Pulmonary Tuberculosis in Diabetic Patients: Clinical Features and Patterns

ĐẶC ĐIỂM LAO PHỔI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Lao phổi là thể lao phổ biến nhất do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên. Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết, là một yếu tố nguy cơ quan trọng trong sự phát triển của bệnh lao phổi.

Tóm tắt:
Đái tháo đường làm tăng nguy cơ phát triển lao phổi do tình trạng tăng đường huyết làm suy yếu hệ miễn dịch qua trung gian tế bào và miễn dịch mắc phải, dẫn đến sự chuyển đổi từ lao tiềm ẩn sang lao hoạt động. Ngược lại, lao phổi làm suy yếu chức năng tế bào đảo tụy và các thuốc điều trị lao làm rối loạn sự cân bằng đường huyết, từ đó làm tăng nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân mắc lao phổi. Ngoài ra, việc đồng mắc lao phổi và đái tháo đường làm tăng nguy cơ thất bại điều trị, tái phát và tử vong so với bệnh lao đơn thuần. Vì vậy, cần thiết phải sàng lọc chủ động lao phổi ở bệnh nhân đái tháo đường và ngược lại, nhằm phát hiện sớm và giảm thiểu gánh nặng kép của bệnh lao phổi kèm đái tháo đường.

Từ khóa: Đái tháo đường; miễn dịch; lao phổi

DOI: https://doi.org/10.63472/sucv.06202507

Summary:

Pulmonary tuberculosis (TB) risk is increased in patients with diabetes mellitus due to hyperglycemia-induced impairment of both cell-mediated and acquired immune responses, which facilitates the progression from latent TB infection to active disease. Conversely, pulmonary TB can impair pancreatic islet cell function, and anti-TB medications may disrupt glucose homeostasis, thereby increasing the risk of developing diabetes in TB patients. Moreover, the comorbidity of pulmonary TB and diabetes is associated with higher risks of treatment failure, relapse, and mortality compared to TB alone. Therefore, active screening for pulmonary TB among diabetic patients—and vice versa—is essential for early detection and to reduce the dual burden of TB and diabetes.

Keywords: Diabetes mellitus; Immunity; Pulmonary tuberculosis.

Ngày nhận bài: 22/4/2025.

Ngày phản biện khoa học: 25/4/2025

Ngày Duyệt đăng: 5/5/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 5+6/2025

1. GIỚI THIỆU

Bệnh lao là một bệnh nhiễm khuẩn mạn tính do trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây nên. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải chất tiết có chứa vi khuẩn lao. Lao phổi là thể bệnh lao thường gặp nhất, chiếm 80–85% các thể lao [1].

Tổng cộng 8,2 triệu người trên toàn cầu được báo cáo là mới được chẩn đoán mắc bệnh lao, trong đó có 6,9 triệu người mắc lao phổi, chiếm 84% vào năm 2023, cao hơn nhiều so với mức 6,4 triệu vào năm 2021 [2].

Đái tháo đường là một rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạn tính, do rối loạn về kháng insulin và/hoặc suy giảm bài tiết insulin. Đái tháo đường type 2 là kết quả của tình trạng tiết insulin bị suy giảm và tình trạng kháng insulin tăng lên. Trong khi đó, đái tháo đường type 1 là một bệnh tự miễn do các tế bào β của tuyến tụy bị phá hủy, dẫn đến mất khả năng sản xuất insulin [3]. Bằng chứng cho thấy cả bệnh tiểu đường type 1 và type 2 đều có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lao. Tuy nhiên, vì bệnh đái tháo đường type 2 chiếm 85–95% các trường hợp đái tháo đường trên toàn cầu nên gánh nặng của bệnh đi kèm từ bệnh đái tháo đường type 2 lớn hơn nhiều [4].

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường toàn cầu vào năm 2019 ước tính là 9,3%, dự kiến tăng lên 10,2% vào năm 2030 và 10,9% vào năm 2045. Cứ hai người mắc bệnh đái tháo đường thì có một người (50,1%) không biết mình bị bệnh. Từ kết quả trên cho thấy gần nửa tỷ người trên thế giới đang sống chung với bệnh đái tháo đường và con số này dự kiến sẽ tăng 25% vào năm 2030 và 51% vào năm 2045 [5].

