Determinants of Knowledge and Practices Regarding Nutritional Anemia Prevention in Pregnant Women of the Khmer Ethnic Group

Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai người dân tộc Khmer

Một trong những vấn đề sức khỏe ở phụ nữ có thai là tình trạng thiếu máu, trong đó thiếu máu dinh dưỡng là phổ biến nhất và quan trọng hơn cả đối với sức khỏe cộng đồng{[21]. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai là vấn đề lớn về sức khỏe cộng đồng tại nhiều quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn trong vấn đề chăm sóc, phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán lạc hậu. Do đó để cải thiện được việc chăm sóc sức khoẻ ở phụ nữ có thai thì việc có được những thông tin về tình hình sức khỏe, trong đó có số liệu về kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai người dân tộc Khmer trong địa bàn quản lý là hết sức cần thiết.

Từ khóa: Thiếu máu; Thai phụ.

DOI: https://doi.org/10.63472/sucv.06202514

Summary

One of the major health issues among pregnant women is anemia, with nutritional anemia being the most common and most critical form in terms of public health impact. Anemia during pregnancy remains a significant public health concern in many countries. However, efforts to care for and prevent nutritional anemia among pregnant women still face numerous challenges, particularly in rural, mountainous, and remote areas, as well as regions inhabited by ethnic minorities, where economic and social conditions are difficult, educational levels are low, and outdated customs and practices persist. Therefore, to improve maternal health care, it is essential to gather accurate information on the health status of pregnant women, including data on their knowledge and practices related to the prevention of nutritional anemia—especially among Khmer ethnic women within the local healthcare system.

Keywords: Anemia; Pregnant women.

Ngày nhận bài: 03/5/2025

Ngày phản biện khoa học: 6/5/2025

Ngày duyệt đăng: 23/05/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 5+6/2025

Mô tả các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai người dân tộc Khmer. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu trên 316 đối tượng cho thấy: Có mối liên quan giữa tuổi, trình độ học vấn, kinh tế gia đình, nghề nghiệp của đối tượng với kiến thức (p<0,05)

Có mối liên quan giữa kinh tế gia đình của đối tượng với thực hành (p<0,05).

Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng của đối tượng (p < 0,05).

Đặt vấn đề

Một trong những vấn đề sức khỏe ở phụ nữ có thai là tình trạng thiếu máu, trong đó thiếu máu dinh dưỡng là phổ biến nhất và quan trọng hơn cả đối với sức khỏe cộng đồng{[21]. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai là vấn đề lớn về sức khỏe cộng đồng tại nhiều quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn trong vấn đề chăm sóc, phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán lạc hậu. Do đó để cải thiện được việc chăm sóc sức khoẻ ở phụ nữ có thai thì việc có được những thông tin về tình hình sức khỏe, trong đó có số liệu về kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai người dân tộc Khmer trong địa bàn quản lý là hết sức cần thiết[13].

Tổng quan y văn

1. Tổng quan về thiếu máu dinh dưỡng.

1.1. Một số khái niệm về thiếu máu dinh dưỡng.

Thiếu máu: Thiếu máu được định nghĩa là sự giảm nồng độ hemoglobin trong máu ngoại vi xuống dưới phạm vi tham chiếu cho độ tuổi và giới tính của một cá nhân, có thể do di truyền hoặc mắc phải và là kết quả của sự mất cân bằng giữa sản xuất hồng cầu và mất hồng cầu.[19]

Thiếu máu dinh dưỡng: Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng hemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu bất kể lý do gì. Nồng độ Hb dưới 120 g/L ở PNTSS và dưới 110 g/L ở PNCT được coi là thiếu máu.[7]

Tình trạng sắt cạn kiệt: Tình trạng sắt cạn kiệt xảy ra khi sắt dự trữ trong cơ thể không còn được biểu hiện bằng nồng độ Ferritin huyết thanh thấp hơn 15µg/L đối với phụ nữ tuổi sinh sản . [6]

Tình trạng thiếu sắt: Thiếu sắt là sự suy giảm lượng sắt toàn cơ thể, đặc biệt là kho dự trữ sắt của đại thực bào và tế bào gan. Vì lượng sắt lớn nhất được tiêu thụ để tổng hợp hemoglobin (Hb) để tạo ra 200 tỷ hồng cầu mỗi ngày, thiếu máu là dấu hiệu rõ ràng hơn của tình trạng thiếu sắt, và thiếu máu do thiếu sắt thường được coi là đồng nghĩa với thiếu sắt.[15]

