Associated Factors with Nursing Students’ Knowledge and Attitudes Regarding Contraceptive Practices

Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên điều dưỡng

Tóm tắt: Biện pháp tránh thai (BPTT) là hành động ngăn ngừa mang thai. Đây có thể là một thiết bị, một loại thuốc, một quy trình hoặc một hành vi. Tránh thai cho phép mọi người kiểm soát sức khoẻ sinh sản và khả năng tham gia tích cực vào kế hoạch hóa gia đình.

Từ khóa: kiến thức, thái độ, biện pháp tránh thai, sinh viên điều dưỡng.

Abstract: Contraceptive methods (CMs) are measures taken to prevent pregnancy. These may include a device, a medication, a procedure, or a behavior. Contraception enables individuals to control their reproductive health and actively participate in family planning.

Keywords: knowledge, attitude, contraception, nursing students.

Ngày nhận bài: 14/02/2025

Ngày hoàn thiện biên tập: 6/3/2025

Ngày duyệt đăng: 14/3/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 3+4/2025

Đánh giá yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên Điều dưỡng. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Có mối liên quan giữa kiến thức của sinh viên Điều dưỡng với tuổi, giới tính, năm học. Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của sinh viên Điều dưỡng với quê quán, người yêu, nguồn tiếp cận thông tin là trường học, bạn bè và trung tâm tư vấn. Có mối liên quan giữa thái độ của sinh viên Điều dưỡng với nguồn tiếp cận thông tin từ báo chí, truyền hình, gia đình và internet.

Đặt vấn đề

Phá thai đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong mẹ trên toàn thế giới. Có nhiều nguyên do để người mẹ quyết định phá thai nhưng mang thai ngoài ý muốn là một trong những nguyên nhân gặp nhiều nhất, chủ yếu là do không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả biện pháp tránh thai (Hiền Minh, 2023). Do đó kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai cho sinh viên nhằm góp phần giảm các rủi ro mang thai ngoài ý muốn, nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường tình dục, đồng thời có kiến thức và kỹ năng tư vấn sức khoẻ cộng đồng.

Tổng quan y văn

Biện pháp tránh thai (BPTT) là hành động ngăn ngừa mang thai. Đây có thể là một thiết bị, một loại thuốc, một quy trình hoặc một hành vi. Tránh thai cho phép mọi người kiểm soát sức khoẻ sinh sản và khả năng tham gia tích cực vào kế hoạch hóa gia đình. Kiểm soát sinh sản đã được sử dụng từ thời cổ đại, nhưng các phương pháp ngừa thai hiệu quả và an toàn chỉ có sẵn trong thế kỷ 20. Lập kế hoạch, làm cho có sẵn và sử dụng kiểm soát sinh sản được gọi là kế hoạch hóa gia đình (O.M.Bansode, 2024).

Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành về sử dụng biện pháp tránh thai trong giới trẻ tại các Trường Đại học được chọn ở Zimbabwe” của Marimirofa M và cộng sự năm 2022 có 95% phụ nữ trẻ trong các cơ sở Đại học đã từng nghe nói về BPTT và 27% đã từng sử dụng BPTT. Thuốc tránh thai là phương pháp tránh thai phổ biến nhất được biết đến 85% (M.Marimirofa, 2022).

Nghiên cứu “Kiến thức về các biện pháp tránh thai và các yếu tố liên quan ở sinh viên khối ngành khoa học sức khoẻ” của Nguyễn Tấn Thạch và cộng sự năm 2023, sinh viên (SV) Điều dưỡng lần lượt có điểm trung bình kiến thức đều thấp hơn các ngành còn lại, Y Đa khoa là 1,01 điểm, Răng Hàm Mặt là 0,86 điểm và Dược học là 0,94 điểm, SV khối ngành sức khoẻ có kiến thức chưa đầy đủ về các BPTT. Ở nhóm SV ngành Điều dưỡng, kiến thức thực tại của họ thấp hơn hầu hết SV các ngành còn lại (Nguyễn Tấn Thạch và cộng sự, 2023).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thiết kế mô tả cắt ngang. Thực hiện trên 430 SV Điều dưỡng đang theo học tại Trường Đại học Trà Vinh từ 05 - 07/2024. Với tiêu chí chọn vào: SV Điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh đồng ý tham gia nghiên cứu; tiêu chí loại ra: SV không trả lời hoàn chỉnh bộ câu hỏi.

Chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn cỡ mẫu toàn bộ.

Quy trình thu thập số liệu gồm 3 bước: Bước 1: Nghiên cứu viên dựa vào danh sách SV Điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh. Bước 2: Lập danh sách SV Điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh cho đủ tiêu chuẩn chọn mẫu. Bước 3: Phát vấn đối tượng bằng bộ câu hỏi.

Nhập liệu, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0. Mối liên quan sử dụng kiểm định chi bình phường (c2).

Kết quả nghiên cứu

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về các BPTT của SV Điều dưỡng

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và tuổi của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa tuổi với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, nhóm SV có độ tuổi từ 20 – 21 có tỷ lệ kiến thức đạt là 9% cao hơn gấp 6,8 lần so với nhóm tuổi 18 – 19 có tỷ lệ 1,4% SV có kiến thức đạt. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong những SV có độ tuổi ≥ 20 có kiến thức cao hơn nhóm tuổi còn lại (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Không có mối liên quan giữa tuổi với thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng.

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và giới tính của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa giới tính với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, tỷ lệ SV nam có kiến thức đạt chỉ 1,3% thấp hơn 7,2 lần so với SV nữ có tỷ lệ kiến thức đạt là 9,3%. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong tỷ lệ SV nữ có kiến thức tốt cao hơn SV nam (Nguyễn Thanh Phong, 2017). Nghiên cứu của Trần quang Tuấn SV nữ có kiến thức tốt hơn SV nam gấp 3,5 lần (Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung, 2023). Nghiên cứu của I.M.López – Medina và cộng sự SV Điều dưỡng nữ có kiến thức về BPTT hơn SV nam (I.M.López-Medina S.Sanz-Martos et al, 2020). Nghiên cứu của K. Part các SV nam tại Đại học Venda không quan tâm đến việc sử dụng BPTT (K. Part et al, 2013).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và năm học của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa năm học với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, SV học từ năm 3 trở lên có kiến thức cao gấp 5,7 lần so với SV học năm nhất và năm 2. Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Thạch ở Đại học Đà Nẵng các SV năm 1 có kiến thức thấp hơn những năm còn lại, điểm trung bình kiến thức SV năm 1 thấp hơn năm 2 là 0,72, năm 3 là 0,63, năm 4 là 1,20 điểm (Nguyễn Tấn Thạch và cộng sự, 2023). Theo kết quả của Mai Thuý Mai và cộng sự kết luận rằng SV năm 4 có tỷ lệ kiến thức đạt cao hơn hẳn so với SV năm nhất (Mai Thúy Mai, Phạm Văn Thân, 2021). Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong những SV đã được học về sức khoẻ sinh sản có kiến thức cao gấp 2,6 lần SV chưa được học về sức khoẻ sinh sản (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Không có mối liên quan giữa năm học với thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng.

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và quê quán của SV Điều dưỡng

Có mối liên quan giữa quê quán với kiến thức về BPTT của SV Điều dưỡng, SV sống ở thành thị có kiến thức cao gấp 3,7 lần so với SV sống ở nông thôn.

Có mối liên quan giữa quê quán với thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng, SV sống ở thành thị có thái độ tốt hơn SV ở nông thôn gấp 1,96 lần. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong không có sự khác biệt giữa SV sống ở nông thôn và thành thị (Nguyễn Thanh Phong, 2017). Nghiên cứu trên thanh thiếu niên chưa lập gia đình ở Bang Osun, Nigeria kiến thức về BPTT ở thành thị 92% cao hơn nông thôn 74,7% (OK Israel et al, 2019).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai và nơi ở của SV Điều dưỡng

Không có mối liên quan giữa nơi ở với kiến thức, thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong sự khác biệt giữa nơi ở và kiến thức BPTT của SV cũng không có ý nghĩa thống kê (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và việc SV Điều dưỡng có người yêu

Có mối liên quan giữa SV Điều dưỡng có người yêu với kiến thức, thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng, giữa SV đang có/đã từng có nhưng hiện tại không có người yêu với SV chưa có người yêu thì SV đang có/đã từng có nhưng hiện tại không có người yêu có kiến thức đạt, thái độ tốt cao gấp 2,7 lần và 2,5 lần so với SV chưa có người yêu. Nghiên cứu Trần Quang Tuấn SV có hoặc đã từng có người yêu có kiến thức tốt cao gấp 2,078 lần so với nhóm chưa có người yêu. Có mối liên quan giữa nhóm SV kiến thức tốt về các BPTT với giới tính, có hoặc đã có người yêu (Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung, 2023). Nghiên cứu trên SV Trường Cao đẳng/Đại học ở Hà Nội có/đã có người yêu có kiến thức tốt về các BPTT cao gấp 1,6 lần so với nhóm SV chưa có người yêu (Nguyễn Thanh Phong, 2017).

