Assessment of Outcomes Following Decompressive Craniectomy in Patients with Traumatic Brain Injury and Raised Intracranial Pressure

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Tóm tắt: Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở nắp sọ giảm áp tại Bệnh viện Thống Nhất. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang các BN chấn thương sọ não có chỉ định phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp từ tháng 01/2017 đến tháng 01/2024 tại BV Thống Nhất. Kết quả: chúng tôi khảo sát và theo dõi 344 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn và thu được các kết quả như sau: Tại thời điểm xuất viện/chuyển viện, tỉ lệ bệnh nhân có kết cuộc tốt (GOS 4 và 5) là 69,28% và có kết cuộc xấu (GOS 1, 2 và 3) là 30,72%, trong đó có 230 BN (66,86%) có điểm GCS là 14 và 62 bệnh nhân (18,02%) có điểm GCS là 9 đến 13 điểm. Biến chứng được ghi nhận có ảnh hưởng đến kết cuộc bệnh nhân sau mở nắp sọ giảm áp là xuất huyết lại chiếm 50,58% và một số yếu tố như xuất huyết não thất, sự chèn ép bể đáy có liên quan với sựhình thành máu tụ mới sau phẫu thuật mà có ảnh hưởng kết cuộc của BN. Kết luận: Phẫu thuật mở sọ giải áp là phương pháp đã được chứng minh qua thời gian, thường được áp dụng trong các trường hợp khẩn cấp để cứu mạng bệnh nhân sau tai nạn.

Abstract:

Evaluation of Treatment Outcomes in Traumatic Brain Injury Patients with Increased Intracranial Pressure Undergoing Decompressive Craniectomy at Thong Nhat Hospital

Subjects and Methods:
This was a retrospective cross-sectional descriptive study conducted on patients with traumatic brain injury (TBI) who underwent decompressive craniectomy at Thong Nhat Hospital from January 2017 to January 2024.

Results:
A total of 344 patients meeting the inclusion criteria were evaluated. At the time of discharge or referral, the proportion of patients with good outcomes (GOS 4 and 5) was 69.28%, while those with poor outcomes (GOS 1, 2, and 3) accounted for 30.72%. Among them, 230 patients (66.86%) had a Glasgow Coma Scale (GCS) score of 14, and 62 patients (18.02%) had a GCS score ranging from 9 to 13. The most common complication affecting post-operative outcomes was rebleeding, observed in 50.58% of cases. Additionally, factors such as intraventricular hemorrhage and basal cistern compression were associated with the formation of new hematomas after surgery, which had an impact on patient outcomes.

Conclusion: Decompressive craniectomy is a time-tested surgical intervention, commonly employed in emergency situations to save the lives of patients following traumatic brain injury.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương sọ não (CTSN) đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây ra tử vong và khuyết tật thần kinh toàn cầu. Hàng năm, CTSN không chỉ cướp đi sinh mạng của khoảng 1,5 triệu người mà còn khiến hàng triệu người khác phải chịu cảnh sống chung với hậu quả của nó. Tỷ lệ tử vong và hậu quả lâu dài do CTSN tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và cơ chế của chấn thương. Thống kê chỉ ra rằng, có hơn 20% các trường hợp dẫn đến kết cuộc bi thảm như tử vong hoặc tàn tật nặng nề. Bệnh nhân (BN) CTSN thường gặp phải tình trạng tổn thương phức tạp kết hợp cả trong và ngoài sọ, đặc biệt là trong bệnh cảnh đa chấn thương. Việc đánh giá tổn thương ngay từ khi tiếp nhận BN là vô cùng phức tạp và cực kỳ quan trọng để dự đoán kết cuộc, các rủi ro tiềm ẩn và tỷ lệ tử vong. Trong số các phương pháp điều trị phẫu thuật CTSN, mở nắp sọ giảm áp (MSGA) được xác định là có hiệu quả rõ rệt, nhất là khi kết hợp loại bỏ các tổn thương, giúp giảm áp lực nội sọ, được thể hiện rõ qua cả các dấu hiệu lâm sàng và kết quả hình ảnh. Số lượng BN tại Bệnh viện Thống Nhất bị chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được chỉ định MSGA ngày càng nhưng lại chưa có số liệu thống kê cụ thể nên chúng tôi xin được thực hiện đề tài trên nhằm đánh giá kết quả điều trị BN chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được chỉ định MSGA tại Bệnh viện Thống Nhất.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

