Một Vài Nhận Xét Về Vai Trò Của Kết Nối Nguồn Lực

Trong Nâng Tầm Giá Trị Được Trao Truyền – Từ Hai Trường Hợp Phấn Nụ Hoàng Cung Và Thảo Dược Bà Thông

TÓM TẮT - Nghiên cứu phân tích quá trình phát triển của hai doanh nghiệp đại diện cho hai dạng giá trị được trao truyền trong gia đình: Phấn Nụ Hoàng Cung, với nghề mỹ phẩm truyền thống gắn với ký ức văn hóa Huế, và Thảo dược Bà Thông, với tri thức, bài thuốc và kinh nghiệm y dược cổ truyền được truyền qua các thế hệ. Nghiên cứu sử dụng Bộ dữ liệu tổng hợp được hình thành từ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe về hệ sinh thái nguồn lực, kết hợp dữ liệu phỏng vấn bán cấu trúc (IDI), tài liệu do doanh nghiệp cung cấp và tư liệu liên quan của hai trường hợp. Quá trình phát triển được phân tích từ điểm xuất phát, mục tiêu, nhu cầu thực tế, tìm kiếm và lựa chọn nguồn lực, tiếp cận, chi phí, thời gian, tương tác/làm lại đến kết quả, giá trị và nhìn lại. Kết quả cho thấy hai doanh nghiệp có con đường khác nhau nhưng đều phải chuyển hóa giá trị được trao truyền thành các hoạt động phát triển có tổ chức hơn về sản phẩm, chất lượng, nghiên cứu, chuẩn hóa, đào tạo, thị trường và ứng dụng. Nguồn lực cần thiết đã tồn tại ở nhiều mắt xích của hệ sinh thái, song khả năng nhận diện, tiếp cận, đánh giá và kết nối đúng nguồn lực vẫn là một điểm cần quan tâm. Từ đó, nghiên cứu nhận diện vai trò bước đầu của kết nối nguồn lực trong quá trình nâng tầm giá trị và gợi mở nhu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu, R&D, phòng kiểm nghiệm, chuyên gia, đào tạo, pháp lý và các chủ thể liên quan.

Từ khóa: giá trị được trao truyền; kết nối nguồn lực; hệ sinh thái; y dược cổ truyền; nghiên cứu trường hợp.

ABSTRACT

Background: Traditional values transmitted across generations, including traditional medicine knowledge, traditional products, skills and cultural practices, need to be preserved while also being researched, standardized and developed to meet contemporary requirements. In this process, access to and coordination of external resources may be as important as the resources themselves.

Objective: To analyze the development journeys of two cases, Phấn Nụ Hoàng Cung and Thảo dược Bà Thông, and to identify the emerging role of resource connectivity in enhancing transmitted values.

Methods: A qualitative case-study approach was applied to two cases. Data were drawn from a consolidated dataset developed by the Institute of Health Science Research, semi-structured interviews, documents and information provided by the two enterprises, and relevant supporting materials. The development journey was examined through twelve dimensions: starting point, objective, actual needs, search, selection, access, cost, time, interaction/adjustment, outcomes, value, and subsequent development planning.

Results: The two cases followed different development pathways but shared a process of transforming transmitted values into more organized activities involving products, quality, research, standardization, production, training, markets and applications. The required resources existed across multiple parts of the ecosystem; however, difficulties remained in identifying, accessing, assessing and coordinating appropriate resources. The findings suggest that resource connectivity may help match specific needs with appropriate resources, facilitate assessment and coordination, support resource mobilization at different stages, and potentially reduce the time, effort and costs associated with searching, accessing and coordinating resources.

Conclusion: Resource connectivity may constitute an important supporting mechanism in the development of transmitted values. The findings are preliminary and derived from two cases; further studies involving more cases and data from both resource users and providers are needed to validate and further develop these observations.

Keywords: transmitted values; resource connectivity; ecosystem; traditional medicine; case study.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam có nhiều giá trị được hình thành và trao truyền qua gia đình, cộng đồng và các thế hệ, trong đó có tri thức y dược cổ truyền, cây thuốc, bài thuốc, nghề thủ công, kỹ năng chế tác và các sản phẩm gắn với ký ức văn hóa. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và thị trường thay đổi nhanh, vấn đề không chỉ là bảo tồn mà còn là làm thế nào để các giá trị đó tiếp tục tồn tại, được nghiên cứu, chuẩn hóa, phát triển và sử dụng phù hợp trong đời sống hiện đại.

Định hướng hiện nay nhấn mạnh phát huy tiềm năng y học cổ truyền gắn với khoa học, công nghệ, chuẩn hóa, nghiên cứu, đào tạo và phát triển hệ sinh thái. Nghị quyết 72-NQ/TW năm 2025 và Quyết định 1250/QĐ-TTg ngày 09/7/2026 là những văn bản gần đây thể hiện định hướng này. [1,2] Ở bình diện quốc tế, WHO cũng nhấn mạnh nền tảng bằng chứng, an toàn – chất lượng, bảo tồn tri thức và hợp tác liên ngành trong phát triển y học cổ truyền. [3]

Tuy nhiên, giữa một giá trị được trao truyền và một giá trị có thể phát triển trong điều kiện hiện đại tồn tại một quá trình nhiều bước. Người giữ nghề hoặc doanh nghiệp có thể có tri thức, sản phẩm, kinh nghiệm và tâm huyết, nhưng để đi tiếp còn cần nghiên cứu, kiểm nghiệm, chuyên gia, sản xuất, tiêu chuẩn, pháp lý, đào tạo, thị trường và nhiều nguồn lực khác. Câu hỏi không chỉ là nguồn lực có hay không, mà là doanh nghiệp cần gì, tìm kiếm và lựa chọn như thế nào, tiếp cận ai, mất bao nhiêu thời gian và chi phí, phải làm lại ở đâu và các nguồn lực đã có trong hệ sinh thái có thực sự gặp được nhu cầu hay chưa.