Thiếu máu do thiếu sắt: Thiếu máu thiếu sắt là tình trạng thiếu máu xảy ra do cơ thể không đủ sắt đáp ứng nhu cầu tạo hồng cầu vì những nguyên nhân khác nhau: Không cung cấp đủ nhu cầu sắt, mất sắt do mất máu mạn tính, rối loạn chuyển hoá sắt bẩm sinh.[14]

Tình trạng quá tải sắt: Tình trạng thừa sắt hay còn gọi là bệnh huyết sắc tố là sự tích tụ sắt trong cơ thể do bất kỳ nguyên nhân nào. Các nguyên nhân quan trọng nhất là bệnh huyết sắc tố di truyền, một rối loạn di truyền và tình trạng thừa sắt do truyền máu, có thể do truyền máu nhiều lần.[17]

1.2. Phương pháp đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng.

Đánh giá trên cá thể:

Bảng 1.1 Nồng độ Hemoglobin của WHO được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu ( g / L ) [20]

Dân số

Không thiếu máu

Thiếu máu

Nhẹ

Trung bình

Nghiêm trọng

Trẻ em ( 6-59 tháng tuổi)

110 trở lên

100-109

70-99

Dưới 70

Trẻ em ( 5-11 tuổi)

115 trở lên

110-114

80-109

Dưới 80

Trẻ em ( 12-14 tuổi)

120 trở lên

110-119

80-109

Dưới 80

Phụ nữ không mang thai ( 15 tuổi trở lên)

120 trở lên

110-119

80-109

Dưới 80

Phụ nữ mang thai

110 trở lên

100-109

70-99

Dưới 70

Nam ( 15 tuổi trở lên)

130 trở lên

110-129

80-109

Dưới 80

1.3. Chẩn đoán thiếu máu dinh dưỡng.

Biểu hiện lâm sàng của thiếu máu thường ít và âm thầm. Người bị thiếu máu có thể không tự nhận ra bệnh, điều đó gây khó khăn trong phòng chống bệnh này ở cộng đồng. Biểu hiện của thiếu máu nhẹ là: mệt mỏi, mất ngủ, kém tập trung.[12]

Ở phụ nữ có thai: Phổ biến là da xanh, niêm mạc nhợt (niêm mạc mắt, lợi), móng tay khum hình thìa, lòng bàn tay nhợt nhạt, đầu lưỡi có một đám những hạt sắc tố đỏ sẫm, mệt mỏi, khi thiếu máu nặng thường có dấu hiệu chóng mặt, tim đập mạnh, khó thở khi lao động gắng sức.[12]

Xét nghiệm thường dùng để chẩn đoán thiếu máu là định lượng Hemoglobin (Hb). Trẻ em dưới 5 tuổi và phụ nữ mang thai nếu Hb<11g/L và phụ nữ không có thai nếu Hb<12g/L được xác định là thiếu máu. [12]

1.4. Hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng.

Ảnh hưởng tới khả năng lao động

Thiếu máu gây nên tình trạng thiếu ô xy ở các tổ chức, đặc biệt ở não, ở tim và ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ do đó làm giảm khả năng lao động ở những người bị thiếu máu. Khi tình trạng thiếu máu được cải thiện thì năng suất lao động cũng tăng theo.[12]

Ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ.

Người bị thiếu máu thường dễ bị mất ngủ, mệt mỏi, kém tập trung, dễ bị kích thích, khi già dễ bị mắc bệnh mất trí nhớ.[12]

Ảnh hưởng tới thai sản:

Phụ nữ bị thiếu máu khi có thai dễ bị sinh non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và con khi sinh nở, dễ bị chảy máu và bị mắc các bệnh nhiễm trùng ở thời kỳ hậu sản. Vì vậy người ta coi thiếu máu dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai là một đe dọa sản khoa.[12]

Giảm sức đề kháng của cơ thể

Phụ nữ bị thiếu máu dinh dưỡng dễ bị ốm, dễ bị mắc các bệnh nhiễm trùng.[12]

Ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ

Thiếu máu do thiếu sắt gây ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ và vận động của trẻ, làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em là bị suy dinh dưỡng ngay trong thời kỳ bào thai. Nguyên nhân này thường do thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu sắt, làm giảm phát triển chiều cao, cân nặng và chức năng của hệ thống miễn dịch. Hậu quả gián tiếp của thiếu máu là làm giảm năng suất lao động và ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển trí tuệ, vận động, giảm các chỉ số phát triển, chỉ số thông minh của trẻ em lứa tuổi tiền học đường và học đường. Thiếu máu do thiếu sắt ảnh hưởng tới trẻ từ 6 tới 24 tháng tuổi, làm giảm khả năng tập trung, giảm hoạt động thể lực, tăng sự căng thẳng và mệt mỏi. Tùy vào độ tuổi khi xuất hiện thiếu máu và mức độ thiếu máu, uống viên sắt có thể cải thiện tình trạng này, tuy nhiên một số hậu quả trí tuệ cũng như nhận thức xã hội có thể sẽ tồn tại mãi mãi.[12]