Các BN CTSN có tăng áp lực nội sọ được chỉ định phẫu thuật mở n ắp sọ giảm áp từ tháng 01/2017 đến tháng 01/2024 tại bệnh viện Thống Nhất.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu

BN trên 18 tuổi Nhập viện vì chấn thương

Có giảm tri giác trên lâm sàng hoặc có dấu thần kinh khu trú hoặc có sự thay đổi về đồng tử CT scan sọ não: có máu tụ dưới màng cứng cấp tính và/ hoặc có dập não xuất huyết mà có chỉ định phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp nửa bán cầu.

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:

Các BN được chỉ định phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp trán hai bên, mở nắp sọ giảm áp hai bán cầu.

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang với cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu dựa trên p là tỉ lệ BN được phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp trong nghiên cứu của Aarabii.

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Các ca phẫu thuật bên cạnh được mở sọ giải áp kèm theo được mô tả là lấy hết tổn thương bao gồm máu tụ, não dập hay cả hai. Sự xuất hiện máu tụ và dập phù não sau mổ được khảo sát và đo đạc trên phim CT scan sọ não kiểm tra sau mổ.

2.3. Đánh giá kết quả

Đặc điểm dịch tễ: tuổi, giới, nguyên nhân, tiền căn về tăng huyết áp, đái tháo đường, sử dụng kháng đông, bệnh lý ưa chảy máu, dùng rượu bia.

Đặc điểm lâm sàng: thời gian từ lúc chấn thương đến lúc nhập viện, từ lúc chấn thương đến lúc phẫu thuật, thời gian chụp CTscan sọ não kiểm tra, tình trạng lúc nhập viện theo GCS.

Bảng 2.1: Thang điểm Glasgow[3]

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Đặc điểm cận lâm sàng: thời gian đông máu toàn bộ, số lượng tiểu cầu, thể tích khối máu tụ trước và sau phẫu thuật, vị trí, loại máu tụ, bể nền, xuất huyết dưới nhện, thang điểm Rotterdam.

Bảng 2.2: Thang điểm Rotterdam[4]

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Kết quả: thời gian nằm viện, biến chứng sau phẫu thuật, GCS lúc xuất viện/chuyển viện, điểm GOS lúc xuất viện.

Bảng 2.3: Thang điểm GOS[5].

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Kết quả BN tại thời điểm lúc xuất viện/chuyển viện

3.1.1. Tri giác lúc xuất viện/chuyển viện

Bảng 3.1: GCS BN lúc xuất viện/chuyển viện GCS xuất viện/chuyển việnS ố ca Tỉ lệ (%)

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Đa số các BN xuất viện/chuyển viện trong tình trạng GCS 14 và 15 điểm (66,86%), khoảng gần 1/5 số BN có GCS từ 9 đến 13 điểm (18,02%), các BN còn lại với tình trạng nặng có thể tử vong hoặc hôn mê sâu. Trong khi đó Aarabi và cộng sự trong nghiên cứu hồi cứu của họ đã báo cáo kết quả tốt ở 67% bệnh nhân có điểm GCS từ 9 trở lên ( P < 0,05).

3.1.2. Sự phục hồi chức năng của BN theo thang điểm GOS lúc xuất viện/chuyển viện

Bảng 3.2: GOS BN lúc xuất viện/chuyển viện

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, BN được định nghĩa tại thời điểm lúc xuất viện/chuyển viện có kết cuộc tốt là GOS 4 và 5, có kết cuộc xấu là GOS 1, 2 và 3, sống sót là GOS từ 2 đến 5, tử vong là GOS 1. Trong đó, BN có kết cuộc tốt chiếm 69,18%, BN có kết cuộc xấu là 30,82%; BN sống sót là 90,12% và tử vong là 9,88%. Kết quả này cũng tương tự như tác giả Aarabi và công sự đã báo cáo 40% kết quả thuận lợi (GOS 4 hoặc 5) trong số những bệnh nhân CTSN được theo dõi ít nhất 3 tháng sau MSGA.