Nghiên cứu lựa chọn hai trường hợp Phấn Nụ Hoàng Cung và Thảo dược Bà Thông để phân tích sâu quá trình phát triển. Hai trường hợp không được xem là mô hình thành công để nhân rộng, mà là hai trường hợp thực tế giúp quan sát quá trình chuyển hóa một giá trị được trao truyền thành các hoạt động phát triển trong điều kiện hiện nay.

Đề tài nhằm nghiên cứu quá trình phát triển của hai doanh nghiệp, từ đó nhận diện vai trò của kết nối nguồn lực trong việc nâng tầm các giá trị được trao truyền, với 2 mục tiêu cụ thể sau:

1. Mô tả quá trình phát triển của hai doanh nghiệp từ các giá trị được trao truyền đến hoạt động phát triển hiện nay.

2. Phân tích nguồn lực và quá trình kết nối nguồn lực trong quá trình phát triển của hai doanh nghiệp, từ đó nhận diện vai trò của kết nối nguồn lực trong việc nâng tầm các giá trị được trao truyền.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu này là quá trình huy động, tiếp cận và phối hợp nguồn lực trong phát triển các giá trị được trao truyền, qua đó nhận diện vai trò của kết nối nguồn lực trong quá trình này.

Đối tượng khảo sát gồm hai trường hợp Phấn Nụ Hoàng Cung và Thảo dược Bà Thông. Hai trường hợp được lựa chọn để quan sát quá trình phát triển trong bối cảnh thực tế, không nhằm đại diện cho toàn bộ các doanh nghiệp phát triển giá trị được trao truyền.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào những nguồn lực nội tại và nguồn lực bên ngoài có liên quan trực tiếp đến hành trình phát triển của hai trường hợp. Nghiên cứu xem xét doanh nghiệp cần nguồn lực gì, tìm kiếm và lựa chọn như thế nào, tiếp cận ra sao, gặp những khó khăn và điểm nghẽn nào, cũng như cách các nguồn lực được huy động và phối hợp. Nghiên cứu không nhằm lập danh mục đầy đủ các nguồn lực của doanh nghiệp hoặc đánh giá hiệu quả riêng của từng loại nguồn lực.

2.2. Khái niệm nguồn lực trong nghiên cứu

Nguồn lực trong nghiên cứu này được hiểu là những yếu tố doanh nghiệp có hoặc cần huy động để phát triển giá trị được trao truyền, bao gồm tri thức, nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, công nghệ, nghiên cứu – R&D, kiểm nghiệm, chuyên gia, đào tạo, sản xuất, tiêu chuẩn – chất lượng, pháp lý, thị trường và mạng lưới chuyên môn. Tri thức, kỹ năng, công thức và kinh nghiệm được trao truyền qua các thế hệ được xem là nguồn lực ban đầu của quá trình phát triển. Cách hiểu này được tham chiếu từ cách tiếp cận dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp [5,6], nhưng được khu trú theo mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu.

2.3. Nguồn dữ liệu

Bộ dữ liệu tổng hợp được hình thành từ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe về hệ sinh thái phát triển các giá trị YDCT và sản phẩm liên quan. Bộ dữ liệu tập hợp thông tin về doanh nghiệp, R&D, phòng thí nghiệm/kiểm nghiệm, chuyên gia, đào tạo, sản xuất, tiêu chuẩn – chất lượng, pháp lý, thị trường và các chủ thể liên quan; được dùng để phác họa bức tranh chung về hệ sinh thái nguồn lực.

Đối với hai trường hợp nghiên cứu, dữ liệu gồm phỏng vấn bán cấu trúc (IDI), tài liệu và thông tin do doanh nghiệp cung cấp, cùng các tư liệu liên quan. Các thông tin thuộc về chia sẻ của doanh nghiệp được quy kết phù hợp và không mặc định là bằng chứng độc lập.

2.4. Khung nghiên cứu

Trong Nâng Tầm Giá Trị Được Trao Truyền – Từ Hai Trường Hợp Phấn Nụ Hoàng Cung Và Thảo Dược Bà Thông

Hình 1. Khung nghiên cứu

Khung nghiên cứu tiếp cận quá trình phát triển theo hành trình thực tế của từng trường hợp, từ điểm xuất phát, mục tiêu và nhu cầu đến tìm kiếm, lựa chọn, tiếp cận, chi phí, thời gian, tương tác/điều chỉnh, kết quả, giá trị và kế hoạch phát triển tiếp theo. Trên hành trình này, nghiên cứu xem xét các nguồn lực mà doanh nghiệp cần, cách doanh nghiệp tìm kiếm và tiếp cận nguồn lực, những khó khăn và điểm nghẽn phát sinh, từ đó đối chiếu với hệ sinh thái nguồn lực và nhu cầu kết nối. Trên cơ sở đó, nghiên cứu nhận diện bước đầu vai trò của kết nối nguồn lực.

