A Study on Attitudes Toward Cerebral Stroke Prevention in Type 2 Diabetic Patients at Tra Vinh Provincial General Hospital, 2024

THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2024

Đột quỵ là một trong những bệnh lý nguy hiểm, tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư và cao hơn cả nhồi máu cơ tim. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế, để lại nhiều di chứng nặng nề, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Tóm tắt:

Các nghiên cứu trước đây cho thấy hiểu biết về đột quỵ trong cộng đồng còn thấp, thái độ còn chủ quan dẫn đến xử trí sai và tỷ lệ tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời còn hạn chế. Đái tháo đường là một yếu tố nguy cơ gây đột quỵ, đặc biệt là nhồi máu não. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên 311 bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2024. Kết quả cho thấy 97,7% người bệnh có thái độ đạt trong dự phòng đột quỵ não, thể hiện kết quả khả quan trong nhận thức và thái độ của nhóm nghiên cứu.

Từ khóa: Đột quỵ, Đái tháo đường.

DOI: http://doi.org/10.63472/sucv.06202502

Summary:

Previous studies have shown that community awareness of stroke remains low, with a generally complacent attitude leading to inappropriate responses and limited timely access to medical services. Diabetes mellitus is a risk factor for stroke, particularly ischemic stroke. This study employed a cross-sectional descriptive design involving 311 outpatients with type 2 diabetes mellitus at Tra Vinh General Hospital from May to July 2024. The results indicated that 97.7% of patients demonstrated an appropriate attitude toward stroke prevention, reflecting a positive outcome in the awareness and attitudes of the study population.

Keywords: Stroke; Diabetes mellitus.

Ngày nhận bài: 7/5/2025

Ngày phản biện khoa học: 11/5/2025

Ngày duyệt bài: 27/5/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 5+6/2025

Đặt vấn đề

Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 200.000 ca mắc đột quỵ mới mỗi năm [1]. Trong số các trường hợp sống sót, có khoảng 10 - 13% bị tàn phế, 12% hồi phục một phần và chỉ 25% có thể đi lại độc lập [2]. Đái tháo đường là yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là nhồi máu não, cao gấp 1,5–3 lần so với người không mắc bệnh [3]. Theo Xuân Thị Thu Hương (2021), thái độ xử trí khi phát hiện đột quỵ còn chậm và mang tính truyền miệng, dẫn đến xử trí sai và chỉ 25% bệnh nhân được đưa đi cấp cứu kịp thời. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy chỉ 7,1% người tham gia chọn gọi cấp cứu và 47,6% chọn chờ bệnh nhân ổn định mới đưa đi viện [4].

Tổng quan nghiên cứu

Đột quỵ là tình trạng tổn thương não cấp tính do thiếu máu hoặc xuất huyết não. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có khoảng 15 triệu người bị đột quỵ, trong đó 5 triệu tử vong và 5 triệu bị tàn phế suốt đời. Bệnh gây hậu quả nặng nề về sức khỏe, tinh thần, và kinh tế cho người bệnh cũng như cộng đồng [5]. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi, giới, nghề nghiệp và các yếu tố thay đổi được như tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá [6], [7]. Đái tháo đường làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và nguy cơ đột quỵ lên gấp 2–3 lần [8]. Mặc dù vậy, nghiên cứu của Xuân Thị Thu Hương cũng ghi nhận tỉ lệ gọi cấp cứu khi có dấu hiệu đột quỵ chỉ đạt 7,1% [4]. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc cải thiện thái độ dự phòng.

Kết quả và thảo luận

Biểu đồ 1. Thái độ về dự phòng đột quỵ não ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

Tỉ lệ người bệnh có thái độ đạt là 97,7% (n = 304). Kết quả này phản ánh sự nhận thức tích cực và sự tiếp nhận tốt thông tin về phòng ngừa đột quỵ. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Nguyệt (96,3%) [9], cho thấy xu hướng tương đồng trong cộng đồng. Thái độ tích cực có thể thúc đẩy hành vi phòng ngừa và cải thiện sức khỏe tim mạch, từ đó nâng cao chất lượng sống.

THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2024

Bảng 2. Thái độ dự phòng của đối tượng nghiên cứu về đột quỵ (n = 311)

Câu hỏi

Rất đồng ý

Đồng ý

Không ý kiến

Không đồng ý

Rất không đồng ý

Sẵn sàng phòng ngừa đột quỵ

125 (40,2%)

182 (58,5%)

3 (1,0%)

1 (0,3%)

0 (0%)

Dự phòng đột quỵ là cần thiết

125 (40,2%)

183 (58,8%)

3 (1,0%)

0 (0%)

0 (0%)

Đột quỵ gây áp lực kinh tế, tinh thần

111 (35,7%)

176 (56,6%)

24 (7,7%)

0 (0%)

0 (0%)

Có 98,7% người bệnh cho rằng đột quỵ có thể phòng ngừa. So với nghiên cứu của Nguyễn Phương Thúy (92%) [10] và Nguyễn Thị Thanh Tình (54,7%) [11], kết quả cho thấy sự khác biệt về mức độ nhận thức giữa các quần thể nghiên cứu.

Bảng 3. Mối liên quan giữa thái độ và đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố

Thái độ (311)

Giá trị P

OR (95% KTC)

Đạt (304)

Không đạt (7)

n (%)

n (%)

Tuổi

18-36

6 (100)

0 (0)

0,706

1

37-55

64 (96,97)

2 (3,03)

0,999

0 (0)

55-70

190 (98,45)

3 (1,55)

0,713

0,688 (0,093-5,066)

>70

44 (95,65)

2 (4,35)

0,255

0,347 (0,056-2,142)

Giới tính

Nam

96(98,0%)

2(2,0%)

Nữ

208(97,7%)

5(2,3%)

0,214

0,711(0,415-1,218)

Dân tộc

Kinh

266 (98,52)

4 (1,48)

0,03

1

Hoa

3 (75)

1 (25)

0,131

0,263 (0,046-1,49)

Khmer

35 (94,59)

2 (5,41)

0,196

5,833 (0,402-84,605)

Số năm đã mắc bệnh đái tháo đường

Dưới 1 năm

26 (100)

0 (0)

1

1

2-3 năm

33 (97,06)

1 (2,94)

0,998

0 (0)

3-4 năm

43 (100)

0 (0)

0,985

1,02 (0,119-8,747)

>4 năm

202 (97,12)

6 (2,88)

0,998

0 (0)

Tiền sử gia đình có đột quỵ

23 (95,83)

1 (4,17)

1

Không

281 (97,91)

6 (2,09)

0,519

2,036 (0,235-17,643)

Kết quả cho thấy tỉ lệ thái độ đạt ở nhóm tuổi 37–70 rất cao (từ 95,65–98,45%). Nhóm 18–36 tuổi có tỉ lệ đạt 100%, tuy nhiên mẫu nhỏ và không có ý nghĩa thống kê. Giới tính không có sự khác biệt (nam 98%, nữ 97,7%), giá trị OR = 0,711 và p = 0,214. Điều này phản ánh mức độ nhận thức tương đương giữa hai giới, nhưng vẫn cần nghiên cứu sâu hơn để xác định yếu tố văn hóa hoặc cá nhân ảnh hưởng đến hành vi dự phòng.

Về dân tộc, nhóm Kinh có tỉ lệ đạt cao nhất (98,52%), có ý nghĩa thống kê (p = 0,03). Nhóm Hoa (75%) và Khmer (94,59%) không có sự khác biệt thống kê rõ ràng nhưng cho thấy cần tăng cường thông tin y tế phù hợp văn hóa.

Về thời gian mắc bệnh, không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm (p > 0,05). Điều này cho thấy thời gian mắc đái tháo đường không ảnh hưởng nhiều đến thái độ dự phòng đột quỵ.

Tiền sử gia đình có đột quỵ không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,519). Tuy nhiên, tỉ lệ thái độ đạt ở nhóm có tiền sử (95,83%) thấp hơn nhóm không có (97,91%). Mẫu nhỏ ở nhóm có tiền sử có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích, cần nghiên cứu thêm.

Kết luận

Đánh giá về thái độ của người bệnh mắc bệnh đái tháo đường type II, tỉ lệ người bệnh có thái độ đạt là 97,7% và thái độ không đạt là 2,3%.