Trên toàn cầu, ước tính có khoảng 9,6 triệu bệnh nhân mới mắc bệnh lao hoạt động hàng năm, trong số đó một triệu người mắc cả bệnh lao và đái tháo đường [6].

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, những bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh lao cao hơn những người khác gấp 3 đến 5 lần. Một tỷ lệ không nhỏ người bệnh phát hiện lao phổi sau 5 năm mắc đái tháo đường, gần 2/3 trường hợp đái tháo đường phát hiện trước bệnh lao [1].

2. NỘI DUNG

2.1 Cơ chế bệnh sinh

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) làm tăng nguy cơ phát triển bệnh lao thông qua hai cơ chế: suy yếu hệ miễn dịch qua trung gian tế bào, khiến bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng hơn và suy yếu hệ miễn dịch mắc phải, dẫn đến sự chuyển đổi từ lao tiềm ẩn sang lao hoạt động.

Cơ chế suy giảm miễn dịch bẩm sinh ở bệnh nhân đái tháo đường và nguy cơ mắc lao phổi:

Sự khác biệt trong miễn dịch bẩm sinh giữa bệnh nhân đái tháo đường và không mắc đái tháo đường có ảnh hưởng lớn đến sự nhạy cảm và sinh bệnh của các nhiễm trùng, bao gồm cả bệnh lao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chức năng của tế bào bạch cầu trung tính (neutrophils), đại thực bào (macrophages), tế bào Dendritic (DC), tế bào giết tự nhiên (NK cells) và một số thành phần khác của miễn dịch bẩm sinh bị suy giảm đáng kể do sự thay đổi chuyển hóa trong đái tháo đường. Do đó, rối loạn miễn dịch có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tái hoạt động và sự nhạy cảm của cơ thể đối với nhiễm lao từ bên ngoài.

Nhiễm Mycobacterium tuberculosis (MTB) ban đầu vào đại thực bào phế nang (AM) qua việc hít phải vi khuẩn sẽ kích hoạt phản ứng miễn dịch bẩm sinh, thu hút nhiều loại tế bào myeloid vào phế nang. Các đại thực bào phế nang đóng vai trò trung tâm trong việc nhiễm và tái tạo MTB. Những đại thực bào này sẽ nuốt vi khuẩn và bao quanh chúng trong các phagosome, kết hợp với lysosome để tiêu hóa vi khuẩn và sản xuất các phân tử kháng khuẩn như các intermediates nitơ phản ứng. Chúng cũng có vai trò thiết yếu trong việc hình thành granulomas, đặc trưng của lao ở người, chứa các tế bào miễn dịch khác như tế bào bạch cầu trung tính và tế bào T.

Bên cạnh đó, IFNγ cũng quyết định sự kích hoạt đại thực bào, và quá trình sản xuất IFNγ này được điều chỉnh bởi sự giải phóng IL-1β, IL-12 và IL-18 từ tế bào trình diện kháng nguyên (APCs) khi bị kích thích bởi mycobacteria. Vì vậy, bệnh nhân đái tháo đường type 2 có thể đặc trưng bởi việc giảm bài tiết IL-1β, IL-12 và IL-18 và đáp ứng với sự kích thích bằng việc sản xuất ít IFNγ, dẫn đến tăng nguy cơ mắc lao [3].

Cơ chế suy giảm miễn dịch mắc phải ở bệnh nhân đái tháo đường và nguy cơ mắc lao:

Miễn dịch mắc phải chống lại nhiễm MTB chủ yếu là phản ứng miễn dịch tế bào. Tế bào T hỗ trợ 1 (Th1) đóng vai trò trung tâm trong phòng thủ của cơ thể bằng cách kích thích sản xuất IFNγ, làm tăng khả năng tiêu diệt MTB phụ thuộc vào oxit nitric (NO) của đại thực bào, trong khi IL-2 là cytokine thiết yếu cho sự phát triển và nhân lên của tế bào Th1 và tế bào T CD8+, và tế bào Th17 tiết IL-17 và IL-23, đóng vai trò trong phản ứng viêm của lao. Các nhà nghiên cứu giả thuyết rằng sự suy giảm chức năng tế bào Th trong bệnh ĐTĐ sẽ là yếu tố chính cho sự phát triển của bệnh lao.

