên, hướng tới một thế hệ trẻ sống an toàn, có trách nhiệm và nhân văn.
Chuỗi chương trình tuyên truyền giáo dục: Từ nhà trường đến cộng đồng, lan tỏa tri thức, kiến tạo tương lai cho giới trẻ

Chuỗi chương trình tuyên truyền giáo dục: Từ nhà trường đến cộng đồng, lan tỏa tri thức, kiến tạo tương lai cho giới trẻ

SKV - Chuỗi chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản do Tạp chí Sức Khỏe Việt phối hợp DKT International triển khai tại 10 trường đại học trên toàn quốc đã để lại dấu ấn sâu đậm, góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của hàng chục nghìn sinh viên, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực tới cộng đồng thanh thiếu niên Việt Nam.
Thắp sáng trí thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cho sinh viên Đại học Đà Nẵng

Thắp sáng trí thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cho sinh viên Đại học Đà Nẵng

SKV - Ngày 04/12/2025, tại Đại học Đà Nẵng, hàng trăm sinh viên đã hòa mình vào chương trình Tuyên truyền Sức khỏe Tình dục – Sức khỏe Sinh sản (SKTD – SKSS) 2025 do Tạp chí Sức Khỏe Việt phối hợp Nhà trường và Tổ chức DKT Việt Nam tổ chức. Sự kiện mang đến cho sinh viên những kiến thức thiết thực, gần gũi và hữu ích trong hành trình bảo vệ sức khỏe bản thân.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động