3.1.3. Các biến chứng sau phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp.

Chúng tôi ghi nhận được các biến chứng sau phẫu thuật bao gồm: chảy máu (50,58%), nhiễm trùng (11,04%) trong đó bao gồm nhiễm trùng tại vùng phẫu thuật (5,81%) và viêm phổi (8,72%); không ghi nhận rò dịch não tuỷ. Kết quả này tượng tử với một số tác giả khác trên thể giới.

3.2. Các yếu tố liên quan đến kết cuộc BN.

Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm dịch tễ và một số đặc điểm lâm sàng như tuổi, giới, các nguyên nhân gây chấn thương, độ nặng chấn thương sọ não được đánh giá theo GCS, thời gian từ lúc chấn thương đến lúc nhập viện, thời gian từ lúc chấn thương đến lúc phẫu thuật đều không liên quan với kết cuộc BN. Trong khi Davide Nasi có nhận xét tương đối giống với chúng tôi về tuổi và giới tính, thì Oertel lại nhận thấy tuổi (OR=1,04; p=0,01) và giới tính (p=0,0002) là các yếu tố liên quan.

Đối với các đặc điểm cận lâm sàng, chúng tôi ghi nhận sự xuất hiện của xuất huyết não thất (XHNT), sự chèn ép bể đáy có liên quan với việc hình thành MTDPN mới sau mổ. Không như chúng tôi, Davide Nasi không thấy mối liên quan với sự xuất hiện máu tụ mới sau MSGA với p=0,65.

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Bảng 3.3: Sự xuất hiện của XHNT sau mổ

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Bảng 3.4: Sự xuất hiện của chèn ép bể nền sau mổ

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Đối với các tổn thương nội sọ trước mổ, lượng máu tụ trung trình trong nghiên cứu của Flint và Davide Nasi ít hơn so với nghiên cứu chúng tôi nhưng độ nặng lúc nhập viện là tương đương nên có thể vẫn tìm ẩn yếu tố gây nhiễu đặc biệt là tổn thương sợi trục lan tỏa.

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Bảng 3.5: So sánh lượng máu tụ của nghiên cứu chúng tôi và các tác giả khác

Sự mở rộng tổn thương xuất huyết sau các chấn thương sọ não được phát hiện đầu tiên sau khi máy chụp cắt lớp vi tính được ra đời. Đối với MTDPN mới sau mổ, tỉ lệ BN máu tụ lại của chúng tôi thấp hơn kết quả của Flint (58%) và cao hơn nghiên cứu của Davide Nasi là 25,82%. Oertel và cộng sự đã hồi cứu phân tích trên 142 BN có thang điểm GCS trung vị là 8, trong đó có tỉ lệ xuất huyết tiến triển là 42%. Trong 2 nghiên cứu khác tương tự với chúng tôi, có 38% trong 113 BN của Chang và 42% trong 116 BN của Smith, là có tổn thương tiến triển và Chang đã cho thấy có thể dựa trên thể tích máu tụ ở phim chụp CLVT lúc nhập viện có thể dự đoán được thể tích máu tụ mở rộng.

Bảng 3.6: So sánh lượng tỉ lệ máu tụ, lượng máu tụ sau mổ của nghiên cứu chúng tôi và các tác giả khác

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Khi đánh giá điều trịvà phục hồi, chúng tôi sử dụng đường cong ROC giữa thể tích MTDPN mới sau phẫu thuật với GOS của BN lúc ra viện. Chúng tôi thu được với lượng máu tụ là 22,68ml thì độ nhạy là 73% và độ đặc hiệu là 70%, với p<0,001, và diện tích dưới đường cong là 0,7362, với khoảng tin cậy 95% là 0,62 và 0,86. Kết quả cho thấy rằng kích thước nắp sọ và các yếu tố đông máu không liên quan với việc hình thành MTDPN mới sau phẫu thuật.

