Assessment of Knowledge and Related Factors Concerning Coronary Artery Disease in Outpatient Populations

Kiến thức và các yếu tố liên quan đến bệnh động mạch vành ở người bệnh ngoại trú

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh động mạch vành. Nghiên cứu được thực hiện trên 128 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 76,6% người bệnh có kiến thức trung bình và 23,7% người bệnh có kiến thức kém, không có người bệnh nào có kiến thức tốt; tỷ lệ người bệnh trả lời đúng cho toàn bộ câu hỏi là 45,04%.

Tóm tắt:

Kiến thức của người bệnh mắc bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh trong nghiên cứu này còn thấp. Chưa tìm thấy yếu tố liên quan giữa kiến thức của người bệnh mắc bệnh động mạch vành với các yếu tố được khảo sát tại thời điểm khảo sát. Kết quả nghiên cứu cung cấp các dữ liệu hữu ích, cần đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức của người bệnh về bệnh động mạch vành trong chăm sóc sức khỏe người bệnh tại các cơ sở y tế nói riêng và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng nói chung.

Từ khóa: Kiến thức; động mạch vành.

DOI: https://doi.org/10.63472/sucv.06202505

Summary:

The knowledge of patients with coronary artery disease at Tra Vinh Provincial General Hospital in this study was found to be low. No significant associations were identified between patients’ knowledge and the surveyed factors at the time of data collection. The study results provide useful data, highlighting the need to strengthen health communication and education efforts to improve patients' understanding of coronary artery disease. This is essential not only for enhancing patient care in healthcare facilities but also for improving the overall quality of life in the community.

Keywords: Knowledge; Coronary artery disease.

Ngày nhận bài: 06/05/2025

Ngày hoàn thiện biên tập: 09/05/2025

Ngày duyệt đăng: 22/05/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 5+6/2025

Đặt vấn đề

Hiện nay có khoảng 13 triệu người mắc bệnh động mạch vành và hằng năm có khoảng 650.000 trường hợp nhồi máu cơ tim, với khoảng 515.000 trường hợp tử vong do bệnh động mạch vành [1]. Hằng năm, số ca tử vong do bệnh động mạch vành hơn 7 triệu trường hợp (chiếm khoảng 12,8% tổng các trường hợp tử vong do mọi nguyên nhân). Bệnh động mạch vành gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ, chất lượng cuộc sống cũng như chi phí điều trị và chăm sóc. Không chỉ vậy, bệnh động mạch vành còn ảnh hưởng đến tâm lý của người bệnh, giấc ngủ và hạnh phúc gia đình [2], [3].

Tại Việt Nam, theo số liệu Bộ Y tế, bệnh động mạch vành là một trong sáu nguyên nhân gây tử vong thường gặp [3]. Thông điệp của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016: “Bệnh tim mạch hiện đã trở thành nguyên nhân mắc bệnh và gây tử vong hàng đầu”. Hằng năm có đến 17,9 triệu người chết do các bệnh lý liên quan đến tim mạch, trong đó 85% chết do nguyên nhân động mạch vành hoặc do đột quỵ não [4]. Người bệnh mắc bệnh lý tim mạch có chất lượng cuộc sống giảm sút rất nhiều như: mất khả năng lao động, thể thao, ăn uống, kiêng cữ, phải nhập viện nhiều lần và thậm chí không thể tự chăm sóc bản thân [5]. Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ của bệnh lý động mạch vành còn tồn tại ở nhiều cá nhân trong dân số nói chung bao gồm các bệnh: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipoprotein và lipid, bệnh thận mạn tính, tuổi tác, giới tính, lối sống, hút thuốc lá, chế độ ăn uống, béo phì và tiền sử gia đình [6].