1.5. Yếu tố liên quan đến phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai:

Tuổi của PNMT: Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tuổi của người mẹ khi mang thai có liên quan đến tình trạng thiếu máu. Nghiên cứu của Phạm Thị Đan Thanh tại Bạc Liêu (2010) cũng cho thấy PNMT trên 35 tuổi có nguy cơ thiếu máu cao gấp 3,6 lần so với PNMT các nhóm tuổi còn lại . Tác giả Lê Thị Thùy Trang cũng đã tiến hành nghiên cứu tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (2016), kết quả cũng cho thấy PNMT trên 35 tuổi có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2 lần so với PNMT ≤ 35 tuổi .[19],[21]

Tuổi thai: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh cho thấy PNCT có tuổi thai : 3 tháng đầu, 3 tháng giữa, 3 tháng cuối, có tỷ lệ kiến thức đạt tương ứng là (44,9%;50%;50%), tỷ lệ chưa đạt tương ứng là (55,1%, 50%, 50% ), và thực hành đạt tương ứng là ( 29,6%;31,7%;31,1%), tỷ lệ thực hành chưa đạt là ( 70,4%, 68,3%, 68,9 %).[18]

Trình độ văn hoá: phản ánh sự hiểu biết của đối tượng về nhiều vấn đề trong đó có cả các vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai, ngoài ra còn liên quan đến khả năng tìm hiểu thông tin của các đối tượng. Các đối tượng có trình độ càng cao thì việc hiểu biết có thể sẽ nhiều hơn và việc tìm kiếm các thông tin về vấn đề mang thai cũng dễ dàng hơn. Nhận thấy các đối tượng nghiên cứu có trình độ không cao, tỷ lệ đối tượng có trình độ tiểu học và THCS là cao nhất chiếm đến 78,9%, các đối tượng THPT là 20,6%, trên THPT là 2,0% và tỷ lệ mù chữ là 0,6%. Đo các đối tượng chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên có trình độ tượng đối thấp.[18]

Về nghề nghiệp nhận thấy các đối tượng có phân bố nghề khá đều, với tỷ lệ đối tượng làm nghề buôn bán là 19,4%, nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,0%, công nhân là 14,7%, cán bộ CNVC là 6,6% và nội trợ là 20,3%.[18]

Kinh tế gia đình cũng khá quan trọng, đảm bảo cho sự đáp ứng các nhu cầu cần thiết cho phụ nữ mang thai, nhận thấy có đến 86,9% đối tượng có kinh tế gia đình không nghèo và còn lại 13,1% đối tượng là nghèo và cận nghèo. Các đối tượng có kinh tế khó khăn có liên quan đến chất lượng cuộc sống, từ đó liên quan đến chất lượng thai sinh, trong đó có tình trạng thiếu máu thiếu sắt.[18]

1.6. Tình hình nghiên cứu thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai người dân tộc thiểu số trên thế giới và Việt Nam.

1.6.1. Trên thế giới:

Theo nghiên cứu của Xiuli Zhang và các cộng sự năm 2017 về phân bố huyết sắc tố và tỷ lệ thiếu máu ở 10 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở Tây Tạng, Chuang và Uygur là rất cao (lần lượt là 46,9%, 25,4% và 21,4%), trong khi tỷ lệ mắc bệnh ở Yi và Hui rất thấp, lần lượt là 10,6% và 13,8%. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng tỷ lệ thiếu máu cao rõ rệt của người Tây Tạng có thể liên quan đến môi trường thiếu oxy của vùng cao nguyên Tây Tạng. Tỷ lệ thiếu máu của nhóm Yi (10,6%) thấp nhất trong mười dân tộc. Lý do có thể là do chế độ ăn uống cân bằng của Yi bao gồm ngô, thịt bò và thịt cừu, rau và trái cây có lợi cho việc hấp thụ sắt và vitamin. Người dân Hui rất thích thịt bò và thịt cừu, và họ sống ở những vùng có giao thông thuận tiện, kinh tế cao nên họ ít bị thiếu máu do thiếu sắt.[22]