2.5. Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ gồm hai trường hợp, với dữ liệu chủ yếu từ phỏng vấn bán cấu trúc, tài liệu và thông tin do doanh nghiệp cung cấp. Một số nhận định về nhu cầu, việc tìm kiếm và kết nối nguồn lực phản ánh góc nhìn của doanh nghiệp và chưa phải là đánh giá độc lập về toàn bộ hệ sinh thái. Do đó, các kết quả chỉ có giá trị gợi mở trong phạm vi hai trường hợp nghiên cứu, không đại diện cho toàn bộ doanh nghiệp phát triển các giá trị được trao truyền tại Việt Nam; những nhận diện về vai trò của kết nối cần tiếp tục được kiểm chứng bằng nhiều trường hợp và nguồn dữ liệu độc lập hơn.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả quá trình phát triển của hai doanh nghiệp

3.1.1. Phấn Nụ Hoàng Cung

Phấn Nụ Hoàng Cung là trường hợp của một doanh nghiệp mỹ phẩm gia đình với nghề được truyền qua bốn thế hệ. Theo chia sẻ của doanh nghiệp, Nguyễn Phương Khanh, Chủ tịch Công ty TNHH Mỹ phẩm Hoàng Cung, tiếp nhận nghề từ mẹ là bà Trần Thị Phương khi còn là sinh viên. Những năm đầu, việc làm phấn và bán cho khách quen chủ yếu dựa vào phương thức truyền thống; sau đó doanh nghiệp mở rộng cách tiếp cận khách hàng và thành lập công ty năm 2012.

Giá trị được trao truyền không chỉ là sản phẩm phấn mà còn gồm nguyên liệu, cách lựa chọn và xử lý nguyên liệu, công thức, kỹ thuật, thao tác, kinh nghiệm tích lũy và ký ức văn hóa gắn với Huế. Theo câu chuyện gia đình do chị Khanh chia sẻ, nghề Phấn Nụ gắn với truyền thống làm đẹp và đời sống Hoàng cung; mối liên hệ với hoàng tộc nhà Nguyễn được doanh nghiệp xem là một phần ký ức gia đình và câu chuyện văn hóa của sản phẩm. Nghiên cứu giữ cách quy kết này và không xem đó là kết luận lịch sử độc lập.

Trong quá trình phát triển, PNHC chuyển từ giữ nghề trong phạm vi gia đình sang tổ chức sản phẩm và hoạt động kinh doanh có yêu cầu cao hơn về nguyên liệu, kiểm nghiệm, kiểm soát quy trình, hồ sơ, truy xuất và thông tin sản phẩm. Doanh nghiệp đồng thời tìm cách đưa giá trị văn hóa gắn với Huế vào trải nghiệm của người sử dụng, hướng tới kết nối sản phẩm với không gian văn hóa.

Theo doanh nghiệp, từ khoảng tháng 9/2025, PNHC bắt đầu chuẩn bị pháp nhân, nhân sự và hồ sơ sản phẩm để đưa một số sản phẩm lên Amazon Global E-commerce; lô hàng đầu tiên được gửi vào tháng 7/2026 và đến tháng 9/2026 có ba lô hàng được gửi sang Hoa Kỳ. Hai sản phẩm được doanh nghiệp xác nhận đã xuất khẩu là Dầu gội thảo mộc phục hồi tóc và Serum dưỡng dài lông mi và lông mày. Đây là những bước đầu của quá trình mở rộng thị trường.

Hành trình PNHC cho thấy một giá trị nghề gia truyền đã đi qua nhiều nhu cầu mới: duy trì nghề, tổ chức sản phẩm, kiểm soát chất lượng, ghi nhận và quản lý tri thức, thích ứng với người dùng hiện đại, xây dựng trải nghiệm văn hóa và đáp ứng yêu cầu của thị trường mới.

3.1.2. Thảo dược Bà Thông

Thảo dược Bà Thông bắt đầu từ tri thức và kinh nghiệm y dược cổ truyền được trao truyền trong gia đình qua hai thế hệ. Bà Thông là người gìn giữ bài thuốc và kinh nghiệm thực hành; chị Thêm là người tiếp nhận, phát triển và tìm cách tạo nền tảng để những giá trị này tiếp tục tồn tại trong điều kiện hiện đại.

Điều được trao truyền không chỉ là một bài thuốc mà còn gồm nhận biết cây thuốc, lựa chọn nguyên liệu, phối hợp các vị, sơ chế, sử dụng và điều chỉnh trong thực hành. Một phần có thể ghi thành công thức; phần khác nằm trong kỹ năng và kinh nghiệm của người thực hành. Quá trình tiếp nhận của chị Thêm gắn với quan sát, thực hành và những trải nghiệm thực tế từ người sử dụng.

