A Study on Attitudes Toward Cerebral Stroke Prevention in Type 2 Diabetic Patients at Tra Vinh Provincial General Hospital, 2024

THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2024

Đột quỵ là một trong những bệnh lý nguy hiểm, tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư và cao hơn cả nhồi máu cơ tim. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế, để lại nhiều di chứng nặng nề, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Tóm tắt:

Các nghiên cứu trước đây cho thấy hiểu biết về đột quỵ trong cộng đồng còn thấp, thái độ còn chủ quan dẫn đến xử trí sai và tỷ lệ tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời còn hạn chế. Đái tháo đường là một yếu tố nguy cơ gây đột quỵ, đặc biệt là nhồi máu não. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên 311 bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2024. Kết quả cho thấy 97,7% người bệnh có thái độ đạt trong dự phòng đột quỵ não, thể hiện kết quả khả quan trong nhận thức và thái độ của nhóm nghiên cứu.

Từ khóa: Đột quỵ, Đái tháo đường.

DOI: http://doi.org/10.63472/sucv.06202502

Summary:

Previous studies have shown that community awareness of stroke remains low, with a generally complacent attitude leading to inappropriate responses and limited timely access to medical services. Diabetes mellitus is a risk factor for stroke, particularly ischemic stroke. This study employed a cross-sectional descriptive design involving 311 outpatients with type 2 diabetes mellitus at Tra Vinh General Hospital from May to July 2024. The results indicated that 97.7% of patients demonstrated an appropriate attitude toward stroke prevention, reflecting a positive outcome in the awareness and attitudes of the study population.

Keywords: Stroke; Diabetes mellitus.

Ngày nhận bài: 7/5/2025

Ngày phản biện khoa học: 11/5/2025

Ngày duyệt bài: 27/5/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 5+6/2025

Đặt vấn đề

Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 200.000 ca mắc đột quỵ mới mỗi năm [1]. Trong số các trường hợp sống sót, có khoảng 10 - 13% bị tàn phế, 12% hồi phục một phần và chỉ 25% có thể đi lại độc lập [2]. Đái tháo đường là yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là nhồi máu não, cao gấp 1,5–3 lần so với người không mắc bệnh [3]. Theo Xuân Thị Thu Hương (2021), thái độ xử trí khi phát hiện đột quỵ còn chậm và mang tính truyền miệng, dẫn đến xử trí sai và chỉ 25% bệnh nhân được đưa đi cấp cứu kịp thời. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy chỉ 7,1% người tham gia chọn gọi cấp cứu và 47,6% chọn chờ bệnh nhân ổn định mới đưa đi viện [4].

Tổng quan nghiên cứu

Đột quỵ là tình trạng tổn thương não cấp tính do thiếu máu hoặc xuất huyết não. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có khoảng 15 triệu người bị đột quỵ, trong đó 5 triệu tử vong và 5 triệu bị tàn phế suốt đời. Bệnh gây hậu quả nặng nề về sức khỏe, tinh thần, và kinh tế cho người bệnh cũng như cộng đồng [5]. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi, giới, nghề nghiệp và các yếu tố thay đổi được như tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá [6], [7]. Đái tháo đường làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và nguy cơ đột quỵ lên gấp 2–3 lần [8]. Mặc dù vậy, nghiên cứu của Xuân Thị Thu Hương cũng ghi nhận tỉ lệ gọi cấp cứu khi có dấu hiệu đột quỵ chỉ đạt 7,1% [4]. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc cải thiện thái độ dự phòng.

Kết quả và thảo luận

Biểu đồ 1. Thái độ về dự phòng đột quỵ não ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

Tỉ lệ người bệnh có thái độ đạt là 97,7% (n = 304). Kết quả này phản ánh sự nhận thức tích cực và sự tiếp nhận tốt thông tin về phòng ngừa đột quỵ. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Nguyệt (96,3%) [9], cho thấy xu hướng tương đồng trong cộng đồng. Thái độ tích cực có thể thúc đẩy hành vi phòng ngừa và cải thiện sức khỏe tim mạch, từ đó nâng cao chất lượng sống.

THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2024

Bảng 2. Thái độ dự phòng của đối tượng nghiên cứu về đột quỵ (n = 311)

Câu hỏi

Rất đồng ý

Đồng ý

Không ý kiến

Không đồng ý

Rất không đồng ý

Sẵn sàng phòng ngừa đột quỵ

125 (40,2%)

182 (58,5%)

3 (1,0%)

1 (0,3%)

0 (0%)

Dự phòng đột quỵ là cần thiết

125 (40,2%)

183 (58,8%)

3 (1,0%)

0 (0%)

0 (0%)

Đột quỵ gây áp lực kinh tế, tinh thần

111 (35,7%)

176 (56,6%)

24 (7,7%)

0 (0%)

0 (0%)

Có 98,7% người bệnh cho rằng đột quỵ có thể phòng ngừa. So với nghiên cứu của Nguyễn Phương Thúy (92%) [10] và Nguyễn Thị Thanh Tình (54,7%) [11], kết quả cho thấy sự khác biệt về mức độ nhận thức giữa các quần thể nghiên cứu.

Bảng 3. Mối liên quan giữa thái độ và đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố

Thái độ (311)

Giá trị P

OR (95% KTC)

Đạt (304)

Không đạt (7)

n (%)

n (%)

Tuổi

18-36

6 (100)

0 (0)

0,706

1

37-55

64 (96,97)

2 (3,03)

0,999

0 (0)

55-70

190 (98,45)

3 (1,55)

0,713

0,688 (0,093-5,066)

>70

44 (95,65)

2 (4,35)

0,255

0,347 (0,056-2,142)

Giới tính

Nam

96(98,0%)

2(2,0%)

Nữ

208(97,7%)

5(2,3%)

0,214

0,711(0,415-1,218)

Dân tộc

Kinh

266 (98,52)

4 (1,48)

0,03

1

Hoa

3 (75)

1 (25)

0,131

0,263 (0,046-1,49)

Khmer

35 (94,59)

2 (5,41)

0,196

5,833 (0,402-84,605)

Số năm đã mắc bệnh đái tháo đường

Dưới 1 năm

26 (100)

0 (0)

1

1

2-3 năm

33 (97,06)

1 (2,94)

0,998

0 (0)

3-4 năm

43 (100)

0 (0)

0,985

1,02 (0,119-8,747)

>4 năm

202 (97,12)

6 (2,88)

0,998

0 (0)

Tiền sử gia đình có đột quỵ

23 (95,83)

1 (4,17)

1

Không

281 (97,91)

6 (2,09)

0,519

2,036 (0,235-17,643)

Kết quả cho thấy tỉ lệ thái độ đạt ở nhóm tuổi 37–70 rất cao (từ 95,65–98,45%). Nhóm 18–36 tuổi có tỉ lệ đạt 100%, tuy nhiên mẫu nhỏ và không có ý nghĩa thống kê. Giới tính không có sự khác biệt (nam 98%, nữ 97,7%), giá trị OR = 0,711 và p = 0,214. Điều này phản ánh mức độ nhận thức tương đương giữa hai giới, nhưng vẫn cần nghiên cứu sâu hơn để xác định yếu tố văn hóa hoặc cá nhân ảnh hưởng đến hành vi dự phòng.

Về dân tộc, nhóm Kinh có tỉ lệ đạt cao nhất (98,52%), có ý nghĩa thống kê (p = 0,03). Nhóm Hoa (75%) và Khmer (94,59%) không có sự khác biệt thống kê rõ ràng nhưng cho thấy cần tăng cường thông tin y tế phù hợp văn hóa.

Về thời gian mắc bệnh, không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm (p > 0,05). Điều này cho thấy thời gian mắc đái tháo đường không ảnh hưởng nhiều đến thái độ dự phòng đột quỵ.

Tiền sử gia đình có đột quỵ không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,519). Tuy nhiên, tỉ lệ thái độ đạt ở nhóm có tiền sử (95,83%) thấp hơn nhóm không có (97,91%). Mẫu nhỏ ở nhóm có tiền sử có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích, cần nghiên cứu thêm.

Kết luận

Đánh giá về thái độ của người bệnh mắc bệnh đái tháo đường type II, tỉ lệ người bệnh có thái độ đạt là 97,7% và thái độ không đạt là 2,3%.