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm và cộng sự (2018) cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt là 25,38% và không đạt là 74,61% [7]. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành có thể tăng lên do thiếu hiểu biết về căn bệnh này và sự thờ ơ, chủ quan, lối sống không lành mạnh, chế độ ăn uống và không tuân thủ điều trị bệnh đã gây nên bệnh động mạch vành [8]. Vì vậy, cần cung cấp thêm những kiến thức về bệnh động mạch vành và yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. Mặt khác, theo nghiên cứu của tác giả Ammouri AA và cộng sự (2016) ở Oman, nghiên cứu trên 114 người bệnh, cho thấy có 60,5% bệnh nhân có kiến thức còn thấp về bệnh động mạch vành. Mặc dù một số yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tiền sử gia đình mắc bệnh, béo phì, rối loạn lipid, chỉ số BMI và trình độ học vấn có liên quan đáng kể đến trình độ kiến thức. Do vậy, cần nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và phòng ngừa bệnh [9] là một yếu tố quan trọng. Chính vì thế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát kiến thức của người bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh và một số yếu tố liên quan đến năm 2024” với 2 mục tiêu: Xác định kiến thức trung bình của người bệnh về bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024 và mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức của người bệnh về bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024.

Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu của tác giả Negesa LB, Magarey J, Rasmussen P, Hendriks (2018) được thực hiện tại hai bệnh viện tuyến trên ở Eastern Ethiopia, với 287 bệnh nhân được ghi danh vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy hơn một nửa số bệnh nhân (54%) có kiến thức tốt về các yếu tố nguy cơ tim mạch (điểm > 70%), trong khi 46% thể hiện mức độ hiểu biết dưới tối ưu trong lĩnh vực này. Cư dân thành thị có liên quan đến điểm kiến thức về các yếu tố nguy cơ tim mạch cao hơn; trong khi đó, những người chưa kết hôn và không có trình độ học vấn chính quy hoặc trình độ học vấn thấp hơn được xác định là những yếu tố báo hiệu điểm kiến thức thấp hơn. Ngoài ra, tác giả cho thấy rằng gần một nửa số bệnh nhân mắc bệnh mạch vành ở Ethiopia có kiến thức không tối ưu về các yếu tố nguy cơ tim mạch. Nơi cư trú, trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân có liên quan đến kiến thức về các yếu tố nguy cơ tim mạch. Qua đó, tác giả đã đề xuất các biện pháp can thiệp sáng tạo và tư vấn lối sống có cấu trúc do y tá hướng dẫn sẽ cần thiết để hướng dẫn hiệu quả người bệnh phát triển thay đổi lối sống và đạt được sự thay đổi hành vi bền vững [10].

Nghiên cứu của Elsheikh EA và cộng sự (2024) được thực hiện tại Ả Rập Xê Út từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 10 năm 2022, nhắm đến những cá nhân từ 18 tuổi trở lên, với tổng cộng 1.409 người tham gia. Kết quả cho thấy 70,3% có điểm kiến thức ở mức cao, 27,4% ở mức trung bình và 2,3% ở mức thấp. Qua đó, nghiên cứu xác định mối liên quan đáng kể giữa điểm kiến thức với giới tính (p=0,03) và tuổi (p=0,01). Nghiên cứu cho thấy mức độ hiểu biết và nhận thức cao chủ yếu ở những người tham gia có liên quan đến các yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. Kết quả cho thấy nền tảng kiến thức và nhận thức vững chắc trong cộng đồng người dân Saudi về các yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành và các biện pháp phòng ngừa [11].

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm và cộng sự (2018) được tiến hành với đề tài “Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh sau can thiệp động mạch vành qua da tại tỉnh Hải Dương năm 2018”, áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 260 người bệnh điều trị ngoại trú sau can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương. Trong đó, có 25,38% bệnh nhân có kiến thức đạt và 74,61% người bệnh có kiến thức không đạt [7].