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa MTDPN trước phẫu thuật với sau phẫu thuật GOS

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

Nghiên cứu của Flint năm 2008 đã cho kết quả lượng máu tụ xuất hiện thêm sau MSGA một bên là mốc để nhận định khả năng phục hồi của BN sau 6 tháng là 20ml với độ nhạy và độ đặc hiệu của giá trị này đều là 75%. Thêm vào đó, Davide Nasi đã cho thấy thể tích não dập có khả năng dự đoán cao lượng máu tụ sau mổ, đồng thời lượng não dập tiến triển và máu tụ mới có liên quan với kết cuộc của BN ở thời điểm 6 tháng.

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não có tăng áp lực nội sọ được mở sọ giảm áp

IV. KẾT LUẬN

Chấn thương sọ não là bệnh lý phức tạp do nhiều cơ chế phối hợp và càng khó đánh giá hơn khi ở bệnh cảnh đa chấn thương. Phẫu thuật MSGA là phương pháp ngoại khoa kinh điển trong điều trị BN CTSN có tăng áp lực nội sọ được chỉ định MSGA đã chứng minh được hiệu quả, tuy nhiên việc chỉ định là cực kì quan trọng và phải cẩn trọng trong đánh giá kết cục BN để mang lại lợi ích nhiều nhất có thể khi thực hiện phẫu thuật này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Steyerberg EW, Mushkudiani N, Perel P, et al. Predicting Outcome after Traumatic Brain Injury: Development and International Validation of Prognostic Scores Based on Admission Characteristics. PLOS Med. 2008;5(8):e165. doi:10.1371/journal. pmed.0050165

2. Aarabi B, Hesdorffer DC, Ahn ES, Aresco C, Scalea TM, Eisenberg HM. Outcome following decompressive craniectomy for malignant swelling due to severe head injury. J Neurosurg. 2006; 104(4): 469-479. doi:10.3171/ jns.2006. 104.4.469

3. Teasdale G, Maas A, Lecky F,Manley G, Stocchetti N, Murray G. The Glasgow Coma Scale at 40 years: standing the test of time. Lancet Neurol. 2014;13(8):844-854. doi:10.1016/S1474-4422(14)70120-6

4. Maas AIR, Hukkelhoven CWPM, Marshall LF, Steyerberg EW. Prediction of outcome in traumatic brain injury with computed tomographic characteristics: a comparison between the computed tomographic classification and combinations of computed tomographic predictors. Neurosurgery. 2005;57(6):1173-1182; discussion 1173-1182. doi:10.1227/01.neu.0000186013.63046.6b

5. Jennett B, Bond M. Assessment of outcome after severe brain damage: A Practical Scale. The Lancet. 1975;305(7905):480-484. doi:10.1016/S0140-6736(75)92830-5

6. Oertel M, Kelly DF, McArthur D, et al. Progressive hemorrhage after head trauma: predictors and consequences of the evolving injury. J Neurosurg. 2002;96(1):109-116. doi:10.3171/jns.2002.96.1.0109

7. Nasi D, di Somma L, Gladi M, et al. New or Blossoming Hemorrhagic Contusions After Decompressive Craniectomy in Traumatic Brain Injury: Analysis of Risk Factors. Front Neurol. 2019;9:1186. doi:10.3389/ fneur.2018.01186

8. Flint AC, Manley GT, Gean AD, Hemphill JC, Rosenthal G. Post-operative expansion of hemorrhagic contusions after unilateral decompressive hemicraniectomy in severetraumatic brain injury. J Neurotrauma. 2008;25(5):503-512. doi:10.1089/ neu.2007.0442

9. Brown FD, Mullan S, Duda EE. Delayed traumatic intracerebral hematomas. Report of three cases. J Neurosurg. 1978;48(6):10191022. doi:10.3171/jns.1978.48.6.1019

10. Chang EF, Meeker M, Holland MC. Acute traumatic intraparenchymal hemorrhage: risk factors for progression in the early postinjury period. Neurosurgery. 2006;58(4):647656; discussion 647-656. doi:10.1227/01. NEU.0000197101.68538.E6

Trần Trung Kiên, Võ Thành Toàn, Lê Bá Tùng, Nguyễn Trọng Sỹ, Đỗ Duy Anh/Bệnh viện Thống Nhất
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Giữ trí nhớ, tăng vận động cho người cao tuổi bằng phục hồi chức năng