Hành trình sau đó mở rộng từ tri thức gia truyền sang nghiên cứu, chuẩn hóa, sản xuất, đào tạo và các hoạt động chăm sóc sức khỏe. Doanh nghiệp/cơ sở tìm kiếm chuyên gia, cơ sở nghiên cứu, kiểm nghiệm, sản xuất và các năng lực khác để từng bước xây dựng nền tảng hiện đại hơn. Dữ liệu cho thấy không phải mọi giá trị đều đi cùng một con đường: có giá trị cần tiếp tục nghiên cứu, có giá trị phù hợp để bảo tồn dưới dạng tri thức, có giá trị có thể phát triển thành sản phẩm hoặc ứng dụng và có giá trị cần thêm dữ liệu trước khi lựa chọn hướng đi.

Quá trình này làm xuất hiện nhu cầu về hồ sơ, tiêu chuẩn, bằng chứng, người kế cận, đào tạo và lộ trình pháp lý. Điểm khó không chỉ là có bài thuốc hay không, mà là làm thế nào để tri thức gia truyền đi qua các khâu ghi nhận, nghiên cứu, chuẩn hóa, sản xuất, đào tạo và ứng dụng mà không mất cái gốc.

Hành trình không đi theo đường thẳng. Từ nhu cầu ban đầu, doanh nghiệp xác định mục tiêu, tìm kiếm nguồn lực, lựa chọn đối tác, cân đối chi phí và thời gian, tương tác và điều chỉnh khi cần, rồi đánh giá kết quả để xây dựng kế hoạch phát triển tiếp theo.

3.2. Phân tích điểm nghẽn, hệ sinh thái nguồn lực và nhu cầu kết nối

Từ hành trình phát triển của hai doanh nghiệp, nghiên cứu ghi nhận các khó khăn không chỉ ở việc thiếu một nguồn lực cụ thể, mà ở quá trình chuyển từ giá trị được trao truyền sang những yêu cầu mới của sản phẩm, nghiên cứu, chất lượng, sản xuất, pháp lý và thị trường. Với Phấn Nụ Hoàng Cung, khi mở rộng sản phẩm và tiếp cận thị trường mới, doanh nghiệp phải xử lý đồng thời các yêu cầu về nguyên liệu, kiểm nghiệm, hồ sơ, truy xuất, chuyên gia pháp lý và các yêu cầu của thị trường quốc tế. Một số nguồn nguyên liệu truyền thống, theo thông tin doanh nghiệp cung cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu về chứng từ nguồn gốc và kiểm nghiệm, khiến doanh nghiệp phải tìm nguồn thay thế. Quá trình chuẩn bị để đưa sản phẩm lên Amazon Global E-commerce cũng kéo dài gần một năm. Những dữ liệu này cho thấy điểm khó không chỉ nằm ở việc có sản phẩm hay có mong muốn mở rộng thị trường, mà ở khả năng tiếp cận và tổ chức các năng lực cần thiết cho từng yêu cầu cụ thể.

Với Thảo dược Bà Thông, điểm khó thể hiện rõ hơn ở khoảng cách giữa tri thức và kinh nghiệm gia truyền với yêu cầu của một hệ thống hiện đại. Có những giai đoạn nghiên cứu, kiểm nghiệm, năng lực sản xuất và yêu cầu pháp lý chưa thể tiến cùng một nhịp; theo chia sẻ của doanh nghiệp, pháp lý trở thành một trong những khó khăn lớn, khiến một số kế hoạch phải chậm lại hoặc điều chỉnh. Doanh nghiệp đồng thời phải tìm kiếm nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu và kiểm nghiệm, chuyên gia dược – y dược cổ truyền, công nghệ, pháp lý, đào tạo và sản xuất. Mong muốn được hỗ trợ không chỉ là tìm một đối tác riêng lẻ, mà là có tiêu chuẩn rõ, cách đánh giá rõ và một lộ trình khoa học – pháp lý đủ khả thi để biết cần nghiên cứu gì, đầu tư vào đâu và đi tiếp bằng con đường nào.

Những khó khăn trên cho thấy một số điểm nghẽn có tính chất tương đồng giữa hai trường hợp. Thứ nhất là khoảng cách thông tin và khả năng tìm đúng đầu mối: doanh nghiệp biết vấn đề cần giải quyết nhưng không phải lúc nào cũng dễ xác định nguồn lực phù hợp. Thứ hai là khó khăn trong đánh giá mức độ phù hợp của nguồn lực trước khi lựa chọn và phối hợp. Thứ ba là sự không đồng nhịp giữa các mắt xích: nghiên cứu, kiểm nghiệm, sản xuất, pháp lý, đào tạo và thị trường có thể đặt ra yêu cầu ở những thời điểm khác nhau. Thứ tư là chi phí của quá trình tìm kiếm, tiếp cận, đánh giá, phối hợp và làm lại khi phương án trước đó chưa phù hợp. Các điểm nghẽn này không nên được hiểu đơn giản là doanh nghiệp thiếu nguồn lực; trong cả hai trường hợp, vấn đề nổi lên là khoảng cách giữa nguồn lực có thể huy động và khả năng tiếp cận, lựa chọn và tổ chức nguồn lực đó thành một hành trình phát triển.

