Assessment of Knowledge and Related Factors Concerning Coronary Artery Disease in Outpatient Populations

Kiến thức và các yếu tố liên quan đến bệnh động mạch vành ở người bệnh ngoại trú

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh động mạch vành. Nghiên cứu được thực hiện trên 128 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 76,6% người bệnh có kiến thức trung bình và 23,7% người bệnh có kiến thức kém, không có người bệnh nào có kiến thức tốt; tỷ lệ người bệnh trả lời đúng cho toàn bộ câu hỏi là 45,04%.

Tóm tắt:

Kiến thức của người bệnh mắc bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh trong nghiên cứu này còn thấp. Chưa tìm thấy yếu tố liên quan giữa kiến thức của người bệnh mắc bệnh động mạch vành với các yếu tố được khảo sát tại thời điểm khảo sát. Kết quả nghiên cứu cung cấp các dữ liệu hữu ích, cần đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức của người bệnh về bệnh động mạch vành trong chăm sóc sức khỏe người bệnh tại các cơ sở y tế nói riêng và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng nói chung.

Từ khóa: Kiến thức; động mạch vành.

DOI: https://doi.org/10.63472/sucv.06202505

Summary:

The knowledge of patients with coronary artery disease at Tra Vinh Provincial General Hospital in this study was found to be low. No significant associations were identified between patients’ knowledge and the surveyed factors at the time of data collection. The study results provide useful data, highlighting the need to strengthen health communication and education efforts to improve patients' understanding of coronary artery disease. This is essential not only for enhancing patient care in healthcare facilities but also for improving the overall quality of life in the community.

Keywords: Knowledge; Coronary artery disease.

Ngày nhận bài: 06/05/2025

Ngày hoàn thiện biên tập: 09/05/2025

Ngày duyệt đăng: 22/05/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 5+6/2025

Đặt vấn đề

Hiện nay có khoảng 13 triệu người mắc bệnh động mạch vành và hằng năm có khoảng 650.000 trường hợp nhồi máu cơ tim, với khoảng 515.000 trường hợp tử vong do bệnh động mạch vành [1]. Hằng năm, số ca tử vong do bệnh động mạch vành hơn 7 triệu trường hợp (chiếm khoảng 12,8% tổng các trường hợp tử vong do mọi nguyên nhân). Bệnh động mạch vành gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ, chất lượng cuộc sống cũng như chi phí điều trị và chăm sóc. Không chỉ vậy, bệnh động mạch vành còn ảnh hưởng đến tâm lý của người bệnh, giấc ngủ và hạnh phúc gia đình [2], [3].

Tại Việt Nam, theo số liệu Bộ Y tế, bệnh động mạch vành là một trong sáu nguyên nhân gây tử vong thường gặp [3]. Thông điệp của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016: “Bệnh tim mạch hiện đã trở thành nguyên nhân mắc bệnh và gây tử vong hàng đầu”. Hằng năm có đến 17,9 triệu người chết do các bệnh lý liên quan đến tim mạch, trong đó 85% chết do nguyên nhân động mạch vành hoặc do đột quỵ não [4]. Người bệnh mắc bệnh lý tim mạch có chất lượng cuộc sống giảm sút rất nhiều như: mất khả năng lao động, thể thao, ăn uống, kiêng cữ, phải nhập viện nhiều lần và thậm chí không thể tự chăm sóc bản thân [5]. Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ của bệnh lý động mạch vành còn tồn tại ở nhiều cá nhân trong dân số nói chung bao gồm các bệnh: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipoprotein và lipid, bệnh thận mạn tính, tuổi tác, giới tính, lối sống, hút thuốc lá, chế độ ăn uống, béo phì và tiền sử gia đình [6].

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm và cộng sự (2018) cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt là 25,38% và không đạt là 74,61% [7]. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành có thể tăng lên do thiếu hiểu biết về căn bệnh này và sự thờ ơ, chủ quan, lối sống không lành mạnh, chế độ ăn uống và không tuân thủ điều trị bệnh đã gây nên bệnh động mạch vành [8]. Vì vậy, cần cung cấp thêm những kiến thức về bệnh động mạch vành và yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. Mặt khác, theo nghiên cứu của tác giả Ammouri AA và cộng sự (2016) ở Oman, nghiên cứu trên 114 người bệnh, cho thấy có 60,5% bệnh nhân có kiến thức còn thấp về bệnh động mạch vành. Mặc dù một số yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tiền sử gia đình mắc bệnh, béo phì, rối loạn lipid, chỉ số BMI và trình độ học vấn có liên quan đáng kể đến trình độ kiến thức. Do vậy, cần nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và phòng ngừa bệnh [9] là một yếu tố quan trọng. Chính vì thế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát kiến thức của người bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh và một số yếu tố liên quan đến năm 2024” với 2 mục tiêu: Xác định kiến thức trung bình của người bệnh về bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024 và mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức của người bệnh về bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024.

Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu của tác giả Negesa LB, Magarey J, Rasmussen P, Hendriks (2018) được thực hiện tại hai bệnh viện tuyến trên ở Eastern Ethiopia, với 287 bệnh nhân được ghi danh vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy hơn một nửa số bệnh nhân (54%) có kiến thức tốt về các yếu tố nguy cơ tim mạch (điểm > 70%), trong khi 46% thể hiện mức độ hiểu biết dưới tối ưu trong lĩnh vực này. Cư dân thành thị có liên quan đến điểm kiến thức về các yếu tố nguy cơ tim mạch cao hơn; trong khi đó, những người chưa kết hôn và không có trình độ học vấn chính quy hoặc trình độ học vấn thấp hơn được xác định là những yếu tố báo hiệu điểm kiến thức thấp hơn. Ngoài ra, tác giả cho thấy rằng gần một nửa số bệnh nhân mắc bệnh mạch vành ở Ethiopia có kiến thức không tối ưu về các yếu tố nguy cơ tim mạch. Nơi cư trú, trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân có liên quan đến kiến thức về các yếu tố nguy cơ tim mạch. Qua đó, tác giả đã đề xuất các biện pháp can thiệp sáng tạo và tư vấn lối sống có cấu trúc do y tá hướng dẫn sẽ cần thiết để hướng dẫn hiệu quả người bệnh phát triển thay đổi lối sống và đạt được sự thay đổi hành vi bền vững [10].

Nghiên cứu của Elsheikh EA và cộng sự (2024) được thực hiện tại Ả Rập Xê Út từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 10 năm 2022, nhắm đến những cá nhân từ 18 tuổi trở lên, với tổng cộng 1.409 người tham gia. Kết quả cho thấy 70,3% có điểm kiến thức ở mức cao, 27,4% ở mức trung bình và 2,3% ở mức thấp. Qua đó, nghiên cứu xác định mối liên quan đáng kể giữa điểm kiến thức với giới tính (p=0,03) và tuổi (p=0,01). Nghiên cứu cho thấy mức độ hiểu biết và nhận thức cao chủ yếu ở những người tham gia có liên quan đến các yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. Kết quả cho thấy nền tảng kiến thức và nhận thức vững chắc trong cộng đồng người dân Saudi về các yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành và các biện pháp phòng ngừa [11].

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm và cộng sự (2018) được tiến hành với đề tài “Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh sau can thiệp động mạch vành qua da tại tỉnh Hải Dương năm 2018”, áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 260 người bệnh điều trị ngoại trú sau can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương. Trong đó, có 25,38% bệnh nhân có kiến thức đạt và 74,61% người bệnh có kiến thức không đạt [7].

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thắng và cộng sự (2020) được tiến hành thí điểm trên 117 bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp tính tại một bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, từ ngày 21/2 đến ngày 12/3 năm 2017. Qua khảo sát, tác giả cho thấy bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 61,66 ± 8,23 tuổi, với điểm số trung bình về kiến thức là 9,58 ± 0,78 và không có mục nào thấp hơn 9 điểm. Kết quả cho thấy sự khác biệt về điểm kiến thức liên quan đến giới tính, nam giới có điểm số cao hơn đáng kể so với nữ giới (p = 0,04), và có mối liên quan đáng kể giữa trình độ học vấn và điểm kiến thức, trong đó những người có trình độ học vấn cao hơn thể hiện tốt hơn [8].

Kiến thức về bệnh động mạch vành của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Người bệnh có tổng điểm kiến thức về bệnh động mạch vành trung bình là 9,00 ± 1,89 (dao động từ 0 – 20 điểm). Trong đó, lĩnh vực tình trạng bệnh lý có điểm số trung bình là 0,86 ± 0,80. Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ, chế độ tập thể dục và nguy cơ tâm lý – xã hội có điểm số trung bình lần lượt là 2,15 ± 0,66; 2,86 ± 0,89; 2,10 ± 0,85. Riêng chế độ dinh dưỡng có điểm số trung bình là 1,02 ± 0,92.

Một yếu tố liên quan đến kiến thức của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Người bệnh dưới 65 tuổi và từ 65 tuổi trở lên có điểm số kiến thức trung bình lần lượt là 9,07 và 9,10. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Người bệnh nam và nữ có điểm số kiến thức lần lượt là 9,19 và 9,03. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

KẾT LUẬN

Qua khảo sát kiến thức về bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh và mô tả một số yếu tố liên quan trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2024, chúng tôi nhận thấy: về mức độ kiến thức, có 76,6% người bệnh có kiến thức trung bình và 23,7% có kiến thức kém, không có người bệnh nào có kiến thức tốt.

  • Kiến thức lĩnh vực 1 (tình trạng bệnh lý): điểm số trung bình 0,86 ± 0,80, thấp hơn so với các lĩnh vực khác.

