Cytokine-Mediated T Cells as a Major Pathogenic Factor in Hyperkeratotic Eczema Due to Atopic Dermatitis

Tế bào T qua trung gian Cytokine yếu tố chính trong á sừng do viêm da dị ứng

Tóm tắt: Á sừng là bệnh viêm da dị ứng (AD) mãn tính được đặc trưng bởi rối loạn chức năng hàng rào da, rối loạn đáp ứng miễn dịch và sinh học với khuẩn lạc của Staphylococcus. Sự xâm nhập của nhiều tập hợp tế bào trợ giúp T khác nhau vào vùng da bị tổn thương và sau đó giải phóng cytokine là dấu hiệu đặc trưng của AD. Sự giải phóng các cytokine bởi cả tế bào T và tế bào sừng đóng vai trò chính trong tình trạng viêm da và gây ra bệnh AD.

Từ khóa: Tế bào T, trung gian, Cytokine, á sừng, viêm da dị ứng.

DOI: https://doi.org/10.63472/sucv.06202525

Abstract: Hyperkeratotic eczema (Asung) is a chronic atopic dermatitis (AD) characterized by dysfunction of the skin barrier, dysregulated immune responses, and colonization with Staphylococcus species. The infiltration of various T-helper cell subsets into affected skin areas, followed by cytokine release, is a hallmark of AD. The secretion of cytokines by both T cells and keratinocytes plays a central role in skin inflammation and drives the development of AD.

Keywords: T cells, mediators, cytokines, parakeratosis, atopic dermatitis.

Ngày nhận bài: 5/5/2025

Ngày hoàn thiện biên tập: 20/5/2025

Ngày duyệt đăng: 25/06/2025

Bài đăng dự kiến Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 7+8/2025

Viêm da dị ứng (AD) là một trong những bệnh viêm da mãn tính phổ biến nhất, ảnh hưởng đến khoảng 15% đến 25% trẻ em và 3% đến 10% người lớn trên toàn thế giới. Các tổn thương thường xuất hiện từ lúc trẻ đến độ tuổi 30. AD được đặc trưng bởi các tổn thương da dạng chàm, khô da, mảng bong tróc ban đỏ và ngứa dữ dội khi bùng phát.

Cơ chế bệnh sinh của AD rất phức tạp và liên quan đến nhiều yếu tố kết hợp, bao gồm các yếu tố di truyền, rối loạn điều hòa miễn dịch, chủ yếu liên quan đến viêm loại 2; kích thích môi trường, chất gây dị ứng, căng thẳng và rối loạn sinh lý, vi khuẩn với sự xâm nhập của Staphylococcus aureus chiếm ưu thế . AD thường liên quan đến nồng độ globulin miễn dịch E trong huyết thanh tăng cao và tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh mẫn cảm loại I, tăng nguy cơ phát triển dị ứng thực phẩm, viêm mũi dị ứng hoặc hen suyễn, …với các bệnh đi kèm khác như béo phì, bệnh tim mạch. bệnh tật và ung thư.

Đặc điểm cổ điển của AD là phản ứng miễn dịch loại 2 mạnh mẽ, rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ da, biệt hoá biểu bì kém và tăng tính thấm của da. Sự thâm nhiễm tế bào viêm được tìm thấy ở vùng da bị tổn thương AD được đặc trưng bởi sự hiện diện của các tế bào bạch huyết bẩm sinh loại 2 (ILC2) và các quần thể tế bào T khác nhau sản xuất ra các cytokine thúc đẩy tình trạng viêm chiếm ưu thế loại 2 loại T trợ giúp (Th). Tế bào biểu bì dạng sừng hoá sớm chiếm ưu thế lớp biểu bì, cũng là nhân tố chính trong môi trường gây viêm AD. Những tế bào này tạo thành nguồn cung cấp cytokine chính, bao gồm interleukin (IL)-25, IL-33, và thymic stromal lymphopoietin (TSLP), chemokine và peptide kháng khuẩn điều phối sự xâm nhập của tế bào T cũng như các tế bào miễn dịch bẩm sinh như ILC và tế bào mast ở vùng da bị tổn thương. Hơn nữa, S.aureus góp phần gây ra rối loạn điều hòa miễn dịch và rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ.