Tài liệu tham khảo

  1. Mai Duy Tôn (2020). “ Đột quỵ não, những nguyên tắc vàng trong dự phòng và chăm sóc đột quỵ”, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội 11. Nguyễn Văn Thắng và các cộng sự. (2011), “Thay đổi hiểu biết và thực hành về dự phòng đột quỵ não của người cao tuổi tại hai xã Trường yên và Lam Điền huyện Chương Mỹ, Hà Nội”, Y học thực hành. 767(6), tr 73-78.
  2. Nguyễn Văn Triệu (2009). “Các biện pháp dự phòng tai biến mạch máu não”. Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.21
  3. American Heart Association. Heart Dissease and Stroke Stroke Statistics_2004 Update. Dallas, Tex: American Heart Association; 2003 27
  4. Xuân Thị Thu Hương, Phạm Văn Cường, Nguyễn Thị Cúc, Trần Võ Hoàn, Đào Như Yến, Đỗ Thị Tuyết (2022). “Nghiên cứu nhận thức của người nhà bệnh nhân về đột quỵ não, sự khác biệt thông qua giáo dục”, Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tr. 169-177.
  5. World Health Organization. “Stroke, Cerebrovascular accident”. [https://www.emro.who.int/health-topics/stroke-cerebrovascular-accident/index.html ], truy cập ngày 17/1/2024
  6. Đoàn Phước Thuộc, Nguyễn Thị Hường, Lê Chuyển, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trần Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Đoàn Phạm Phước Long, Dương Thị Hồng Liên. (2018). “Mức độ nguy cơ đột quỵ và một số yếu tố liên quan đến mức độ nguy cơ cao ở người dân tỉnh Thừa Thiên Huế”. Trường Đại học y dược Huế, tr. 39-44
  7. Nguyễn Hải Linh, Nguyễn Văn Tuyến, Đỗ Đức Thuần (2023). “Phân tích một số yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân đột quỵ não dưới 45 tuổi”, Tạp chí Y học Việt Nam 503(1), tr. 242-246
  8. Béjot Y. and Giroud M (2010), Stroke in diabetic patients. Diabetes & Metabolism. 36 Suppl 3:s84-7
  9. Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Văn Tuấn Trần, Thị Quyên Lê, Thị Uyên Hồng Món, and Thị Huyền Bùi , trans. 2024. “Kiến thức, thái độ Và thực hành của người Cao tuổi về dự phòng đột quỵ não tại Thái Nguyên”. Tạp Chí thần Kinh học Việt Nam 2 (41): 32-40. https://doi.org/10.62511/vjn.41.2024.016.
  10. Nguyễn Phương Thúy, Trần Văn Tuấn, Tạ Thị Hiền, Nguyễn Thị Khánh, Bùi Thị Huyền, Hoàng Thị Hương, Nguyễn Hữu Đức, Lê Thị Quyên, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Món Thị Uyên Hồng (2022) “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành, về đột quỵ não của bệnh nhân và người chăm sóc tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” Hội thần kinh học Việt Nam.
  11. Nguyễn Thị Thanh Tình, Lê Văn Tuấn, Norwood Susan (2014), “Kiến thức và thái độ của người bệnh trong phòng ngừa tai biến mạch máu não thứ phát”, Tạp chí nghiên cứu Y học TP. Hồ Chí Minh , 18 (2).
ThSĐD. Huỳnh Tố Như; CNĐD. Danh Thị Ngọc Huỳnh ThS. Huỳnh Thị Xuân Linh - Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị người bệnh đột quỵ tại Việt Nam

Nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị người bệnh đột quỵ tại Việt Nam

Theo Tổ chức Y tế thế giới, năm 2021, đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật đứng thứ ba trên toàn cầu, với ước tính 93,8 triệu trường hợp tử vong. Nguy cơ đột quỵ suốt đời đã tăng 50% trong 20 năm qua, với dự đoán cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người sẽ bị đột quỵ trong đời.
[Infographic] Cách phòng ngừa đột quỵ khi trời lạnh

[Infographic] Cách phòng ngừa đột quỵ khi trời lạnh

Khi trời lạnh, nguy cơ đột quỵ có xu hướng gia tăng do thời tiết làm co mạch, tăng huyết áp và dễ hình thành cục máu đông. Để chủ động phòng ngừa, đặc biệt với người cao tuổi và người có bệnh nền tim mạch, cần lưu ý các biện pháp sau.
Cảnh báo sức khỏe mùa lạnh: Nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim gia tăng

Cảnh báo sức khỏe mùa lạnh: Nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim gia tăng

Mỗi khi thời tiết chuyển lạnh, cơ thể con người phải đối mặt với nhiều thử thách trong việc thích nghi. Đặc biệt, không khí lạnh có thể làm gia tăng nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim, những biến cố tim mạch nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng. Theo các chuyên gia y tế, hiện tượng này không chỉ xảy ra ở người cao tuổi hay người có bệnh lý nền, mà ngay cả những người trẻ khỏe cũng không hoàn toàn miễn dịch.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động