Đái tháo đường có thể tác động và/hoặc giảm tần suất tế bào Th1 và Th17 ở những người mắc lao và ĐTĐ do tần suất tế bào Th2 tăng lên, tiết IL-4; do đó, các tế bào Th2 được biết là cản trở sự phân hóa của tế bào Th1 và Th17. Không phụ thuộc vào việc tiết cytokine, một nghiên cứu khác cho thấy tần suất tế bào T CD4+ biểu hiện cytokine Th2 thực sự giảm ở những người mắc lao và ĐTĐ, cho thấy ĐTĐ có liên quan đến sự thay đổi tần suất các phân nhóm tế bào T CD4+ đặc hiệu kháng nguyên. Vì cytokine Th1 và Th2 điều chỉnh việc bài tiết cytokine với nhau, họ phát hiện rằng tỷ lệ cytokine tổng thể Th1/Th2 (IFNγ:IL-4, IFNγ:IL-5, và IFNγ:IL-10 và TNFβ:IL-4, TNFβ:IL-5, và TNFβ:IL-10) thấp hơn ở bệnh nhân lao mắc ĐTĐ so với bệnh nhân lao không mắc ĐTĐ và các đối tượng khỏe mạnh. Do đó, tỷ lệ Th1:Th2 thấp có thể góp phần vào nguy cơ nhiễm MTB dưới tình trạng ĐTĐ [3].

ĐẶC ĐIỂM LAO PHỔI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Ngược lại, Bệnh lao phổi (PTB) làm tăng nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ ở bệnh nhân mắc lao phổi:

Cơ chế Lao phổi làm tăng nguy cơ mắc đái tháo đường:

Bệnh lao phổi làm suy yếu chức năng tế bào đảo tụy bằng cách gây ra amyloidosis tế bào đảo tụy và các thuốc điều trị lao làm rối loạn sự cân bằng glucose trong máu bằng cách ảnh hưởng đến chức năng gan và thận ở bệnh nhân mắc PTB, từ đó làm tăng nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân mắc PTB.

Chức năng gan và thận đóng vai trò không thể thiếu trong việc duy trì sự ổn định của chuyển hóa glucose. Bệnh nhân mắc lao phổi có thể gặp phải rối loạn chuyển hóa glucose do tổn thương chức năng gan và thận trong quá trình điều trị lao. Đã có báo cáo rằng isoniazid có thể gây tổn thương gan trong điều trị lao.

Ngoài ra, bệnh lý amyloidosis đặc hiệu của tụy được chứng minh ở bệnh nhân nhiễm lao, trong khi bệnh amyloidosis tế bào đảo tụy nặng cũng thường xuyên được quan sát thấy ở bệnh đái tháo đường. Đáng chú ý, bệnh amyloidosis tế bào đảo tụy, như một sản phẩm phụ của nhiễm lao toàn thân, bị hòa tan bởi rifampicin; do đó, người ta cho rằng nhiễm Mycobacterium tuberculosis có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường bằng cách gây amyloidosis tế bào đảo tụy ở bệnh nhân mắc lao phổi [7].

ĐẶC ĐIỂM LAO PHỔI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Cơ chế miễn dịch của bệnh đái tháo đường đối với mức độ nghiêm trọng và kết quả điều trị bệnh lao:

Nhiễm MTB ở bệnh nhân đái tháo đường có xu hướng tiến triển nhanh chóng với thời gian sống sót ngắn hơn, tổn thương phổi và ngoài phổi nặng nề hơn và gánh nặng vi khuẩn cao hơn so với những người không mắc ĐTĐ. Hơn nữa, sự gia tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh, bệnh lao kê và tải lượng vi khuẩn cao sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân lao mắc ĐTĐ.