Tế bào T trong AD: Sự thâm nhiễm qua da của nhiều tập hợp tế bào T gây độc tế bào CD4+ Th và CD8+ (Tc) có liên quan chặt chẽ đến sinh bệnh học AD. Những tế bào này là nguồn chính làm tăng nồng độ của các cytokine loại 2 như IL-4, IL-5, IL-13 và IL-31, và sự xâm nhập của ILC2 vào vùng da tổn thương góp phần làm tăng Mức độ IL-13 và IL-5. Sự hiện diện của các tế bào Th2/Tc2, Th22/Tc22, Th17 và Th1 so với làn da khỏe mạnh, da AD không tổn thương biểu hiện sự thâm nhiễm tế bào T tăng lên và biểu hiện các cytokine liên quan đến Th2, Th22 và Th1.

Tế bào T điều tiết (Treg) và/hoặc rối loạn chức năng Tregs ở bệnh nhân AD là rất quan trọng trong việc phát triển và duy trì khả năng tự dung nạp qua trung gian cytokine ức chế miễn dịch. Thiếu hụt chức năng Tregs có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh AD.

Sự phát triển gần đây của công nghệ RNA đơn bào đã mang lại cái nhìn sâu sắc mới về đặc tính của tế bào T trong da AD. Các mẫu AD tổn thương được đặc trưng bởi sự biểu hiện mạnh mẽ của các cytokine IL-13, IL-26 và một phần của các cytokine IL-22 trong các tế bào T đã hoạt hóa, các tế bào T tăng sinh và các tế bào TNK. Sự biểu hiện tăng cao của IL-26 được phát hiện có liên quan đến nồng độ IL-17A thấp ở các tổn thương AD ở người trưởng thành, cho thấy các tế bào Th17 bị lệch lạc về mặt chức năng trong quá trình phát triển bệnh. Trong tổn thương AD đã lành ở người lớn, người ta cho rằng miễn dịch lệch Th1 có liên quan đến sự thuyên giảm lâm sàng. Điều thú vị là việc xác định các quần thể cụ thể của các tế bào miễn dịch liên quan đến bệnh duy trì kiểu hình viêm trong bệnh AD đã được giải quyết, bao gồm cả tế bào Th2 và Tc2, cho thấy rằng các tế bào này có thể rất quan trọng đối với sự tái phát bệnh.

Thông qua việc giải phóng các cytokine để đáp ứng với các kích thích của môi trường như kháng nguyên vi khuẩn và chất gây dị ứng, các tế bào sừng góp phần kích hoạt tế bào ILC2 và Th2 cũng như khả năng phản ứng quá mức của da AD. Môi trường viêm dẫn đến nhiều đặc điểm AD như rối loạn chức năng hàng rào, ngứa, khiếm khuyết trong sản xuất peptide kháng khuẩn và sự xâm nhập của cả tế bào miễn dịch bẩm sinh và thích nghi. Do đó, qua trung gian Cytokine giữa tế bào T và tế bào keratinocytes đóng vai trò chính trong sự khởi phát và tiến triển của AD.

Các protein trong quá trình biệt hóa tế bào sừng dẫn đến hình thành lớp vỏ sừng hóa chịu trách nhiệm về chức năng hàng rào lớp sừng. Rối loạn chức năng hàng rào biểu bì ở da AD bị tổn thương một phần liên quan đến việc giảm mức độ filaggrin và các bất thường về sự liên kết chặt chẽ. Nhiều cytokine được điều hòa tăng cường trong các tổn thương AD, bao gồm IL-4, IL-13, IL-31, IL-22, IL-17A và oncostatin M, được biết là làm thay đổi chức năng rào cản thông qua việc ức chế tổng hợp protein hàng rào biểu bì (corneodesmosin, filaggrin , involucrin, loricrin, keratin-10), các liên kết chặt chẽ (desmocollin, ZO-1, claudin-1, và -4) và/hoặc lipid (axit béo elongase ELOVL3 và ELOVL6, glucocerebrosidase, EO ceramides). Điều thú vị là, IL-24, có biểu hiện tăng lên trong các tế bào sừng và biểu bì được kích thích bằng cytokine Th2 ở bệnh nhân AD, đã được đề xuất như một chất trung gian then chốt để ức chế sự biệt hóa tế bào sừng. Hơn nữa, IL-4 và IL-13 làm tăng biểu hiện trong tế bào sừng của kallikrein (KLK)5 và KLK7, các protein được biết là được điều hòa trong lớp sừng của bệnh nhân AD. KLK là các protease quan trọng liên quan đến sự thoái biến của các phân tử bám dính giữa các tế bào, dẫn đến bong tróc, ức chế tính toàn vẹn của hàng rào và gây ra sự sản xuất cytokine gây viêm bởi các tế bào sừng, bao gồm TSLP.