Tài liệu tham khảo

  1. Mai Duy Tôn (2020). “ Đột quỵ não, những nguyên tắc vàng trong dự phòng và chăm sóc đột quỵ”, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội 11. Nguyễn Văn Thắng và các cộng sự. (2011), “Thay đổi hiểu biết và thực hành về dự phòng đột quỵ não của người cao tuổi tại hai xã Trường yên và Lam Điền huyện Chương Mỹ, Hà Nội”, Y học thực hành. 767(6), tr 73-78.
  2. Nguyễn Văn Triệu (2009). “Các biện pháp dự phòng tai biến mạch máu não”. Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.21
  3. American Heart Association. Heart Dissease and Stroke Stroke Statistics_2004 Update. Dallas, Tex: American Heart Association; 2003 27
  4. Xuân Thị Thu Hương, Phạm Văn Cường, Nguyễn Thị Cúc, Trần Võ Hoàn, Đào Như Yến, Đỗ Thị Tuyết (2022). “Nghiên cứu nhận thức của người nhà bệnh nhân về đột quỵ não, sự khác biệt thông qua giáo dục”, Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tr. 169-177.
  5. World Health Organization. “Stroke, Cerebrovascular accident”. [https://www.emro.who.int/health-topics/stroke-cerebrovascular-accident/index.html ], truy cập ngày 17/1/2024
  6. Đoàn Phước Thuộc, Nguyễn Thị Hường, Lê Chuyển, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trần Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Đoàn Phạm Phước Long, Dương Thị Hồng Liên. (2018). “Mức độ nguy cơ đột quỵ và một số yếu tố liên quan đến mức độ nguy cơ cao ở người dân tỉnh Thừa Thiên Huế”. Trường Đại học y dược Huế, tr. 39-44
  7. Nguyễn Hải Linh, Nguyễn Văn Tuyến, Đỗ Đức Thuần (2023). “Phân tích một số yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân đột quỵ não dưới 45 tuổi”, Tạp chí Y học Việt Nam 503(1), tr. 242-246
  8. Béjot Y. and Giroud M (2010), Stroke in diabetic patients. Diabetes & Metabolism. 36 Suppl 3:s84-7
  9. Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Văn Tuấn Trần, Thị Quyên Lê, Thị Uyên Hồng Món, and Thị Huyền Bùi , trans. 2024. “Kiến thức, thái độ Và thực hành của người Cao tuổi về dự phòng đột quỵ não tại Thái Nguyên”. Tạp Chí thần Kinh học Việt Nam 2 (41): 32-40. https://doi.org/10.62511/vjn.41.2024.016.
  10. Nguyễn Phương Thúy, Trần Văn Tuấn, Tạ Thị Hiền, Nguyễn Thị Khánh, Bùi Thị Huyền, Hoàng Thị Hương, Nguyễn Hữu Đức, Lê Thị Quyên, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Món Thị Uyên Hồng (2022) “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành, về đột quỵ não của bệnh nhân và người chăm sóc tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” Hội thần kinh học Việt Nam.
  11. Nguyễn Thị Thanh Tình, Lê Văn Tuấn, Norwood Susan (2014), “Kiến thức và thái độ của người bệnh trong phòng ngừa tai biến mạch máu não thứ phát”, Tạp chí nghiên cứu Y học TP. Hồ Chí Minh , 18 (2).
ThSĐD. Huỳnh Tố Như; CNĐD. Danh Thị Ngọc Huỳnh ThS. Huỳnh Thị Xuân Linh - Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Đột quỵ khi vừa thức dậy: Nhận biết để cấp cứu sớm

Đột quỵ khi vừa thức dậy: Nhận biết để cấp cứu sớm

Có người đi ngủ hoàn toàn bình thường nhưng sáng hôm sau thức dậy đã méo miệng, yếu hoặc tê một bên tay chân, nói khó. Nhận biết sớm dấu hiệu đột quỵ và đưa người bệnh đi cấp cứu kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong điều trị.
Tự ý bỏ điều trị bệnh nội tiết khi mang thai: Mẹ và thai nhi có thể gặp nguy hiểm