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thắng và cộng sự (2020) được tiến hành thí điểm trên 117 bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp tính tại một bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, từ ngày 21/2 đến ngày 12/3 năm 2017. Qua khảo sát, tác giả cho thấy bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 61,66 ± 8,23 tuổi, với điểm số trung bình về kiến thức là 9,58 ± 0,78 và không có mục nào thấp hơn 9 điểm. Kết quả cho thấy sự khác biệt về điểm kiến thức liên quan đến giới tính, nam giới có điểm số cao hơn đáng kể so với nữ giới (p = 0,04), và có mối liên quan đáng kể giữa trình độ học vấn và điểm kiến thức, trong đó những người có trình độ học vấn cao hơn thể hiện tốt hơn [8].

Kiến thức về bệnh động mạch vành của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Người bệnh có tổng điểm kiến thức về bệnh động mạch vành trung bình là 9,00 ± 1,89 (dao động từ 0 – 20 điểm). Trong đó, lĩnh vực tình trạng bệnh lý có điểm số trung bình là 0,86 ± 0,80. Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ, chế độ tập thể dục và nguy cơ tâm lý – xã hội có điểm số trung bình lần lượt là 2,15 ± 0,66; 2,86 ± 0,89; 2,10 ± 0,85. Riêng chế độ dinh dưỡng có điểm số trung bình là 1,02 ± 0,92.

Một yếu tố liên quan đến kiến thức của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Người bệnh dưới 65 tuổi và từ 65 tuổi trở lên có điểm số kiến thức trung bình lần lượt là 9,07 và 9,10. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Người bệnh nam và nữ có điểm số kiến thức lần lượt là 9,19 và 9,03. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

KẾT LUẬN

Qua khảo sát kiến thức về bệnh động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh và mô tả một số yếu tố liên quan trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2024, chúng tôi nhận thấy: về mức độ kiến thức, có 76,6% người bệnh có kiến thức trung bình và 23,7% có kiến thức kém, không có người bệnh nào có kiến thức tốt.

  • Kiến thức lĩnh vực 1 (tình trạng bệnh lý): điểm số trung bình 0,86 ± 0,80, thấp hơn so với các lĩnh vực khác.

  • Kiến thức lĩnh vực 2 (yếu tố nguy cơ): 2,25 ± 0,66.

  • Kiến thức lĩnh vực 3 (chế độ tập thể dục): 2,86 ± 0,89, cao nhất trong các lĩnh vực.

  • Kiến thức lĩnh vực 4 (chế độ dinh dưỡng): 1,02 ± 0,92.

  • Kiến thức lĩnh vực 5 (nguy cơ tâm lý – xã hội): 2,10 ± 0,85.

Qua 5 lĩnh vực cho thấy điểm số trung bình cao nhất là về chế độ tập thể dục. Điểm số kiến thức trung bình chung của người bệnh là 9,00 ± 1,89; tỷ lệ người bệnh trả lời đúng toàn bộ câu hỏi là 45,04%.

Nghiên cứu xác định một yếu tố có liên quan đến kiến thức của người bệnh là điều kiện kinh tế: nhóm hộ nghèo/cận nghèo có điểm số trung bình cao hơn nhóm không thuộc hộ nghèo/cận nghèo (10,80 ± 0,83 và 8,93 ± 1,88), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Không tìm thấy mối liên quan giữa điểm số kiến thức với các yếu tố như: tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tham gia bảo hiểm y tế, tình trạng chung sống, bệnh kèm theo, tiền sử gia đình, mức độ bệnh lý, số lần tái nhập viện, thời gian mắc bệnh, chỉ số BMI, biến chứng, tái khám, sử dụng rượu/bia, sử dụng thuốc lá.

Tài liệu tham khảo

  1. Hồ Văn Phước, Phạm Văn Hùng, “Khảo sát tuổi động mạch ở bệnh nhân bị hội chứng vành cấp tại Bệnh viện Đà Nẵng,” Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, số 68, tr. 234–240, 2014.

  2. Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang, Phác đồ điều trị, Sở Y tế Tiền Giang, 2014.