Nghiên cứu của D.Sharma và các cộng sự cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai dân tộc Dalit là 22,4%, dân tộc Janajati có hoàn cảnh khó khăn là 42,9% và dân tộc nhóm thượng lưu là 15,4%. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai ở vùng núi cao, miền trung tây Nepal thấp hơn so với phụ nữ mang thai trung bình ở Nepal. Tuổi và độ tuổi của phụ nữ được coi là những yếu tố dự báo đáng kể mức hemoglobin. Tỷ lệ thiếu máu thay đổi theo dân tộc, tuổi tác và lứa tuổi. Sự xuất hiện của thiếu máu có liên quan đến dân tộc trong dân số nghiên cứu. Những phụ nữ Janajati có hoàn cảnh khó khăn có nhiều khả năng bị thiếu máu hơn so với nhóm thượng lưu. Nghiên cứu chỉ ra nhu cầu của một cuộc nghiên cứu rộng rãi dựa trên cộng đồng ở những vùng núi hẻo lánh, để xác định chính xác mức độ thiếu máu và mối liên quan với các đặc điểm của phụ nữ.[16]

Nghiên cứu của Wu Y và các cộng sự tại Tây Nam Trung Quốc cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ dân tộc thiểu số trong độ tuổi sinh sản năm 2014–2018 lần lượt là : Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ Yi (20,4%), Hani (26,6%), Miao (23,2%) và các dân tộc thiểu số khác (22,9%) cao hơn đáng kể so với phụ nữ dân tộc Hán (17,0%). Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đã giảm đáng kể từ 23,0% năm 2014 xuống 16,4% năm 2018. Trong những năm gần đây, tình trạng thiếu máu của phụ nữ dân tộc thiểu số ở Tây Nam Trung Quốc đã được cải thiện rõ ràng, điều này có thể liên quan đến phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân và cải thiện tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở Trung Quốc.[23]

Nghiên cứu của Tebogo T Leepile và các cộng sự tại vùng nông thôn Botswana cho thấy tỷ lệ phụ nữ dân tộc San có thai bị thiếu máu cao hơn (26%) so với phụ nữ không mang thai (12%). Tỷ lệ hiện mắc rất khác nhau tùy thuộc vào việc Hb được điều chỉnh theo độ cao, dân tộc và hút thuốc hay được điều chỉnh cho tất cả các yếu tố kết hợp . Nhìn chung, tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ ở khu vực ven đô thị cao hơn so với khu vực nông thôn (20% so với 11%). Nghiên cứu cũng cho thấy rằng thiếu máu dao động rộng rãi tùy thuộc vào các yếu tố điều chỉnh Hb, với 6–26% ở phụ nữ không mang thai, 22–30% ở phụ nữ có thai và 35–63% ở trẻ em. Sau những điều chỉnh về dân tộc, tỷ lệ thiếu máu đã giảm đáng kể (phụ nữ: từ 22% xuống 7%; trẻ em: từ 63% xuống 35%).[18]

1.6.2. Việt Nam:

Nghiên cứu của Lê Thị Hương và Trần Thị Hồng Vân về tình trạng thiếu năng lượng trường diễn và thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ 20–35 tuổi người dân tộc Tày tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên năm 2017 được tiến hành trên 585 đối tượng cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn chung là 16,4% trong đó tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn mức độ nhẹ, trung bình lần lượt là: 13,2% và 3,2%. Thiếu máu chung chiếm tỷ lệ 25,5% trong đó tỷ lệ thiếu máu mức độ nhẹ 21,7%; trung bình là 3,8%. Thiếu máu do thiếu sắt chiếm tỷ lệ cao 45,0%. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn và thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ người dân tộc Tày ở mức tương đối cao.[11]

Nghiên cứu của Đinh Khắc Dũng và các cộng sự đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu thiết sắt của phụ nữ tuổi sinh sản tại xã miền núi dân tộc thiểu số Khe Mo huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy tình trạng thiếu máu, thiếu sắt, tỷ lệ thiếu máu chung là 36,7% (cao nhất là ở nhóm phụ nữ dân tộc Sán Chay – 39,3%, trong đó thiếu máu mức độ nhẹ là 89,5%, thiếu máu mức độ trung bình là 8,1%, thiếu máu mức độ nặng là 2,4%; nồng độ Hb ở mức đe dọa thiếu máu là 29,6%; tỷ lệ phụ nữ có dự trữ sắt thấp là 65,1%, trong đó mức dự trữ sắt cạn kiệt chiếm 39,3%, mức dự trữ sắt thấp chiếm 11,6%, mức dự trữ sắt khá thấp chiếm 49,1%. Trong nghiên cứu này tác giả chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng dinh dưỡng và thiếu, máu sắt giữa các phụ nữ các dân tộc Nùng, Sán Chay, Kinh. [4]