Mối liên quan đến kiến thức, thái độ về BPTT và nguồn thông tin về BPTT

Có mối liên quan giữa nguồn thông tin về BPTT với kiến thức, thái độ về BPTT của SV Điều dưỡng, nguồn thông tin từ trường học có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ về BPTT của SV. Nhóm SV nhận thông tin từ trường học có kiến thức đạt cao gấp 4,04 lần so với SV không nhận thông tin BPTT từ trường học. Nghiên cứu của Trần Quang Tuấn SV tiếp cận thông tin từ bạn bè có kiến thức tốt hơn SV không nhận thông về BPTT từ bạn bè (Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung, 2023). Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong cho thấy SV tiếp nhận thông tin từ bạn bè có kiến thức tốt gấp 2,2 lần và thái độ tốt cao gấp 1,7 lần so với nhóm SV không tiếp cận thông về BPTT từ bạn bè, trung tâm tư vấn có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ về BPTT của SV (Nguyễn Thanh Phong, 2017). Nghiên cứu của Sebastián López – Medina trên SV Điều dưỡng trẻ về BPTT ở Tây Ban Nha những SV có được thông tin từ các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe có trình độ kiến thức cao hơn đáng kể và thái độ tuyệt vời đối với việc sử dụng BPTT (Sebastián López-Medina Sanz-Martos et al, 2020).

Báo chí, truyền hình và internet cũng là một trong những yếu tố liên quan đến thái độ về BPTT của SV. SV có nhận thông tin từ báo chí, truyền hình và internet có thái độ tốt gấp 4,3 lần và 7,7 lần so với SV không tiếp nhận thông tin BPTT từ báo chí, truyền hình và internet.

Gia đình cũng là một nguồn thông tin liên quan đến thái độ của SV. Sinh viên nhận thông tin BPTT từ gia đình có thái độ tốt gấp 2,7 lần so với SV không được tiếp cận thông tin từ gia đình.

KẾT LUẬN

Có mối liên quan giữa kiến thức của SV Điều dưỡng với tuổi, giới tính, năm học.

Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của SV Điều dưỡng với quê quán, người yêu, nguồn tiếp cận thông tin là trường học, bạn bè và trung tâm tư vấn.

Có mối liên quan giữa thái độ của SV Điều dưỡng với nguồn tiếp cận thông tin từ báo chí, truyền hình, gia đình và internet.

Tài liệu tham khảo:

Tiếng Việt

[1] Mai Thúy Mai, Phạm Văn Thân. (2021). Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về sức khoẻ sinh sản của sinh viên học viện y năm 2017. Tạp chí Y học Quân sự (350), 48-52.

[2] Hiền Minh. (2023). Lý do mang thai ngoài ý muốn chiếm phần lớn trong số ca phá thai.

[3] Nguyễn Tấn Thạch, Nguyễn Thị Phương Trinh, Nguyễn Thị Mỹ Hiếu, Nguyễn Thị Tường Vi, Hoàng Thị Nam Giang. (2023). Kiến thức về các biện pháp tránh thai và các yếu tố liên quan ở sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe. Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, 89-93.

[4] Nguyễn Thanh Phong. (2017). Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên một số Trường Đại học/Cao đẳng Thành phố Hà Nội và hiệu quả giải pháp can thiệp. Tạp chí Y học Hà Nội.

[5] Trần Quang Tuấn, Đào Thị Hồng Nhung. (2023). Thực trạng kiến thức về biện pháp tránh thai của sinh viên Điều dưỡng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm 2022. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân, 528 (2).

Tiếng Anh

[6] OK Israel, AA Adeomi, OA Adeoye, MG Israel, AI Olugbenga-Bello. (2019). Contraceptive Knowledge, Access and Up-take among Rural and Urban Unmarried in-school Adolescents in Osun State, Nigeria: A Comparative Study. J Community Med Public Health, 3 (166), 2577-2228.100066.