  3. P.A. Ades, P.D. Savage, “Obesity in coronary heart disease: An unaddressed behavioral risk factor,” Preventive Medicine, vol. 104, pp. 117–119, 2017.

  4. Bộ Y tế, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hội chứng mạch vành mạn, Hà Nội, 2023.

  5. Trần Thị Thuận, Hà Thị Như Xuân, Chăm sóc bệnh nhân tim mạch, Hà Nội: Nhà Xuất bản Y học, 2010.

  6. C. Shao, J. Wang, J. Tian et al., “Coronary Artery Disease: from mechanism to clinical practice,” Coronary Artery Disease: Therapeutics and Drug Discovery, pp. 1–36, 2020.

  7. Phạm Thu Hương, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Thị Thanh Tâm, “Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh sau can thiệp động mạch vành qua da tại tỉnh Hải Dương năm 2018,” Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, tập 1, số 3, tr. 17, 2018.

  8. Nguyễn Thắng và cộng sự, “Vietnamese version of the coronary artery disease education questionnaire – Short version: Translation, adaptation and validation,” Clinical Pharmacy and Therapeutics, số 45, tr. 691–697, 2020.

  9. A.A. Ammouri, Tailakh A, Isac C et al., “Knowledge of coronary heart disease risk factors among a community sample in Oman: Pilot study,” Sultan Qaboos University Medical Journal, vol. 16, no. 2, tr. 189, 2016.

  10. L.B. Negesa, J. Magarey et al., “Patients’ knowledge on cardiovascular risk factors and associated lifestyle behaviour in Ethiopia in 2018,” PLoS One, vol. 15, no. 6, p. e0234198, 2020.

  11. E.A. Elsheikh et al., “Assessment of Knowledge and Awareness Regarding Coronary Artery Disease Risk Factors Among the Saudi Arabian Population: A Cross-Sectional Study,” Cureus, vol. 16, no. 1, e52299, 2024.

ĐDCK1. Lâm Tải Hoàng Hiếu – ThSĐD. Ngô Lê Hoàng Giang Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Bệnh viện Phúc Sơn (Thái Bình): Kết nối yêu thương, xoa dịu nỗi đau bệnh tật

Bệnh viện Phúc Sơn (Thái Bình): Kết nối yêu thương, xoa dịu nỗi đau bệnh tật

Sáng 14/6, Bệnh viện Đa Khoa Phúc Sơn đã tổ chức họp hội đồng người bệnh với mong muốn lấy ý kiến đóng góp về tinh thần, thái độ và công tác khám chữa bệnh của nhân viên y tế bệnh viện.
Sở y tế Hà Nội yêu cầu cơ sở chữa bệnh phòng, chống rét cho người bệnh

Sở y tế Hà Nội yêu cầu cơ sở chữa bệnh phòng, chống rét cho người bệnh

Sở Y tế Hà Nội yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong và ngoài công lập tăng cường công tác phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh.
Phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh

Phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh

Mới đây, Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) có văn bản số 1808/KCB-QLCL&CĐT về việc tăng cường công tác phòng chống rét cho người bệnh và người nhà người bệnh.

Cùng chuyên mục

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

Nghẹt Mũi, Đau Vùng Trán – Hốc Mắt Kéo Dài: Tiếp Cận Chẩn Đoán, Các Yếu Tố Liên Quan Và Định Hướng Xử Trí Viêm Mũi Xoang Khi Thời Tiết Thay Đổi