Trên cơ sở Bộ dữ liệu tổng hợp được xây dựng trong nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe, hai trường hợp được đặt trong bối cảnh rộng hơn của hệ sinh thái nguồn lực. Qua đối chiếu, hệ sinh thái đã có nhiều nhóm nguồn lực liên quan đến những nhu cầu được ghi nhận: viện, trường và cơ sở nghiên cứu – đào tạo; các đơn vị R&D; phòng thí nghiệm và kiểm nghiệm; nhà khoa học, chuyên gia và người có kinh nghiệm thực hành; doanh nghiệp và cơ sở sản xuất; các đơn vị cung cấp công nghệ, tư vấn pháp lý và dịch vụ chuyên môn; cùng các hội nghề nghiệp và mạng lưới chuyên môn. Như vậy, dữ liệu không cho thấy đơn giản một tình trạng “thiếu nguồn lực”, mà gợi ra một vấn đề khác: nguồn lực và nhu cầu cùng tồn tại nhưng chưa phải lúc nào cũng tự gặp nhau theo cách phù hợp.

Đối chiếu hai phía cho thấy nhu cầu kết nối xuất hiện đồng thời ở doanh nghiệp và ở phía cung cấp nguồn lực. Doanh nghiệp cần tìm được nguồn lực có khả năng giải quyết một vấn đề cụ thể ở một giai đoạn cụ thể; trong khi nhà khoa học, đơn vị R&D, phòng kiểm nghiệm, nhà sản xuất, chuyên gia và tổ chức cung cấp dịch vụ cũng cần tiếp cận được những nhu cầu thực tế phù hợp với năng lực của mình. Khoảng cách vì vậy không chỉ là khoảng cách về số lượng nguồn lực, mà còn là khoảng cách trong nhận biết nhu cầu, tìm kiếm, đánh giá, tiếp cận và phối hợp giữa hai phía.

Từ những nhu cầu, mong muốn, khó khăn và điểm nghẽn được ghi nhận trong hai hành trình, nghiên cứu bước đầu gợi mở một số phương diện của vai trò kết nối nguồn lực. Trước hết, kết nối có thể giúp đưa nhu cầu cụ thể đến nguồn lực phù hợp và hỗ trợ các bên nhận diện, trao đổi, đánh giá mức độ phù hợp trước khi lựa chọn. Tiếp đó, kết nối có thể tạo điều kiện để các nguồn lực được huy động và phối hợp theo từng giai đoạn, thời điểm và lộ trình phát triển, thay vì chỉ dừng ở việc giới thiệu một đầu mối. Cuối cùng, nếu được tổ chức phù hợp, kết nối có thể góp phần giảm thời gian, công sức và chi phí tìm kiếm, tiếp cận, đánh giá và phối hợp. Đây là những phương diện được gợi mở từ dữ liệu của hai trường hợp, chưa phải kết luận về hiệu quả định lượng của kết nối.

4. BÀN LUẬN

Hai trường hợp cho thấy điểm nghẽn xuất hiện không chỉ ở bản thân nguồn lực mà ở khoảng cách giữa nhu cầu thực tế và khả năng tìm kiếm, đánh giá, tiếp cận và phối hợp nguồn lực. Đây là cơ sở để bàn luận về vai trò của kết nối: các phương diện được gợi mở xuất phát từ những gì doanh nghiệp đã phải tự tìm kiếm, những khó khăn đã gặp và những nhu cầu hỗ trợ được ghi nhận, chứ không được giả định trước như một mô hình có sẵn. Với thiết kế hai case và dữ liệu chủ yếu từ phía doanh nghiệp, nghiên cứu chưa đủ cơ sở để đánh giá định lượng mức độ đóng góp của từng phương diện hoặc khẳng định quan hệ nhân quả; các nhận diện này cần được kiểm chứng bằng dữ liệu từ cả phía sử dụng và cung cấp nguồn lực.

Kết quả nghiên cứu cũng gợi mở một vấn đề đối với môi trường hỗ trợ doanh nghiệp: bên cạnh việc đầu tư thêm các nguồn lực nghiên cứu, kiểm nghiệm, công nghệ và chuyên môn, cần quan tâm đến khả năng để các nguồn lực đã có được tiếp cận đúng nhu cầu. Việc cung cấp thông tin minh bạch về năng lực, hỗ trợ kết nối cung – cầu chuyên môn và tạo điều kiện để doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và các nhóm khởi nghiệp, tiếp cận các dịch vụ nghiên cứu, kiểm nghiệm, pháp lý và công nghệ có thể góp phần giảm chi phí tìm kiếm và phối hợp. Đây là gợi mở bước đầu từ hai trường hợp nghiên cứu, cần được tiếp tục kiểm chứng trước khi phát triển thành các đề xuất chính sách cụ thể.

Ở đây cũng cần phân biệt rõ giữa giá trị văn hóa, lịch sử thực hành và bằng chứng khoa học. Một giá trị được sử dụng lâu đời có thể có ý nghĩa văn hóa và thực tiễn đối với cộng đồng, nhưng lịch sử sử dụng không tự thân chứng minh hiệu quả hoặc an toàn theo tiêu chuẩn khoa học hiện đại. Tương tự, một cơ sở hoặc quy trình sản xuất đáp ứng yêu cầu chất lượng là nền tảng quan trọng cho kiểm soát sản xuất, nhưng không tự thân chứng minh hiệu quả của sản phẩm. Việc nghiên cứu, kiểm nghiệm và đánh giá bằng chứng vì vậy vẫn là những bước cần thiết khi chuyển hóa giá trị được trao truyền thành sản phẩm hoặc ứng dụng mới [3].