[7] M.Marimirofa, M.Murwira, F.Machinga, A.Zvoushe, L. S.Gamba. (2022). Knowledge, attitudes and practices on contraceptive use among young people in selected universities in Zimbabwe. Afr J Reprod Health, 26 (10), 55-62.

[8] O.M.Bansode, M.S.Sarao, D.B.Cooper. (2024). Contraception. StatPearls. StatPearls Publishing Copyright © 2024. StatPearls Publishing LLC, Treasure Island (FL).

[9] K. Part, C. Moreau, S. Donati, M. Gissler, I. Fronteira, H. Karro. (2013). Teenage pregnancies in the European Union in the context of legislation and youth sexual and reproductive health services. Acta Obstet Gynecol Scand, 92 (12), 1395-406.

[10] I.M.López-Medina S.Sanz-Martos, C.Álvarez-García et al. (2020). Young Nursing Student's Knowledge and Attitudes about Contraceptive Methods. Int J Environ Res Public Health, 17 (16).

[11] Sebastián López-Medina Sanz-Martos et al. (2020). Young nursing student’s knowledge and attitudes about contraceptive methods. International Journal of Environmental Research and Public Health, 17 (16), 5869.

ThS. Trương Thị Bích Uyên, ThS. Trần Thị Hồng Phương, Huỳnh Thị Trút - Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Một hành trình – Một sứ mệnh: Tổng kết chuỗi chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho sinh viên toàn quốc

Một hành trình – Một sứ mệnh: Tổng kết chuỗi chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho sinh viên toàn quốc

SKV - Sau hơn ba tháng triển khai tại 11 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, chuỗi chương trình truyền thông – giáo dục sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản do Tạp chí Sức Khỏe Việt, Hội Nam y Việt Nam phối hợp DKT International thực hiện đã khép lại với nhiều dấu ấn đậm nét. Không chỉ trang bị kiến thức khoa học, kỹ năng tự bảo vệ cho hàng chục nghìn sinh viên, chương trình còn tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của thanh thiếu niên, hướng tới một thế hệ trẻ sống an toàn, có trách nhiệm và nhân văn.
Chuỗi chương trình tuyên truyền giáo dục: Từ nhà trường đến cộng đồng, lan tỏa tri thức, kiến tạo tương lai cho giới trẻ

Chuỗi chương trình tuyên truyền giáo dục: Từ nhà trường đến cộng đồng, lan tỏa tri thức, kiến tạo tương lai cho giới trẻ

SKV - Chuỗi chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản do Tạp chí Sức Khỏe Việt phối hợp DKT International triển khai tại 10 trường đại học trên toàn quốc đã để lại dấu ấn sâu đậm, góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của hàng chục nghìn sinh viên, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực tới cộng đồng thanh thiếu niên Việt Nam.
Thắp sáng trí thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cho sinh viên Đại học Đà Nẵng

Thắp sáng trí thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cho sinh viên Đại học Đà Nẵng

SKV - Ngày 04/12/2025, tại Đại học Đà Nẵng, hàng trăm sinh viên đã hòa mình vào chương trình Tuyên truyền Sức khỏe Tình dục – Sức khỏe Sinh sản (SKTD – SKSS) 2025 do Tạp chí Sức Khỏe Việt phối hợp Nhà trường và Tổ chức DKT Việt Nam tổ chức. Sự kiện mang đến cho sinh viên những kiến thức thiết thực, gần gũi và hữu ích trong hành trình bảo vệ sức khỏe bản thân.

Cùng chuyên mục

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
10 bí quyết tối ưu hóa sức khỏe và chức năng của não bộ

10 bí quyết tối ưu hóa sức khỏe và chức năng của não bộ

Tóm tắt: Não bộ con người là một hệ thống phức tạp với hơn 100 tỷ tế bào thần kinh và vô số kết nối, vượt xa khả năng tính toán của bất kỳ siêu máy tính nào. Não không chỉ điều khiển các chức năng cơ bản như suy nghĩ, cảm xúc và hành vi, mà còn là nền tảng của trí nhớ và nhận thức. Duy trì một bộ não khỏe mạnh là yếu tố tiên quyết để đạt được sự cân bằng, niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống.
Châm cứu và cấy chỉ trong tăng cường trí nhớ ở người trung cao tuổi – tổng quan quốc tế và gợi ý ứng dụng tại Việt Nam