Nghiên cứu của Đoàn Thị Thuỳ Dương và các cộng sự về Thực trạng thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ có thai người dân tộc M’Nông tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNCT người M’Nông là 37,9%, thiếu máu thiếu sắt là 33,8%. Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt chiếm 89,0% trong số PNCT thiếu máu. Thiếu máu thiếu sắt tăng theo các giai đoạn của thai kỳ, tỷ lệ ở 3 tháng đầu, giữa và cuối theo thứ tự là 12,2%, 32,7% và 55,1%. Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt rất cao (57,1%) ở phụ nữ có từ 3 con trở lên. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng thiếu sắt là nguyên nhân chính gây thiếu máu ở PNCT M’Nông, cao nhất ở 3 tháng cuối của kỳ thai và ở các bà mẹ có từ 3 con trở lên. Can thiệp bổ sung sắt cho PNCT, đặc biệt là các PNCT từ lần thứ 3 cần được triển khai ở địa bàn nghiên cứu.[5]

Tác giả Nguyễn Quang Dũng và Trần Thuý Nga (2015) nghiên cứu về thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ tuổi sinh sản người H’mông tại một số xã thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 31,9% và có xu hướng giảm dần theo nhóm tuổi. Tỷ lệ thiếu sắt ở nhóm 15 - 24,99 tuổi là 21,2%, nhóm 25 - 34,99 tuổi là 14,8% và nhóm 35 - 49,99 tuổi là 4,3%. Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt chung là 13,9%, trong ñó cao nhất ở nhóm 15 - 24,99 tuổi: 17,9%. Tỷ lệ thiếu máu nhưng không thiếu sắt là 18,8%. Trên phụ nữ tuổi sinh ñẻ người H’Mông, thiếu máu chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở nhóm trẻ tuổi có xu hướng cao hơn so với nhóm tuổi lớn hơn. [2]

Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Nam Phương (2011) về tiếp thị xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ nữ có thai dân tộc Mường ở tỉnh Hoà Bình cho thấy phụ nữ có thai dân tộc Mường ở Hoà Bình có kiến thức tương đối tốt về các điều kiện chăm sóc thai nhưng thực hành không đầy đủ. Có những hiểu biết cơ bản về phòng chống thiếu máu thiếu sắt (61,8% biết phụ nữ có thai và cho con bú là đối tượng hay mắc thiếu máu, 83,6% biết một triệu chứng đúng của thiếu máu, 87,0% biết ít nhất một ảnh hưởng của thiếu máu, 91,6% biết ít nhất một biện pháp phòng chống thiếu máu), tác dụng của viên sắt (có 89,9% biết về viên sắt và 79,8% biết tất cả phụ nữ có thai nên uống viên sắt) nhưng chỉ có 62,2% uống viên sắt và số uống hàng ngày chỉ chiếm 72,3%. Một số yếu tố ảnh hưởng đến uống viên sắt bổ sung đúng là nguồn thuốc có thường xuyên (ảnh hưởng đến 97% đối tượng), thuốc dễ uống (40%), giá cả phù hợp (60%), ảnh hưởng tốt đến sức khỏe (47%) và ít tác dụng phụ (24%).[9]

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Dũng và các cộng sự (2017) về tình trạng thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh sản người Dao tại 4 xã thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh sản người Dao tại 4 xã thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng là 31,3% và có xu hướng giảm dần theo nhóm tuổi. Tỷ lệ thiếu sắt ở nhóm 15-24 tuổi là 9,4%, nhóm 25-34 tuổi là 5,9% và nhóm 35-49 tuổi là 8,3%. Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt chung là 4,2%; trong đó cao nhất ở nhóm 15-24 tuổi: 6,3%. Tỷ lệ thiếu máu nhưng không thiếu sắt là 27,1%. Trên phụ nữ tuổi sinh sản người Dao, thiếu máu chiếm tỷ lệ cao.[3]

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thiết kế mô tả cắt ngang. Thực hiện trên 316 phụ nữ có thai người dân tộc Khmer đến khám tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh từ 04 - 06/2021. Với tiêu chí chọn vào: phụ nữ có thai là người dân tộc Khmer; Tự nguyện tham gia nghiên cứu; phụ nữ có thai hoàn toàn tỉnh táo, có đủ năng lực hành vi trả lời bằng câu hỏi khảo sát; Tiêu chí loại ra: Phụ nữ có thai đang trong giai đoạn chuyển dạ; Phụ nữ có thai bị mắc các bệnh về máu.

Chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện cho đến khi đủ cỡ mẫu.