Tự ý bỏ điều trị bệnh nội tiết khi mang thai: Mẹ và thai nhi có thể gặp nguy hiểm

Tự ý ngừng thuốc/bỏ theo dõi bệnh nội tiết trong thai kỳ có thể khiến bệnh diễn biến nặng, đe dọa sức khỏe của mẹ và thai nhi.
Phòng bệnh sớm từ chế độ ăn uống

Phòng bệnh sớm từ chế độ ăn uống

Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng ngày càng tăng do các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp… Xu hướng này thường gắn với thói quen ăn uống không lành mạnh, nhất là việc sử dụng nhiều muối, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ uống có đường của người dân.

Cùng chuyên mục

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tía tô (Perilla frutescens) và gừng tươi (Zingiber officinale) là hai dược liệu được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á để phòng và hỗ trợ điều trị các chứng ngoại cảm phong hàn, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn và một số bệnh lý đường hô hấp. Trong cộng đồng hiện nay, nước lá tía tô phối hợp gừng được sử dụng rộng rãi như một loại đồ uống hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng còn mang tính kinh nghiệm, chưa được chuẩn hóa về chỉ định, thời điểm sử dụng và liều lượng dựa trên y học chứng cứ.
Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

TÓM TẮT
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

TÓM TẮT
Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

TÓM TẮT:

Các tin khác

Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tóm tắt: Bài viết tổng quan và đánh giá giá trị ứng dụng của bài thuốc cổ phương Lục nhất tán (tỷ lệ 6 phần Hoạt thạch : 1 phần Cam thảo) trong công tác phòng chống và điều trị dịch sốt xuất huyết (SXH) Dengue. Dưới góc nhìn y học cổ truyền kết hợp thực tiễn quân y (đặc biệt tại Bệnh viện Y học cổ truyền Quân đội), bài thuốc đóng vai trò hiệp đồng quan trọng trong giai đoạn khởi phát và toàn phát nhờ các cơ chế: thanh nhiệt, giải thử, ích khí, dưỡng âm, lợi niệu và bảo vệ thành mạch. Việc kết hợp linh hoạt Lục nhất tán với các dược liệu lương huyết, chỉ huyết (như Cỏ nhọ nồi, Rễ cỏ tranh) giúp giảm nhanh triệu chứng sốt cao, bảo vệ chức năng gan thận, hỗ trợ ngăn ngừa biến chứng xuất huyết và thúc đẩy quá trình hồi phục của người bệnh. Từ khóa: Lục Nhất tán; chứng xuất huyết; phục hồi.
Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

TÓM TẮT: Đột quỵ não là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn cầu. Phần lớn bệnh nhân sau đột quỵ phải đối mặt với các di chứng như liệt vận động, co cứng cơ, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn nuốt và suy giảm nhận thức, làm giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Trong những năm gần đây, xu hướng kết hợp y học cổ truyền với phục hồi chức năng hiện đại ngày càng được quan tâm nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi thần kinh.
Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

TÓM TẮT: Rau má (Centella asiatica) là một dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền của nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Loại thảo dược này được sử dụng rộng rãi với các công dụng như thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm và hỗ trợ phục hồi tổn thương mô. Bài viết tổng hợp các tư liệu từ y học cổ truyền và nghiên cứu khoa học hiện đại nhằm phân tích giá trị dược liệu của rau má đối với sức khỏe con người. Kết quả cho thấy rau má chứa nhiều hoạt chất sinh học quan trọng như triterpenoid, flavonoid và saponin, có tác dụng chống oxy hóa, tăng cường tuần hoàn, hỗ trợ tái tạo da và cải thiện chức năng thần kinh. Việc khai thác và phát triển dược liệu rau má không chỉ góp phần bảo tồn nguồn dược liệu truyền thống mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm y học.
Tiếp cận chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi

Tiếp cận chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi

Đánh giá sự tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Trà Vinh

Đánh giá sự tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Trà Vinh

Tiếp cận chẩn đoán bệnh nhân táo bón mạn tính do đờ đại tràng

Tiếp cận chẩn đoán bệnh nhân táo bón mạn tính do đờ đại tràng

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Xem thêm
Phiên bản di động