Châm cứu và cấy chỉ trong tăng cường trí nhớ ở người trung cao tuổi – tổng quan quốc tế và gợi ý ứng dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ thuộc phạm vi “kiện vong – não suy – huyết hư sinh phong”, liên quan chủ yếu đến Tâm, Thận, Tỳ và Can. “Tâm chủ thần minh, Thận tàng tinh, tinh hóa tủy, tủy thông ư não” (Hoàng Đế Nội Kinh). Châm cứu có tác dụng điều khí huyết, bổ thận ích tinh, an thần khai khiếu, giúp thần chí minh mẫn, trí nhớ phục hồi. Cấy chỉ duy trì kích thích lâu dài tại huyệt, tạo “hiệu ứng trường châm”, rất phù hợp với các bệnh mạn tính, hư chứng, sa sút trí nhớ do tuổi già.
Tiếp cận từ thần kinh học ứng dụng

Tiếp cận từ thần kinh học ứng dụng

Tóm tắt: Hệ thống kích hoạt lưới RAS (Reticular Activating System - RAS) đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa sự tỉnh thức, chú ý có chọn lọc và xử lý thông tin của não bộ. Báo cáo này trình bày cơ sở thần kinh học của RAS, mối liên hệ giữa RAS với các quá trình ghi nhớ, lưu trữ và truy xuất thông tin, cùng với các phương pháp huấn luyện não bộ dựa trên nguyên lý hoạt động của RAS nhằm tăng cường năng lực trí nhớ và tối ưu hóa hoạt động nhận thức.

Các tin khác

Hình thành trí nhớ và cách khôi phục trí nhớ bằng y học cổ truyền

Hình thành trí nhớ và cách khôi phục trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt: Não bộ là một trong nhứng bộ phận quan trọng nhất của cơ thể người, giúp người hiểu được những thông tin xung quanh, để điều phối hành vi, cảm giác, cảm xúc của người. Não bộ thu nhận và xử lý thông tin cùng một lúc thông qua 5 loại giác quan: thị giác, khướu giác, thính giác, vị giác và xúc giác nên não có cấu tạo rất chi tiết.
Trí nhớ và hoạt động nhận thức những giải pháp nâng cao, bảo tồn và phòng chống suy giảm bằng đông y, kết hợp y học hiện đại

Trí nhớ và hoạt động nhận thức những giải pháp nâng cao, bảo tồn và phòng chống suy giảm bằng đông y, kết hợp y học hiện đại

Tóm tắt: Trong Đông y, câu “Tỳ chủ ý – Tâm chủ thần – Thận tàng chí” là một phần trong học thuyết Ngũ tạng và tinh thần (Ngũ tạng tàng thần), nói về mối liên hệ giữa các cơ quan nội tạng và hoạt động tinh thần – tâm lý của con người.
Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Tóm tắt: Trước khi chúng ta có được thứ gọi là trí nhớ thì “nó” phải trải qua một quá trình hình thành tuần tự như sau: Khi chúng ta nhìn, nghe hoặc cảm nhận thấy một sự vật hoặc một hiện tượng nào đó, bộ não sẽ ghi nhớ những điều này và tự sắp xếp lại. Khi chúng ta lặp đi lặp lại những điều này, não bộ sẽ tự động chuyển những dữ liệu đã được sắp xếp đó từ trí nhớ tạm thời thành trí nhớ dài hạn.
Giải mã khoa học não bộ (tâm thức): Trí nhớ, quên, suy giảm bệnh lý và mất trí nhớ

Giải mã khoa học não bộ (tâm thức): Trí nhớ, quên, suy giảm bệnh lý và mất trí nhớ

Tóm tắt: Trí nhớ là tài sản vô giá và là nền tảng cốt lõi của Tâm thức (Consciousness), định hình nên bản sắc, tính cách và khả năng tương tác của con người với thế giới. Nếu cơ thể vật chất chịu sự bào mòn của thời gian, thì trí nhớ là sợi dây liên kết quá khứ với hiện tại, cho phép chúng ta học hỏi, đưa ra quyết định hợp lý và xây dựng các mối quan hệ xã hội hài hòa.
Sự thoái hoá thần kinh và bệnh alzheimer