  • Kiến thức lĩnh vực 2 (yếu tố nguy cơ): 2,25 ± 0,66.

  • Kiến thức lĩnh vực 3 (chế độ tập thể dục): 2,86 ± 0,89, cao nhất trong các lĩnh vực.

  • Kiến thức lĩnh vực 4 (chế độ dinh dưỡng): 1,02 ± 0,92.

  • Kiến thức lĩnh vực 5 (nguy cơ tâm lý – xã hội): 2,10 ± 0,85.

Qua 5 lĩnh vực cho thấy điểm số trung bình cao nhất là về chế độ tập thể dục. Điểm số kiến thức trung bình chung của người bệnh là 9,00 ± 1,89; tỷ lệ người bệnh trả lời đúng toàn bộ câu hỏi là 45,04%.

Nghiên cứu xác định một yếu tố có liên quan đến kiến thức của người bệnh là điều kiện kinh tế: nhóm hộ nghèo/cận nghèo có điểm số trung bình cao hơn nhóm không thuộc hộ nghèo/cận nghèo (10,80 ± 0,83 và 8,93 ± 1,88), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Không tìm thấy mối liên quan giữa điểm số kiến thức với các yếu tố như: tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tham gia bảo hiểm y tế, tình trạng chung sống, bệnh kèm theo, tiền sử gia đình, mức độ bệnh lý, số lần tái nhập viện, thời gian mắc bệnh, chỉ số BMI, biến chứng, tái khám, sử dụng rượu/bia, sử dụng thuốc lá.

Tài liệu tham khảo

  1. Hồ Văn Phước, Phạm Văn Hùng, “Khảo sát tuổi động mạch ở bệnh nhân bị hội chứng vành cấp tại Bệnh viện Đà Nẵng,” Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, số 68, tr. 234–240, 2014.

  2. Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang, Phác đồ điều trị, Sở Y tế Tiền Giang, 2014.

  3. P.A. Ades, P.D. Savage, “Obesity in coronary heart disease: An unaddressed behavioral risk factor,” Preventive Medicine, vol. 104, pp. 117–119, 2017.

  4. Bộ Y tế, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hội chứng mạch vành mạn, Hà Nội, 2023.

  5. Trần Thị Thuận, Hà Thị Như Xuân, Chăm sóc bệnh nhân tim mạch, Hà Nội: Nhà Xuất bản Y học, 2010.

  6. C. Shao, J. Wang, J. Tian et al., “Coronary Artery Disease: from mechanism to clinical practice,” Coronary Artery Disease: Therapeutics and Drug Discovery, pp. 1–36, 2020.

  7. Phạm Thu Hương, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Thị Thanh Tâm, “Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh sau can thiệp động mạch vành qua da tại tỉnh Hải Dương năm 2018,” Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, tập 1, số 3, tr. 17, 2018.

  8. Nguyễn Thắng và cộng sự, “Vietnamese version of the coronary artery disease education questionnaire – Short version: Translation, adaptation and validation,” Clinical Pharmacy and Therapeutics, số 45, tr. 691–697, 2020.

  9. A.A. Ammouri, Tailakh A, Isac C et al., “Knowledge of coronary heart disease risk factors among a community sample in Oman: Pilot study,” Sultan Qaboos University Medical Journal, vol. 16, no. 2, tr. 189, 2016.

  10. L.B. Negesa, J. Magarey et al., “Patients’ knowledge on cardiovascular risk factors and associated lifestyle behaviour in Ethiopia in 2018,” PLoS One, vol. 15, no. 6, p. e0234198, 2020.

  11. E.A. Elsheikh et al., “Assessment of Knowledge and Awareness Regarding Coronary Artery Disease Risk Factors Among the Saudi Arabian Population: A Cross-Sectional Study,” Cureus, vol. 16, no. 1, e52299, 2024.

ĐDCK1. Lâm Tải Hoàng Hiếu – ThSĐD. Ngô Lê Hoàng Giang Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Bệnh viện Phúc Sơn (Thái Bình): Kết nối yêu thương, xoa dịu nỗi đau bệnh tật

Bệnh viện Phúc Sơn (Thái Bình): Kết nối yêu thương, xoa dịu nỗi đau bệnh tật

Sáng 14/6, Bệnh viện Đa Khoa Phúc Sơn đã tổ chức họp hội đồng người bệnh với mong muốn lấy ý kiến đóng góp về tinh thần, thái độ và công tác khám chữa bệnh của nhân viên y tế bệnh viện.
Sở y tế Hà Nội yêu cầu cơ sở chữa bệnh phòng, chống rét cho người bệnh

Sở y tế Hà Nội yêu cầu cơ sở chữa bệnh phòng, chống rét cho người bệnh

Sở Y tế Hà Nội yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong và ngoài công lập tăng cường công tác phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh.
Phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh

Phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh

Mới đây, Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) có văn bản số 1808/KCB-QLCL&CĐT về việc tăng cường công tác phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động