Giữ trí nhớ, tăng vận động cho người cao tuổi bằng phục hồi chức năng

Tuổi càng cao, não bộ cũng như các cơ quan khác trong cơ thể dần có những thay đổi theo quy luật lão hóa. Một số người cao tuổi có thể gặp tình trạng suy giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung, chậm phản xạ hoặc sa sút trí tuệ, ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm và tham gia chương trình phục hồi chức năng phù hợp, người bệnh có thể duy trì tốt hơn khả năng nhận thức, làm chậm quá trình suy giảm chức năng và tăng tính chủ động trong cuộc sống.
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ứng dụng công nghệ điện trường cao áp tích hợp AI trong phục hồi chức năng

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ứng dụng công nghệ điện trường cao áp tích hợp AI trong phục hồi chức năng

Nhằm nâng cao chất lượng điều trị và hỗ trợ phục hồi chức năng cho bệnh nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 lần đầu tiên ứng dụng thiết bị điện trường cao áp thế hệ mới tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) từ Nhật Bản.
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:

Cùng chuyên mục

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

TÓM TẮT
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

TÓM TẮT
Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

TÓM TẮT:
Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tóm tắt: Bài viết tổng quan và đánh giá giá trị ứng dụng của bài thuốc cổ phương Lục nhất tán (tỷ lệ 6 phần Hoạt thạch : 1 phần Cam thảo) trong công tác phòng chống và điều trị dịch sốt xuất huyết (SXH) Dengue. Dưới góc nhìn y học cổ truyền kết hợp thực tiễn quân y (đặc biệt tại Bệnh viện Y học cổ truyền Quân đội), bài thuốc đóng vai trò hiệp đồng quan trọng trong giai đoạn khởi phát và toàn phát nhờ các cơ chế: thanh nhiệt, giải thử, ích khí, dưỡng âm, lợi niệu và bảo vệ thành mạch. Việc kết hợp linh hoạt Lục nhất tán với các dược liệu lương huyết, chỉ huyết (như Cỏ nhọ nồi, Rễ cỏ tranh) giúp giảm nhanh triệu chứng sốt cao, bảo vệ chức năng gan thận, hỗ trợ ngăn ngừa biến chứng xuất huyết và thúc đẩy quá trình hồi phục của người bệnh. Từ khóa: Lục Nhất tán; chứng xuất huyết; phục hồi.

Các tin khác

Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

TÓM TẮT: Đột quỵ não là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn cầu. Phần lớn bệnh nhân sau đột quỵ phải đối mặt với các di chứng như liệt vận động, co cứng cơ, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn nuốt và suy giảm nhận thức, làm giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Trong những năm gần đây, xu hướng kết hợp y học cổ truyền với phục hồi chức năng hiện đại ngày càng được quan tâm nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi thần kinh.
Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

TÓM TẮT: Rau má (Centella asiatica) là một dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền của nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Loại thảo dược này được sử dụng rộng rãi với các công dụng như thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm và hỗ trợ phục hồi tổn thương mô. Bài viết tổng hợp các tư liệu từ y học cổ truyền và nghiên cứu khoa học hiện đại nhằm phân tích giá trị dược liệu của rau má đối với sức khỏe con người. Kết quả cho thấy rau má chứa nhiều hoạt chất sinh học quan trọng như triterpenoid, flavonoid và saponin, có tác dụng chống oxy hóa, tăng cường tuần hoàn, hỗ trợ tái tạo da và cải thiện chức năng thần kinh. Việc khai thác và phát triển dược liệu rau má không chỉ góp phần bảo tồn nguồn dược liệu truyền thống mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm y học.
Tiếp cận chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi

Tiếp cận chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu ở người cao tuổi

Đánh giá sự tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Trà Vinh

Đánh giá sự tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Trà Vinh

Tiếp cận chẩn đoán bệnh nhân táo bón mạn tính do đờ đại tràng

Tiếp cận chẩn đoán bệnh nhân táo bón mạn tính do đờ đại tràng

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
Xem thêm
Phiên bản di động