Quy trình thu thập số liệu gồm 3 bước: Bước 1: Liên hệ Bệnh viện xin phép thu thập số liệu. Bước Bước 2: Lựa chọn các đối tượng nghiên cứu phù hợp với tiêu chí chọn mẫu. Bước 3: Phỏng vấn đối tượng bằng bộ câu hỏi.

Nhập liệu bằng phần mềm Epidata, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0. Thống kê mô tả dùng tần số và tỷ lệ phần trăm.

Kết quả nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở 316 phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh, kết quả như sau:

4.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai người dân tộc Khmer.

Tuổi: Trong đó các đối tượng ≤ 35 tuổi có kiến thức cao gấp 0,749 lần so với các đối tượng >35 tuổi. Qua kết quả này cho thấy các đồi tượng ≤ 35 có kiến thức cao hơn so với các đối tượng > 35 tuổi. Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ và Trương Quang Vinh cho thấy tỷ lệ tuổi người mẹ >35 tuổi nguy cơ thiếu máu thiếu sắt tăng gấp 2,5 lần nhóm 20-35 tuổi[12]. Kết quả của tác giả trên cao hơn so với nghiên cứu này. Nhận thấy các đối tượng mang thai trong độ tuổi sinh sản tốt nhất là khá cao, điều này cũng phù hợp với tình hình chung của nước ta, tại độ tuổi này việc mang thai là phù hợp nhất, vì các yếu tố tâm sinh lý của người phụ nữ là tốt nhất để thực hiện thiên chức của người mẹ. Sở dĩ có kết quả này là do ĐTNC có trình độ học vấn cao hơn, có tiếp nhận được các nguồn thông tin kiến thức qua nhiều kênh khác nhau.

Kinh tế gia đình: Trong đó các đối tượng không nghèo có kiến thức cao gấp 6,731 lần so với các đối tượng nghèo và cận nghèo, đồng thời có thực hành đạt cao gấp 2,126 lần so với các đối tượng nghèo và cận nghèo. Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Hải Đăng và các cộng sự cho thấy kinh tế gia đình thuộc hộ cận nghèo và trung bình có tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt là 33,33% và 26,98% cao hơn nhóm thuộc khá giàu là 13,35%[6]. Kết quả của tác giả trên tương đương so với nghiên cứu này. Kinh tế gia đình cũng khá quan trọng, đảm bảo cho sự đáp ứng các nhu cầu cần thiết cho phụ nữ mang thai. Các đối tượng có kinh tế khó khăn có liên quan đến chất lượng cuộc sống, từ đó liên quan đến chất lượng thai sinh, trong đó có tình trạng thiếu máu thiếu sắt. Sở dĩ có kết quả này là vì các đối tượng nghèo đa số các đối tượng nghèo sống chủ yếu bằng nông nghiệp sẽ khó có thể tiếp cận các thông tin về kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng.

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức là vấn đề quan trọng nhất liên quan đến thực hành của đối tượng. Mà cụ thể có mối liên quan giữa trình độ học vấn của đối tượng với kiến thức và thực hành của đối tượng.

Trong đó các đối tượng có trình độ ≥ THPT có kiến thức cao gấp 0,14 lần, đồng thời có thực hành đạt cao gấp 1,3 lần so với các đối tượng có kiến thức dưới THPT. Kết quả của nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh với p< 0,001 có kết quả mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thức, thực hành phòng chống thiếu máu dinh dưỡng. Kết quả cho thấy các đối tượng có trình độ ≥ THPT có kiến thức cao gấp 5,071 lần, đồng thời có thực hành đạt cao gấp 4,556 lần so với các đối tượng có kiến thức dưới THPT. Kết quả của tác giả trên cao hơn so với nghiên cứu của này. Trình độ phản ánh sự hiểu biết của đối tượng về nhiều vấn đề trong đó có cả các vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai, ngoài ra còn liên quan đến khả năng tìm hiểu thông tin của các đối tượng. Vì các đối tượng có học vấn trên THPT sẽ được tiếp cận nhiều hơn về công nghệ, về các kênh thông tin trên mạng Internet nên sẽ có kiến thức, thực hành cao hơn những người có trình độ học vấn dưới THPT.[10]