Nói chung, việc bài tiết cytokine chủ yếu Th1 là rất quan trọng trong việc kích hoạt đại thực bào để bảo vệ chống nhiễm MTB. Tuy nhiên, nhiễm MTB ở bệnh nhân ĐTĐ lại không kiểm soát được sự phát triển của vi khuẩn do mức độ cytokine chống viêm và IL-4 tăng cao, điều này ức chế sự biểu hiện của IFNγ, dẫn đến sự tiến triển bệnh nhanh chóng trước khi miễn dịch thích ứng đối với MTB xuất hiện ở bệnh nhân ĐTĐ. Bệnh nhân ĐTĐ cũng có khả năng thất bại trong điều trị và tử vong trong quá trình điều trị cao hơn so với những bệnh nhân không mắc ĐTĐ [3].

2.2 Một số điểm cần lưu ý trong chẩn đoán và điều trị lao phổi trên bệnh nhân đái tháo đường:

2.2.1 Chẩn đoán

Lâm sàng:

Biểu hiện lâm sàng của lao phổi và đái tháo đường có thể chia thành 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn đầu: Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng, đôi khi nghèo nàn, và thường chỉ phát hiện lao phổi khi chụp X-quang. Tình trạng này chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân có đái tháo đường type 2.

  • Giai đoạn toàn phát: Các triệu chứng điển hình gồm ho (93%), sốt (82%), đau ngực, đôi khi ho khạc ra máu và sụt cân. Cần khám toàn diện để phát hiện các ổ lao nguyên phát, như ở tiết niệu sinh dục, hạch lympho…

Ngoài ra, bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng của đái tháo đường như ăn nhiều, tiểu nhiều, và sụt cân nhanh [8].

Cận lâm sàng:

Hình ảnh X-quang phổi ở bệnh nhân lao phổi kèm đái tháo đường:

Trong khi tổn thương hang ở thùy trên thường thấy ở bệnh nhân lao phổi có hệ miễn dịch bình thường, thì tổn thương ở vùng dưới phổi, hạch bạch huyết to và tràn dịch màng phổi lại là đặc điểm phổ biến ở bệnh nhân có suy giảm miễn dịch. Do đó, hình ảnh lâm sàng và X-quang phổi của bệnh nhân lao phổi kèm đái tháo đường có thể không song hành, và tổn thương X-quang có thể nặng trong khi triệu chứng lâm sàng lại nghèo nàn [8].

ĐẶC ĐIỂM LAO PHỔI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đông đặc thùy trên phổi phải và hang trong lao phổi [9]

  • (A) Hình X-quang cho thấy vùng đông đặc và một hang nhỏ ở thùy trên phổi phải.
  • (B và C) Hình ảnh cắt lớp vi tính (CT) cho thấy hai hang cạnh nhau, các đám mờ không rõ ranh giới, và vùng đông đặc có hang ở thùy trên phổi phải.

Hình ảnh CT cho thấy tổn thương ở cả hai bên và toàn bộ thùy phổi ở bệnh nhân lao phổi kèm đái tháo đường [13].

ĐẶC ĐIỂM LAO PHỔI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Hình ảnh CT cho thấy tổn thương ở cả hai bên và toàn bộ thùy phổi ở bệnh nhân lao phổi có kèm đái tháo đường [13].

2.2.2 Điều trị lao phổi trên bệnh nhân đái tháo đường

Phác đồ điều trị lao phổi:

Theo Chương trình chống lao quốc gia, không có sự khác biệt về phác đồ điều trị lao phổi ở bệnh nhân có và không có đái tháo đường.

Phác đồ A1: 2RHZE/4RHE (phác đồ 6 tháng, điều trị lao ở người lớn) [10].

Ảnh hưởng của Rifampicin đến thuốc điều trị đái tháo đường:

Rifampicin có thể làm giảm hiệu quả của hầu hết các thuốc tiểu đường đường uống. Nó tăng chuyển hóa các dẫn xuất sulfonylurea ở gan, nhóm thuốc hạ đường huyết phổ biến nhất.

  • Glucagon-like peptide-1 (GLP-1) receptor agonists: Không bị ảnh hưởng bởi rifampicin.

  • Dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4) inhibitors: Có thể bị ảnh hưởng nhẹ [4,11].