TÓM TẮT: Nghẹt mũi, chảy dịch mũi và đau tức vùng mặt là những triệu chứng thường gặp trong các bệnh lý đường hô hấp trên, trong đó có viêm mũi xoang. Những biểu hiện này có thể xuất hiện hoặc nặng lên trong các giai đoạn thời tiết thay đổi, đồng thời dễ bị nhầm lẫn với cảm lạnh và viêm mũi dị ứng. Việc nhận diện đúng triệu chứng, xác định khả năng mắc bệnh và lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe người bệnh.
Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Chăm Sóc Mắt Trong Quản Lý Bệnh Không Lây Nhiễm Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Người cao tuổi mắc bệnh không lây nhiễm có nhu cầu chăm sóc mắt đồng thời với quản lý bệnh nền. Bài viết tổng quan chọn lọc bằng chứng nhãn khoa và phân tích chính sách y tế Việt Nam đến tháng 10 năm 2026. Nội dung tập trung vào đục thủy tinh thể, bệnh võng mạc đái tháo đường và tổn thương mạch máu võng mạc. Đối chiếu với Nghị quyết 20, Chỉ thị 25, Nghị quyết 72 và hướng dẫn của Bộ Y tế cho thấy cơ sở để lồng ghép chăm sóc mắt vào quản lý bệnh mạn tính. Bài viết đề xuất quy trình nhận diện nguy cơ, sàng lọc, chuyển khám, điều trị và theo dõi tại cộng đồng. Mô hình cần được thí điểm, đánh giá về khả năng tiếp cận, hoàn thành chuyển khám và kết quả thị giác; chưa có dữ liệu thực nghiệm chứng minh hiệu quả.
Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Vai Trò Của Châm Cứu Và Nhĩ Châm Trong Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Parkinson

Tóm tắt - Bệnh Parkinson gây rối loạn vận động và nhiều triệu chứng ngoài vận động, đòi hỏi chăm sóc phối hợp. Chuyên khảo tổng hợp có chọn lọc các nghiên cứu về châm cứu, nhĩ châm và kích thích thần kinh qua da ở tai, cập nhật đến tháng 10 năm 2026. Một số thử nghiệm đối chứng ghi nhận châm cứu cải thiện giấc ngủ, lo âu, táo bón và chức năng vận động khi bổ sung vào điều trị thuốc. Tuy nhiên, kết quả không đồng nhất; bằng chứng trực tiếp về nhĩ châm còn hạn chế. Dữ liệu hình ảnh não, nội tiết và yếu tố dinh dưỡng thần kinh gợi ý cơ chế điều biến thần kinh nhưng chưa chứng minh tác dụng làm chậm bệnh. Việc ứng dụng cần xác định mục tiêu triệu chứng, chuẩn hóa đánh giá, bảo đảm an toàn và tiếp tục điều trị nền.
Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Di Sản Y Dược Học Của Danh Y Hoàng Đôn Hòa Và Giá Trị Của Hoạt Nhân Toát Yếu

Tóm tắt - Bài viết phân tích di sản Hoàng Đôn Hòa và Hoạt nhân toát yếu theo cách tiếp cận liên ngành. Tư liệu gồm bản dịch năm 1980, thư mục bản Hán Nôm A.2535 và nghiên cứu liên quan. Cần phân biệt nguyên tác gắn với Hoàng Đôn Hòa, bản tăng bổ của Trịnh Đôn Phác và dịch hiện đại. Tác phẩm là phương thư thực hành, chú trọng thuốc Nam, bệnh cấp, ngoại thương, phụ khoa, nhi khoa, thú y và dưỡng sinh. Tam hoàng hoàn và Thần ứng hoàn phản ánh tư duy bào chế thích ứng với dịch bệnh và hành quân, nhưng cần kiểm soát độc tính của hùng hoàng, hoàng nàn và chu sa. Di sản nên được bảo tồn bằng khảo cứu văn bản, số hóa, chuẩn hóa dược liệu, đánh giá an toàn và giáo dục y đức; không phục dựng nguyên xi toa thuốc cổ để tự điều trị.
Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

Hiệu Quả Hỗ Trợ Của Cấy Chỉ Kết Hợp Điều Trị Chuẩn Ở Người Bệnh Copd Giai Đoạn Ổn Định Nhóm E Và Cơ Sở Thần Kinh - Nội Tiết - Miễn Dịch