Nghề nghiệp các đối tượng là nông dân có kiến thức thấp hơn 1,3 lần so với các đối tượng khác. Kết quả của tác giả Trần Văn Vũ và Võ Minh Tuấn cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp và tình trạng thiếu máu thiếu sắt. Nhóm lao động chân tay làm tăng nguy cơ thiếu máu thiếu sắt lên gấp 2,7 lần so với nhóm nội trợ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR = 2,72; KTC: 1,09 – 6,77; P = 0,031)[11]. Kết quả của tác giả trên cao hơn so với nghiên cứu này. Nghề nghệp có thể liên quan đến vấn đề dinh dưỡng của đối tượng từ đó liên quan đến tình trạng thiếu các chất dinh dưỡng thiết yếu của đối tượng đang mang thai, đồng thời một số ngành nghề còn có liên quan đến đến thai nhi khi phải tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ. Vì vậy nếu các đối tượng nếu đang mang thai cần tìm hiểu các yếu tố về môi trường làm việc có liên quan đến thai nhi hay không để có các biện pháp phù hợp phòng tránh. Sở dĩ có kết quả này là do các đối tượng nông dân đa số kinh tế của ĐTNC phụ thuộc vào nông nghiệp là chính, và đa số kinh tế của ĐTNC trong nhóm nghèo và cận nghèo nên ĐTNC sẽ khó có thể tiếp cận được những thông tin về các kiến thức phòng chống thiếu máu dinh dưỡng.

Ngoài ra cũng ghi nhận có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của đối tượng, trong đó các đối tượng có kiến thức trung bình thì có thực hành trung bình cao gấp 14,388 lần so với các đối tượng có kiến thức yếu. Kết quả của nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh cũng ghi nhận có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của đối tượng, trong đó các đối tượng có kiến thức đạt thì có thực hành đạt cao gấp 3,957 lần so với các đối tượng có kiến thức chưa đạt[10]. Tỷ lệ các đối tượng có kiến thức đạt có thực hành đạt thấp hơn so với nghiên cứu này.

Từ kết quả trên cho thấy kiến thức chính là mấu chốt dẫn đến thực hành đạt của các đối tượng, vì vậy việc bổ sung kiến thức cho các đối tượng là rất cần thiết trong tình trạng hiện tại.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu trên 316 đối tượng cho thấy:Có mối liên quan giữa tuổi, trình độ học vấn, kinh tế gia đình, nghề nghiệp của đối tượng với kiến thức (p<0,05); Có mối liên quan giữa kinh tế gia đình của đối tượng với thực hành (p<0,05); Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng của đối tượng (p < 0,05).

Qua kết quả nghiên cứu này ghi nhận kiến thức là vấn đề quan trọng nhất liên quan đến thực hành của đối tượng.

Tài liệu tham khảo:

Tiếng Việt:

1. Lê Minh Chính (2010), "Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện pháp can thiệp", Luận án Tiến sĩ Y học, tr. 9.

2. Nguyễn Quang Dũng, Trần Thuý Nga (2015), "Thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ người H’mông tại một số xã thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.", Tạp chí nghiên cứu Y học, tr. 107-113.

3. Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Văn Điệp, Lê Danh Tuyên (2017), "Tình trạng thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ người Dao tại 4 xã thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng", Tạp chí Y học dự phòng. Tập 27 (2), tr.100.

4. Nguyễn Thị Hiếu (2006), "Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu thiết sắt của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại xã miền núi dân tộc thiểu số Khe Mo huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên", Tạp chí Y học thực hành. 1/2008.

5. Nguyễn Thị Kim Lệ, Đoàn Thị Thuỳ Dương, Đinh Thị Phương Hoà (2019), "Thực trạng thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ có thai người dân tộc M’Nông tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019", Đại học Y tế công cộng, tr. 46-53.

6. Hồ Thu Mai (2013), "Hiệu quả của truyền thông giáo dục và bổ sung viên sắt folic đối với tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của phụ nữ 20-35 tuổi tại 3 xã huyện Tân lạc tỉnh Hòa Bình", tr. 9 và 61.

7. Hoàng Thị Thu Nga (2017), "Hiệu quả bổ sung thực phẩm cho phụ nữ trước và trong khi có thai tới tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu của phụ nữ có thai và trẻ 24 tuần tuổi", Luận án TS Dinh dưỡng, Viện dinh dưỡng, tr. 13.

8. Ngô Thị Kim Phụng, Phạm Thị Đan Thanh (2011), "Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ ba tháng đầu thai kỳ tại Bạc Liêu ", Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh. Tập 15(1), tr. 3.

9. Huỳnh Nam Phương (2011), "Tiếp thị xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ nữ có thai dân tộc Mường ở tỉnh Hoà Bình", Luận án Tiến sĩ Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng quốc gia, tr. 65 và 127.

10. Nguyễn Thị Thanh (2019), "Kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu thiếu sắt và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2019", tr. 28-52.

11. Trần Thị Hồng Vân (2017), "Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn và thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ 20–35 tuổi người dân tộc Tày tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên năm 2017", tr. 65.