2.2.3 Điều trị đái tháo đường trên bệnh nhân lao phổi

Kiểm soát đường huyết tối ưu có thể cải thiện kết quả điều trị lao và ngăn ngừa nhiều biến chứng liên quan đến bệnh đái tháo đường.

Lựa chọn thuốc điều trị đái tháo đường cho bệnh nhân lao phổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm khả năng tiếp cận, chi phí, sự dễ sử dụng và tính an toàn.

Yếu tố an toàn của các nhóm thuốc đái tháo đường

Một số tác dụng phụ quan trọng cần lưu ý khi dùng thuốc hạ đường huyết ở bệnh nhân lao:

  • Sulfonylureas và insulin: Nguy cơ hạ đường huyết.

  • Biguanides (metformin): Nguy cơ nhiễm toan lactic.

  • Biguanides, meglitinides và ức chế alpha-glucosidase: Gây rối loạn tiêu hóa.

  • Sulfonylureas: Có thể gây dị ứng, dễ nhầm lẫn với tác dụng phụ của thuốc chống lao [12].

Sử dụng insulin trong điều trị đái tháo đường ở bệnh nhân lao phổi:

  • Một số hướng dẫn điều trị quốc gia khuyến nghị dùng insulin cho bệnh nhân đái tháo đường mắc lao phổi, vì insulin không bị chuyển hóa ở gan, không tương tác với rifampicin hoặc các thuốc chống lao khác.

  • Hạn chế của insulin: Chi phí cao, cần giữ lạnh, khó sử dụng (cần tiêm) [12].

Metformin trong điều trị đái tháo đường type 2 ở bệnh nhân lao phổi:

Metformin có thể tăng cường hiệu quả hạ đường huyết khi kết hợp với rifampicin, nhưng cần chú ý đến các tác dụng phụ liên quan đến dạ dày và nguy cơ nhiễm toan lactic [11].

2.2.4 Nguy cơ kết cục điều trị lao kém đáp ứng trên bệnh nhân đái tháo đường

Đái tháo đường không chỉ là yếu tố nguy cơ gây bệnh lao tiến triển mà còn làm gia tăng nguy cơ kết cục điều trị lao kém đáp ứng. Phân tích tổng hợp cho thấy tỷ lệ thất bại điều trị lao và tử vong cao hơn ở bệnh nhân ĐTĐ so với những người không ĐTĐ.

Tương tự, nguy cơ tử vong trong quá trình điều trị lao và tái phát sau điều trị cũng cao hơn ở bệnh nhân có đái tháo đường so với những người không có đái tháo đường [4].

3. KẾT LUẬN

Tỷ lệ mắc lao phổi trên bệnh nhân đái tháo đường sẽ tiếp tục tăng do gánh nặng toàn cầu của bệnh đái tháo đường type 2 đang gia tăng. Bệnh đái tháo đường gây ra các bất thường trong cả đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và mắc phải, làm tăng nguy cơ phát triển bệnh lao kết hợp, các biến chứng, kết quả điều trị thất bại và tử vong. Do đó, cần sàng lọc chủ động lao phổi và đái tháo đường, đồng thời triển khai các chương trình phòng ngừa hiệu quả để giảm gánh nặng kép của lao phổi kèm đái tháo đường, đặc biệt ở các quốc gia có gánh nặng bệnh lao và đái tháo đường cao. Bên cạnh đó, cần điều trị song song giữa thuốc kháng lao và thuốc hạ đường huyết một cách chính xác, theo dõi chặt chẽ tác dụng phụ và tương tác thuốc trong suốt quá trình điều trị.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thị Thu Ba (2015), Bệnh học lao, NXB Y học, tr. 36-43.

[2] J. E. Stalenhoef, B. Alisjahbana et al., “Therole of interferon-gamma in the increased tuberculosis riskin type 2 diabetes mellitus,” European Journal of ClinicalMicrobiology & Infectious Diseases, vol. 27, no. 2, pp. 97–103,2008.