TÓM TẮT - Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhóm E có gánh nặng triệu chứng và nguy cơ đợt cấp cao. Cấy chỉ có thể tạo kích thích huyệt kéo dài, qua đó hỗ trợ điều hòa thần kinh tự chủ, đáp ứng viêm và khả năng gắng sức, nhưng bằng chứng lâm sàng còn cần được củng cố.
Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

Giá Trị Của Nước Lá Tía Tô Phối Hợp Gừng Tươi: Cơ Sở Dược Lý, Thời Điểm Sử Dụng Và Khuyến Cáo Dựa Trên Bằng Chứng Khoa Học

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tía tô (Perilla frutescens) và gừng tươi (Zingiber officinale) là hai dược liệu được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á để phòng và hỗ trợ điều trị các chứng ngoại cảm phong hàn, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn và một số bệnh lý đường hô hấp. Trong cộng đồng hiện nay, nước lá tía tô phối hợp gừng được sử dụng rộng rãi như một loại đồ uống hỗ trợ tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, việc sử dụng còn mang tính kinh nghiệm, chưa được chuẩn hóa về chỉ định, thời điểm sử dụng và liều lượng dựa trên y học chứng cứ.

Các tin khác

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

Vai Trò Của Truyền Thông Trong Xây Dựng Và Phát Triển Hệ Thống Hội Nam Y Việt Nam

TÓM TẮT: Đặt vấn đề: Nam Y Việt Nam là một bộ phận quan trọng của nền y học cổ truyền Việt Nam, gắn với hệ thống tri thức bản địa về phòng bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận thông tin, xây dựng hệ thống Hội Nam Y Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, kết nối hội viên, bảo tồn tri thức và nâng cao vị thế xã hội. Trong đó, truyền thông cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà là một thành tố của quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

Từ mạch nguồn Nghiên cứu Nam dược Hội đến tổ chức xã hội – Nghề nghiệp hiện đại, vững mạnh và phục vụ cộng đồng

TÓM TẮT: Hội Nam y Việt Nam được Bộ Nội vụ cho phép thành lập năm 2017, đáp ứng nhu cầu tập hợp những cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam và y học cổ truyền Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 22/8/1946 cho phép Hội Việt Nam Y đoàn đổi tên thành Nghiên cứu Nam dược Hội là một dấu mốc quan trọng trong quá trình tổ chức lực lượng nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Nam dược. Mặc dù chưa đủ căn cứ xác định Nghiên cứu Nam dược Hội là tiền thân trực tiếp về pháp nhân của Hội Nam y Việt Nam hiện nay, sự tương đồng về tên gọi, tôn chỉ và mục tiêu hoạt động cho phép coi đây là một mạch nguồn lịch sử, tư tưởng và nghề nghiệp của phong trào Nam y hiện đại. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Kết luận số 86-KL/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về đưa y học cổ truyền thực sự về cộng đồng, việc xây dựng hệ thống Hội Nam y Việt Nam cần chuyển từ phát triển chủ yếu theo số lượng sang phát triển có quy hoạch, tiêu chuẩn, dữ liệu và hiệu quả đầu ra. Tham luận đề xuất các nhóm giải pháp về định vị bản sắc; kiện toàn tổ chức; chuẩn hóa hội viên; phát triển khoa học; chuyển đổi số; gắn hoạt động Hội với y tế cơ sở; xây dựng chuỗi giá trị dược liệu; mở rộng phối hợp và thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá.
Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

Giải pháp biến tiềm năng của y học cổ truyền thành sức mạnh kinh tế, khẳng định bản sắc dân tộc

TÓM TẮT
Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

Thực trạng thực hiện masage cho trẻ sơ sinh của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa sản - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec smart city năm 2025

TÓM TẮT
Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Những Thay Đổi Của Cơ Thể Và Nhu Cầu Dinh Dưỡng Ở Người Cao Tuổi