Hai trường hợp đồng thời cho thấy một vấn đề riêng của các giá trị được trao truyền: việc bảo tồn và việc chuẩn hóa không phải lúc nào cũng đồng nhất. Một phần giá trị có thể được ghi nhận bằng công thức, quy trình hoặc hồ sơ; phần khác nằm trong kỹ năng, kinh nghiệm và tri thức ngầm của người thực hành. Vì vậy, quá trình phát triển cần tìm được sự cân bằng giữa việc giữ lại cái gốc và việc tạo ra những hình thức ghi nhận, nghiên cứu, kiểm soát chất lượng và truyền đạt phù hợp.

Một phát hiện đáng chú ý của hai trường hợp là khoảng cách giữa nguồn lực và khả năng tiếp cận nguồn lực. Bộ dữ liệu tổng hợp cho thấy hệ sinh thái có nhiều chủ thể và năng lực; trong khi dữ liệu của hai doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp vẫn phải xác định nhu cầu, tìm kiếm, đánh giá mức độ phù hợp, tiếp cận và tổ chức phối hợp. Nhận định này tương đồng với vai trò của các trung gian đổi mới được mô tả trong nghiên cứu trước đây: cung cấp và xử lý thông tin, kết nối tri thức, hỗ trợ tìm kiếm đối tác và góp phần giảm bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể [7].

Kết quả phù hợp với cách tiếp cận về quản trị và phối hợp nguồn lực, trong đó việc tạo giá trị không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực mà doanh nghiệp sở hữu mà còn vào khả năng huy động, phối hợp và tái cấu trúc các nguồn lực trong môi trường thay đổi [7]. Nghiên cứu về resource orchestration cũng cho thấy việc có nhiều nguồn lực hoặc nhiều mối liên hệ không mặc nhiên tạo ra kết quả tốt hơn; điều quan trọng là lựa chọn, phối hợp và sử dụng nguồn lực phù hợp với mục tiêu cụ thể [7].

Hai hành trình có điểm xuất phát khác nhau nhưng cùng cho thấy quá trình nâng tầm một giá trị được trao truyền không dừng ở việc duy trì sản phẩm, bài thuốc, kỹ năng hay ký ức văn hóa. Phấn Nụ Hoàng Cung nổi bật ở hành trình từ nghề – sản phẩm – trải nghiệm – thị trường; Thảo dược Bà Thông thể hiện rõ hơn hành trình từ tri thức – nghiên cứu – chuẩn hóa – sản xuất – đào tạo – ứng dụng. Sự khác biệt này cho thấy vai trò của nguồn lực bên ngoài và khả năng phối hợp có thể xuất hiện ở nhiều điểm khác nhau của quá trình phát triển .

5. KẾT LUẬN

Nghiên cứu hai trường hợp Phấn Nụ Hoàng Cung và Thảo dược Bà Thông cho thấy quá trình nâng tầm một giá trị được trao truyền không dừng ở việc duy trì sản phẩm, bài thuốc, kỹ năng hay tri thức, mà đòi hỏi doanh nghiệp phải tiếp cận và phối hợp nhiều nguồn lực về nghiên cứu, kiểm nghiệm, chuẩn hóa, sản xuất, đào tạo, pháp lý, thị trường và ứng dụng.

Những nhu cầu, mong muốn, khó khăn và điểm nghẽn được ghi nhận trong hai hành trình cho thấy nguồn lực cần thiết có thể đã tồn tại trong hệ sinh thái nhưng chưa phải lúc nào cũng dễ dàng gặp được nhu cầu thực tế. Từ đó, nghiên cứu bước đầu gợi mở vai trò của kết nối nguồn lực ở các phương diện: đưa nhu cầu cụ thể đến nguồn lực phù hợp; hỗ trợ các bên nhận diện và đánh giá mức độ phù hợp; tạo điều kiện huy động và phối hợp nguồn lực theo từng giai đoạn, thời điểm và lộ trình; đồng thời có thể góp phần giảm thời gian, công sức và chi phí tìm kiếm, tiếp cận và phối hợp.

Kết nối nguồn lực vì vậy được nhìn nhận như một cơ chế hỗ trợ của hệ sinh thái, không thay thế năng lực chuyên môn, quyết định của doanh nghiệp hay trách nhiệm của các bên. Đây là những nhận diện bước đầu từ hai trường hợp nghiên cứu; cần tiếp tục kiểm chứng bằng nhiều trường hợp hơn và bằng dữ liệu từ cả phía sử dụng và cung cấp nguồn lực trước khi có thể đánh giá đầy đủ hiệu quả của các hình thức kết nối.