[3] Birhanu Ayelign, Tadelo Wondmagegn “Tewodros Shibabaw, Immunological Impacts of Diabetes on the Susceptibility of Mycobacterium tuberculosis”, Journal of Immunology ResearchVolume 2019, Article ID 6196532, 8 https://doi.org/10.1155/2019/6196532

[4] Anca Lelia Riza , Fiona Pearson , Cesar Ugarte-Gil “Reinout van Crevel, Clinical management of concurrent diabetes and tuberculosis and the implications for patient services” Lancet Diabetes Endocrinol (2014) Sep;2(9):740-53.PMCID: PMC4852378 DOI: 10.1016/S2213-8587(14)70110-X.

[5] Pouya Saeedi , Inga Petersohn , Global and regional diabetes prevalence estimates for 2019 and projections for 2030 and 2045: Results from the International Diabetes Federation Diabetes Atlas, 9th edition, Diabetes Res Clin Pract, 2019 Nov:157:107843, PMID: 31518657 DOI: 10.1016/j.diabres.2019.107843.

[6] K. Lönnroth, G. Roglic, and A. D. Harries, “Improving tubercu-losis prevention and care through addressing the global diabetesepidemic: from evidence to policy and practice,” The LancetDiabetes & Endocrinology, vol. 2, no. 9, pp. 730–739, 2014.

[7]You-Fan Peng, “Pulmonary tuberculosis and diabetes mellitus: Epidemiology, pathogenesis and therapeutic management (Review), MEDICINE International 4: 4, 2024.

[8] Ngô Thanh Bình và cộng sự (2010), “Lao phổi và Đái tháo đường”, Nhà xuất bản Y học, tr 150-153.

[9] Anton Pozniak, MD, FRCP, Pulmonary tuberculosis disease in adults: Clinical manifestations and complications, updated: Mar 03, 2025.

[10] Bộ Y Tế (2024), “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng lao”, Quyết định số 162/QĐ-BYT ngày 19 tháng 01 năm 2024.

[11] Tornio A, Niemi M, Neuvonen PJ, Drug interactions with oral antidiabetic agents: pharmacokinetic mechanisms and clinical implications. Trends Pharmacol Sci. 2012;33:312–322. doi: 10.1016/j.tips.2012.03.001

[12] Niazi AK, Kalra S. Bệnh tiểu đường và bệnh lao: đánh giá vai trò của việc kiểm soát đường huyết tối ưu. J Diabetes Metab Disord. 2012;11:28. doi: 10.1186/2251-6581-11-28.

[13] Jihyun Kim In Jae Lee Joo-Hee Kim “CT findings of pulmonary tuberculosis and tuberculous pleurisy in diabetes mellitus patients”,Turkish Society of Radiology 2017 PMC: 28185999 ,https://doi.org/10.5152/dir.2016.16157

Trương Thị Bích Phương, Trần Hải Hà Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Đái tháo đường theo WHO: Những thông tin cần biết

Đái tháo đường theo WHO: Những thông tin cần biết

Đái tháo đường là một bệnh lý mãn tính phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe toàn diện của con người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc hiểu rõ định nghĩa và phân loại đái tháo đường không chỉ giúp người bệnh có cái nhìn đúng đắn về tình trạng sức khỏe của mình mà còn hỗ trợ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2024

THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH NĂM 2024

Đột quỵ là một trong những bệnh lý nguy hiểm, tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư và cao hơn cả nhồi máu cơ tim. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế, để lại nhiều di chứng nặng nề, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Xuyên phá thạch – Vị thuốc quý hỗ trợ trị đau lưng, ho ra máu, lao phổi

Xuyên phá thạch – Vị thuốc quý hỗ trợ trị đau lưng, ho ra máu, lao phổi

Trong kho tàng y học cổ truyền phương Đông, nhiều vị thuốc quý từ thiên nhiên đã được con người phát hiện, nghiên cứu và sử dụng hàng ngàn năm để điều trị các chứng bệnh nan y. Trong số đó, Xuyên phá thạch là một dược liệu nổi bật với công năng tiêu uất, hoạt huyết, thông kinh, trừ đờm và chỉ khái. Đặc biệt, vị thuốc này được dùng hiệu quả trong các trường hợp đau lưng, đau nhức gối, ho ra máu và lao phổi – những chứng bệnh mãn tính thường gặp, nhất là ở người cao tuổi hoặc người suy nhược thể trạng.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động