Tóm tắt: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Suy giảm trí nhớ: Dấu hiệu, nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa

Tóm tắt: Trước khi chúng ta có được thứ gọi là trí nhớ thì “nó” phải trải qua một quá trình hình thành tuần tự như sau: Khi chúng ta nhìn, nghe hoặc cảm nhận thấy một sự vật hoặc một hiện tượng nào đó, bộ não sẽ ghi nhớ những điều này và tự sắp xếp lại. Khi chúng ta lặp đi lặp lại những điều này, não bộ sẽ tự động chuyển những dữ liệu đã được sắp xếp đó từ trí nhớ tạm thời thành trí nhớ dài hạn.
Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

Tác Dụng Chống Kết Tập Tiểu Cầu Và Chống Đông Máu Của Các Loài Nhân Sâm (Panax Spp.): Tổng Quan Bằng Chứng Dược Lý Và Cơ Chế Phân Tử

TÓM TẮT:
Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tác dụng của bài thuốc lục nhất tán và ứng dụng lâm sàng trong điều trị sốt xuất huyết

Tóm tắt: Bài viết tổng quan và đánh giá giá trị ứng dụng của bài thuốc cổ phương Lục nhất tán (tỷ lệ 6 phần Hoạt thạch : 1 phần Cam thảo) trong công tác phòng chống và điều trị dịch sốt xuất huyết (SXH) Dengue. Dưới góc nhìn y học cổ truyền kết hợp thực tiễn quân y (đặc biệt tại Bệnh viện Y học cổ truyền Quân đội), bài thuốc đóng vai trò hiệp đồng quan trọng trong giai đoạn khởi phát và toàn phát nhờ các cơ chế: thanh nhiệt, giải thử, ích khí, dưỡng âm, lợi niệu và bảo vệ thành mạch. Việc kết hợp linh hoạt Lục nhất tán với các dược liệu lương huyết, chỉ huyết (như Cỏ nhọ nồi, Rễ cỏ tranh) giúp giảm nhanh triệu chứng sốt cao, bảo vệ chức năng gan thận, hỗ trợ ngăn ngừa biến chứng xuất huyết và thúc đẩy quá trình hồi phục của người bệnh. Từ khóa: Lục Nhất tán; chứng xuất huyết; phục hồi.
Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

Cấy Chỉ Trong Phục Hồi Chức Năng Sau Đột Quỵ: Cơ chế tính dẻo thần kinh (Neuroplasticity) và kinh nghiệm lâm sàng từ mô hình điều trị tích hợp.

TÓM TẮT: Đột quỵ não là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn cầu. Phần lớn bệnh nhân sau đột quỵ phải đối mặt với các di chứng như liệt vận động, co cứng cơ, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn nuốt và suy giảm nhận thức, làm giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Trong những năm gần đây, xu hướng kết hợp y học cổ truyền với phục hồi chức năng hiện đại ngày càng được quan tâm nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi thần kinh.
Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

Giá trị dược lý của rau má (Centella asiatica) trong y học cổ truyền và tiềm năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hiện đại

TÓM TẮT: Rau má (Centella asiatica) là một dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền của nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Loại thảo dược này được sử dụng rộng rãi với các công dụng như thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm và hỗ trợ phục hồi tổn thương mô. Bài viết tổng hợp các tư liệu từ y học cổ truyền và nghiên cứu khoa học hiện đại nhằm phân tích giá trị dược liệu của rau má đối với sức khỏe con người. Kết quả cho thấy rau má chứa nhiều hoạt chất sinh học quan trọng như triterpenoid, flavonoid và saponin, có tác dụng chống oxy hóa, tăng cường tuần hoàn, hỗ trợ tái tạo da và cải thiện chức năng thần kinh. Việc khai thác và phát triển dược liệu rau má không chỉ góp phần bảo tồn nguồn dược liệu truyền thống mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm y học.
Xem thêm
Phiên bản di động