Ở góc độ chính sách, kết quả nghiên cứu gợi mở rằng bên cạnh việc tiếp tục phát triển và bổ sung các nguồn lực nghiên cứu, kiểm nghiệm, công nghệ và chuyên môn, cần quan tâm hơn đến cơ chế giúp doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và các chủ thể đang lưu giữ giá trị truyền thống, nhận diện, tiếp cận và kết nối được với những nguồn lực phù hợp. Việc minh bạch thông tin về năng lực nguồn lực, tăng cường các cơ chế kết nối cung – cầu chuyên môn và hỗ trợ kết nối theo từng giai đoạn của quá trình phát triển có thể góp phần giảm chi phí tìm kiếm, tiếp cận và phối hợp. Đây là những gợi mở bước đầu từ hai trường hợp nghiên cứu và cần được tiếp tục kiểm chứng trên phạm vi rộng hơn.

1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

2. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 09/7/2026 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 về phát triển ngành Y học cổ truyền Việt Nam.

3. World Health Organization (2025). Global Traditional Medicine Strategy 2025–2034. Geneva: WHO.

4. Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền – Bộ Y tế (2026). Danh sách các dược liệu đã được kiểm tra, đánh giá đạt GACP (Công bố đợt 1 năm 2026), 21/05/2026.

5. Barney JB. Firm Resources and Sustained Competitive Advantage. J Manage. 1991;17(1):99–120. doi:10.1177/014920639101700108.

6. Grant RM. The Resource-Based Theory of Competitive Advantage: Implications for Strategy Formulation. Calif Manage Rev. 1991;33(3):114–135.

7. Chirico F, Naldi L, Hitt MA, Sieger P, Sirmon DG, Xu K. Orchestrating resources with suppliers for product innovation. J Prod Innov Manag. 2024;41(4):735–767. doi:10.1111/jpim.12703.

PGS, TS Phạm Lê Tuấn – PGS, TS Vũ Mạnh Hùng – TS Trần Tử Bình Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe – Hội Quân Dân Y Việt Nam

Cùng chuyên mục

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Tóm tắt - Bài viết phân tích di sản Hoàng Đôn Hòa và Hoạt nhân toát yếu theo cách tiếp cận liên ngành. Tư liệu gồm bản dịch năm 1980, thư mục bản Hán Nôm A.2535 và nghiên cứu liên quan. Cần phân biệt nguyên tác gắn với Hoàng Đôn Hòa, bản tăng bổ của Trịnh Đôn Phác và dịch hiện đại. Tác phẩm là phương thư thực hành, chú trọng thuốc Nam, bệnh cấp, ngoại thương, phụ khoa, nhi khoa, thú y và dưỡng sinh. Tam hoàng hoàn và Thần ứng hoàn phản ánh tư duy bào chế thích ứng với dịch bệnh và hành quân, nhưng cần kiểm soát độc tính của hùng hoàng, hoàng nàn và chu sa. Di sản nên được bảo tồn bằng khảo cứu văn bản, số hóa, chuẩn hóa dược liệu, đánh giá an toàn và giáo dục y đức; không phục dựng nguyên xi toa thuốc cổ để tự điều trị.

Các tin khác

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

TÓM TẮT - Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhóm E có gánh nặng triệu chứng và nguy cơ đợt cấp cao. Cấy chỉ có thể tạo kích thích huyệt kéo dài, qua đó hỗ trợ điều hòa thần kinh tự chủ, đáp ứng viêm và khả năng gắng sức, nhưng bằng chứng lâm sàng còn cần được củng cố.
Giá Trị Của Cây Cam Thảo Đất(Scoparia Dulcis L.)  Dưới Góc Nhìn Y Học Cổ Truyền Và Y Dược Học Hiện Đại

Giá Trị Của Cây Cam Thảo Đất(Scoparia Dulcis L.) Dưới Góc Nhìn Y Học Cổ Truyền Và Y Dược Học Hiện Đại

Tóm tắt Cam thảo đất (Scoparia dulcis L.) là dược liệu dùng toàn cây kể cả rễ, được ghi nhận trong dược điển và kinh nghiệm dùng thuốc tại Việt Nam. Dưới góc nhìn y học cổ truyền, dược liệu có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn; quy tỳ, vị, phế, can; có công năng bổ tỳ, sinh tân, nhuận phế, thanh nhiệt giải độc và lợi niệu. Y dược học hiện đại đã phân lập nhiều nhóm chất, nổi bật là diterpenoid kiểu scopadulane và labdane, flavonoid, triterpenoid và coixol. Các nghiên cứu tế bào và động vật gợi ý tác dụng điều hòa glucose, tăng tiết insulin, chống oxy hóa, chống viêm, giảm đau, bảo vệ gan, bảo vệ niêm mạc dạ dày, an thần và kháng vi sinh vật. Bằng chứng lâm sàng trực tiếp còn rất hạn chế; nghiên cứu đáng chú ý nhất là một thử nghiệm bắt chéo trên 35 người bệnh đái tháo đường típ 2 dùng cháo có dịch chiết lá, cho tín hiệu giảm HbA1c nhưng có cỡ mẫu nhỏ, không làm mù và không dùng giả dược. Các tín hiệu an toàn tiền lâm sàng không hoàn toàn đồng nhất: một số nghiên cứu ghi nhận dung nạp cấp và bán trường diễn, trong khi các nghiên cứu khác gợi ý hoạt tính estrogen, ảnh hưởng thai sớm ở chuột và độc tính di truyền in vitro của một flavonoid phân lập. Vì vậy, Cam thảo đất có giá trị rõ ở bình diện dược liệu truyền thống và nguồn chất dẫn đường, nhưng chưa đủ bằng chứng để khẳng định hiệu quả điều trị cho phần lớn chỉ định hiện đại hoặc để thay thế điều trị chuẩn.
Nghiên Cứu Trường Hợp Từ Cà Phê Việt – Thương Hiệu Ngoại Và Những Suy Ngẫm Đối Với Y Dược Cổ Truyền Việt Nam