Ngoài ra, sự phá vỡ rào cản tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các sản phẩm vi sinh vật và các chất gây dị ứng đóng vai trò là tín hiệu nguy hiểm kích thích giải phóng các chất báo động biểu bì điển hình AD (TSLP, IL-25 và IL-33) từ tế bào sừng. Những chất báo động này kích hoạt các tế bào miễn dịch cư trú trên da, bao gồm tế bào T và ILC, đồng thời là tác nhân chính gây ra phản ứng miễn dịch dị ứng.

Tế bào T qua trung gian Cytokine yếu tố chính  trong á sừng do viêm da dị ứng

Vi khuẩn S.aureus (phế cầu khuẩn)S. epidermidis (tụ cầu vàng) có thể làm trầm trọng thêm tình trạng phá vỡ hàng rào bảo vệ da AD bằng cách tác động trực tiếp lên tế bào sừng. Các hợp chất có nguồn gốc từ S. Aureus , chẳng hạn như axit lipoteichoic (LTA), đã được chứng minh là có tác dụng ức chế sự biệt hóa giai đoạn cuối của tế bào sừng. Các vi khuẩn này vừa là nhiễm khuẩn cơ hội vừa là kháng nguyên và chất gây dị ứng bới các chất tiết của chúng.

Tóm lại:

  1. Với AD, cần loại bỏ các kháng nguyên và các chất gây kích ứng dị ứng;

  2. Ức chế các tế bào T sinh ra các Cytokine từ các tế bào như Th1, Th2, Th22, Th17 … muốn ức chế thì tất yếu phải ức chế NF-kB.

  3. Cocticoid có nguy cơ làm tăng nhiễm khuẩn ở giai đoạn bùng phát vì nó làm suy giảm năng lực miễn dịch, sớm mất hiệu quả do vậy không nên lạm dụng.

Mélanie Humeau, Katia Boniface & Charles Bodet Đại học Bordeaux, Bordeaux, Pháp. Lược dịch: Hoàng Sầm
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Các bệnh thường gặp trong mùa hè và cách phòng ngừa

Các bệnh thường gặp trong mùa hè và cách phòng ngừa

Mùa hè là thời điểm mà nhiều người mong đợi với những kỳ nghỉ, chuyến du lịch và hoạt động ngoài trời. Tuy nhiên, đây cũng là thời gian mà nhiều bệnh tật có thể bùng phát do thời tiết nóng bức và độ ẩm cao. Việc nhận biết các bệnh thường gặp trong mùa hè và áp dụng các biện pháp phòng ngừa là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe của bạn và gia đình.
Sự thật bất ngờ: Tôi đã thoát khỏi zona chỉ sau vài ngày nhờ cách này

Sự thật bất ngờ: Tôi đã thoát khỏi zona chỉ sau vài ngày nhờ cách này

(SKV) - Viêm da là một tình trạng phổ biến, gây không ít phiền toái cho người mắc phải. Đặc biệt, những ai từng bị zona thần kinh đều hiểu rõ cảm giác đau rát, ngứa ngáy khó chịu mà nó mang lại. Tuy nhiên, tôi đã may mắn tìm được giải pháp hiệu quả – Thuốc viêm da Bảo Phương – giúp tôi nhanh chóng thoát khỏi tình trạng này.
Các bài thuốc Y học cổ truyền chữa bệnh viêm da dị ứng, an toàn, hiểu quả

Các bài thuốc Y học cổ truyền chữa bệnh viêm da dị ứng, an toàn, hiểu quả

Viêm da dị ứng là một bệnh ngoài da da thể mãn tính do hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng quá mẫn với một hoặc một vài yếu tố kích thích nào đó, dẫn tới các triệu chứng viêm nhiễm trên da như nổi dát đỏ, mẩn ngứa, da khô sần, nhạy cảm…và dễ bị nhiễm trùng do bệnh nhân gãi nhiều. Hiện nay chữa viêm da dị ứng bằng bài thuốc Y học cổ truyền đang được nhiều người lựa chọn nhằm loại bỏ bệnh từ gốc và đảm bảo an toàn cho sức khỏe.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động