Sự thoái hoá thần kinh và bệnh alzheimer

Tóm tắt: Già hóa dân số không chỉ làm tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe mạn tính mà còn kéo theo sự gia tăng đáng kể các bệnh lý thoái hóa thần kinh, gây ảnh hưởng đến chức năng nhận thức, vận động, hành vi và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.
Giá trị của Thiền và Khí công thư giãn

Giá trị của Thiền và Khí công thư giãn

A. TÓM TẮT
Y học cổ truyền phòng ngừa suy giảm trí nhớ

Y học cổ truyền phòng ngừa suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Đánh giá hiệu quả điều trị đau bằng phương pháp châm tả bằng kim tiêm kết hợp hút giảm áp tại bệnh viện PHCN tỉnh Lào Cai

Đánh giá hiệu quả điều trị đau bằng phương pháp châm tả bằng kim tiêm kết hợp hút giảm áp tại bệnh viện PHCN tỉnh Lào Cai

A. TÓM TẮT
Chảy máu nướu ( máu chân răng): Một số nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Chảy máu nướu ( máu chân răng): Một số nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Tóm tắt: Chảy máu miệng, đặc biệt là chảy máu từ nướu (máu chân răng) là một vấn đề sức khỏe răng miệng phổ biến, nhiều người từng gặp phải khi chải răng, dùng chỉ nha khoa hoặc sau khi ăn nhai. Phần lớn các trường hợp không nguy hiểm, nhưng cũng có khi đây là dấu hiệu cảnh báo bệnh lý răng miệng hoặc sức khỏe toàn thân. Hiểu rõ nguyên nhân và cách xử trí giúp mỗi cá nhân, cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe. Bài viết này trình bày một cái nhìn tổng quan về các nguyên nhân chính gây ra tình trạng này, từ các vấn đề tại chỗ trong khoang miệng đến các bệnh lý toàn thân. Đồng thời, cung cấp các phương pháp chẩn đoán và hướng dẫn chi tiết về các cách xử trí hiệu quả, từ các biện pháp tự chăm sóc tại nhà đến các can thiệp chuyên sâu tại phòng khám nha khoa, nhằm mục đích phòng ngừa và điều trị dứt điểm tình trạng chảy máu.
Tổng quan hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa bằng các phương pháp y học cổ truyền

Tổng quan hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa bằng các phương pháp y học cổ truyền

Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm tổng hợp, phân tích hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa (TKT) bằng các phương pháp Y học cổ truyền (YHCT) công bố gần đây nhất, từ đó hệ thống hóa dữ liệu, cập nhật các thông tin để có căn cứ khoa học cụ thể trong nghiên cứu, học tập và ứng dụng vào điều trị cho bệnh nhân (BN). Kết quả chỉ ra rằng, điều trị đau TKT: (1) Thủy châm kết hợp điện châm và bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh hiệu quả hơn so với không kết hợp thủy châm; (2) Tác động cột sống kết hợp với điện châm hiệu quả hơn xoa bóp bấm huyệt (XBBH) kết hợp với điện châm; (3) Nắn chỉnh cột sống kết hợp điện châm, hồng ngoại hiệu quả hơn XBBH kết hợp điện châm, hồng ngoại; (4) Điện châm huyệt giáp tích L1-L5 kết hợp với các huyệt theo công thức cùng bài thuốc khớp, điện xung hiệu quả hơn so với không kết hợp điện châm giáp tích L1-L5; (5) Sử dụng cấy chỉ POD vào huyệt điều trị đau thần kinh tọa là một phương pháp điều trị có kết quả tốt, an toàn. (6) Điện châm và XBBH kết hợp viên hoàn cứng Tam tý có hiệu quả điều trị đau TKT do thoái hóa cột sống thắt lưng (CSTL); (7) Bài thuốc Thân thống trục ứ thang kết hợp với thủy châm có hiệu quả điều trị đau TKT do thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ); (8) Điện châm, XBBH kết hợp bài thuốc Tứ vật đào hồng có hiệu quả điều trị đau TKT thể huyết ứ; (9) Sóng ngắn kết hợp XBBH, điện châm và kéo giãn cột sống có hiệu quả với BN TVĐĐ CSTL; (10) Siêu âm trị liệu kết hợp thuốc thấp khớp hoàn P/H và châm cứu có hiệu quả với BN đau TKT do thoái hóa CSTL. Từ khóa: Điều trị; điện châm; thủy châm; bài thuốc.
Xem thêm
Phiên bản di động