Nghiên Cứu Trường Hợp Từ Cà Phê Việt – Thương Hiệu Ngoại Và Những Suy Ngẫm Đối Với Y Dược Cổ Truyền Việt Nam

TÓM TẮT: Một sản phẩm cà phê có giá trị cao hơn nhiều so với dạng nguyên liệu ban đầu có thể được nhìn như một case study về cách tài nguyên bản địa được nhận diện, hiện đại hóa và chuyển hóa thành giá trị. Điều đáng nghiên cứu không phải là bản thân cà phê, mà là cơ chế tạo giá trị phía sau: nguồn nguyên liệu → lựa chọn và kiểm soát đầu vào → công nghệ và know-how → chuẩn hóa → phát triển sản phẩm → sở hữu trí tuệ, thương hiệu → thị trường. Đối chiếu với cacao, trà, mỹ phẩm thực vật và chuỗi dược liệu cho thấy logic này có tính lặp lại ở nhiều ngành. Case cà phê vì vậy không phải một công thức để sao chép sang Y dược cổ truyền (YDCT), càng không phải cơ sở để so sánh giản đơn giữa một sản phẩm thực phẩm và một sản phẩm y tế. Nó là một tấm gương để nhìn lại chính mình: Việt Nam có tài nguyên thực vật, dược liệu và một di sản tri thức quý giá, nhưng liệu chúng ta đã thực sự nhìn thấy, làm chủ và chuyển hóa tương xứng các giá trị ấy thành sản phẩm có chất lượng, thương hiệu và vị thế trên thị trường hay chưa? Trong bối cảnh định hướng mới của Nhà nước nhấn mạnh phát triển YDCT trên nền tảng khoa học, công nghệ hiện đại, gắn với kinh tế sức khỏe, công nghiệp dược liệu, thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm, câu hỏi này càng trở nên có ý nghĩa. [1][2][3]
Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tía tô (Perilla frutescens) và gừng tươi (Zingiber officinale) là hai dược liệu được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á để phòng và hỗ trợ điều trị các chứng ngoại cảm phong hàn, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn và một số bệnh lý đường hô hấp. Trong cộng đồng hiện nay, nước lá tía tô phối hợp gừng được sử dụng rộng rãi như một loại đồ uống hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng còn mang tính kinh nghiệm, chưa được chuẩn hóa về chỉ định, thời điểm sử dụng và liều lượng dựa trên y học chứng cứ.
Bảo Tồn Di Sản Nam Dược Gắn Với Du Lịch Sinh Thái

Bảo Tồn Di Sản Nam Dược Gắn Với Du Lịch Sinh Thái

Tóm tắt - Nam dược là một bộ phận quan trọng của di sản y học và văn hóa Việt Nam. Giá trị của Nam dược không chỉ nằm ở nguồn cây thuốc phong phú mà còn kết tinh trong tri thức nhận biết, gây trồng, thu hái, bảo quản, bào chế, phối ngũ và sử dụng cây thuốc của các cộng đồng qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, thương mại hóa thiếu kiểm soát và nguy cơ mai một người truyền nghề, cần chuyển từ bảo tồn riêng lẻ sang bảo tồn sống, gắn chủ thể cộng đồng với sinh kế bền vững. Chuyên khảo đề xuất phát triển vùng dược liệu theo chuỗi giá trị và xây dựng du lịch sinh thái – Nam dược trên nền tảng “5B”: Bảo tồn, Bản địa, Bằng chứng, Bền vững và Bình đẳng lợi ích. Mô hình này có thể góp phần bảo vệ nguồn gen, gìn giữ tri thức dân gian, nâng cao giá trị dược liệu, tạo việc làm tại chỗ và quảng bá bản sắc y học Việt Nam; đồng thời phải bảo đảm an toàn, đạo đức, quyền sở hữu tri thức và giới hạn sức tải của hệ sinh thái.
Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Kết Hợp Y Học Hiện Đại Và Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Người Cao Tuổi

Kết Hợp Y Học Hiện Đại Và Y Học Cổ Truyền Trong Chăm Sóc Người Cao Tuổi

Tóm Tắt - Đặt vấn đề: Già hóa dân số làm gia tăng đồng thời bệnh không lây nhiễm, đa bệnh lý, suy giảm chức năng và nhu cầu chăm sóc dài hạn. Mô hình khám chữa bệnh phân mảnh, tập trung vào từng bệnh đơn lẻ, khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu duy trì năng lực nội tại, khả năng tự chủ và chất lượng sống của người cao tuổi. Việt Nam có nền tảng chính trị, pháp lý và thực tiễn thuận lợi để phát triển chăm sóc tích hợp giữa y học hiện đại, y học cổ truyền, phục hồi chức năng và chăm sóc xã hội.
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

TÓM TẮT
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

TÓM TẮT
Xem thêm
Phiên bản di động