12. Viện dinh dưỡng (2014), "Thiếu máu dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em".

13. Viện dinh dưỡng quốc gia (2014), "Tỉ lệ thiếu máu ở Phụ nữ có thai theo tuổi thai".

14. Viện huyết học truyền máu trung ương (2020), "Thiếu máu thiếu sắt: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị".

Tiếng Anh:

15. Clara Camaschella (2019), "Iron deficiency", Blood and Bond Marrow Pathology,second. 133, tr. 30-39.

16. D. Sharma và các cộng sự (2020), "Hemoglobin levels and anemia evaluation among pregnant women in the remote and rural high lands of mid-western Nepal: a hospital based study", BMC Pregnancy Childbirth. 20(1), tr. 182.

17. Robert C Hider and Xiaole Kong (2013), "Chapter 8. Iron: Effect of Overload and Deficiency", Astrid Sigel, Helmut Sigel and Roland K. O. Sigel (ed.).

18. Tebogo.T. Leepile và các cộng sự (2021), "Anemia Prevalence and Anthropometric Status of Indigenous Women and Young Children in Rural Botswana: The San People", Nutrients. 13(4).

19. Wendy Erber (2011), "Investigation and classification of anemia", Blood and Bond Marrow Pathology,second, tr. 105-114.

20. WHO (2011), "Haemoglobin concentrations for the diagnosis of anaemia and assessment of severity ", tr. 3.

21. WHO (2021), Anaemia, 30/6/2021, tại trang web https://www.who.int/health-topics/anaemia.a

22. Xiuli Zhang(2017), "Distribution of hemoglobin and prevalence of anemia in 10 ethnic minorities in China: A population-based, cross-sectional study", Medicine (Baltimore). 96(50), tr. e9286.

23. Yu Wu (2020), "Prevalence of anemia and sociodemographic characteristics among pregnant and non-pregnant women in southwest China: a longitudinal observational study", BMC Pregnancy Childbirth. 20(1), tr. 535.

ThS. Tiêu Cẩm Anh, TS.ĐD Huỳnh Thị Hồng Thu Trường Đại học Trà Vinh
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên điều dưỡng

Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên điều dưỡng

Tóm tắt: Biện pháp tránh thai (BPTT) là hành động ngăn ngừa mang thai. Đây có thể là một thiết bị, một loại thuốc, một quy trình hoặc một hành vi. Tránh thai cho phép mọi người kiểm soát sức khoẻ sinh sản và khả năng tham gia tích cực vào kế hoạch hóa gia đình.
Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về phòng ngừa biến chứng tăng huyết áp của người bệnh

Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về phòng ngừa biến chứng tăng huyết áp của người bệnh

Tăng huyết áp là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh về tim mạch, não, thận và các bệnh khác gây tử vong lớn nhất toàn cầu (Nguyễn Ngọc Cẩm Duyên và cộng sự, 2022). Tăng huyết áp toàn cầu phần lớn không được kiểm soát và tăng huyết áp vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do bệnh không lây nhiễm trên toàn Thế giới (De Bhailis Á. M, Kalra. P. A, 2022).
Tỉ lệ rối loạn lo âu xã hội và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân mụn trứng cá

Tỉ lệ rối loạn lo âu xã hội và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân mụn trứng cá

Rối loạn lo âu xã hội (Social Anxiety Disorder - SAD) được xem là một trong những phân nhóm phổ biến và gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất trong các rối loạn lo âu. Rối loạn này đặc trưng bởi nỗi sợ hãi mãnh liệt khi phải đối mặt với các tình huống giao tiếp xã hội hoặc biểu hiện trước đám đông, nơi cá nhân cảm thấy mình bị người khác chú ý hoặc đánh giá. Tình trạng này thường dẫn đến sự căng thẳng, hành vi né tránh và gây ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng sinh hoạt hàng ngày, hiệu quả học tập hoặc làm việc, cũng như chất lượng cuộc sống nói chung. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra mối liên hệ tiềm năng giữa rối loạn lo âu xã hội và các bệnh da liễu, đặc biệt là mụn trứng cá – một trong những tình trạng da phổ biến nhất ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi. Tính chất dễ nhận thấy và kéo dài của mụn trứng cá có thể dẫn đến sự lo lắng về hình thể, giảm lòng tự trọng và tăng nhạy cảm với việc bị đánh giá trong xã hội – tất cả đều là các yếu tố nguy cơ làm gia tăng khả năng phát triển rối loạn lo âu xã hội. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát về tỷ lệ mắc rối loạn lo âu xã hội ở bệnh nhân bị mụn trứng cá cũng như các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động