Parental Knowledge, Attitudes, and Practices in the Home Care of Acute Respiratory Infections Among Children Under Five: A Study at Tra Vinh Obstetrics and Pediatrics Hospital

Kiến thức, thái độ và thực hành của phụ huynh về chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh

Tại Việt Nam, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ. Theo thống kê của Bộ Y Tế (2016) cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi là khá cao với 24%, đồng thời thông qua báo cáo tại Hội nghị Khoa học thường niên Hội Hô Hấp Việt Nam (2019) cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng gây tử vong ở Việt Nam cao gấp 10 lần so với các nước Úc, Nhật.

Tóm tắt:

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là bệnh lí phổ biến thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ dưới 5 tuổi, bệnh là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật và đứng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là ở các nước đang phát triển[7]. Theo báo cáo WHO (2019) cho thấy NKHHCT đã gây tử vong cho 2,6 triệu trẻ em, chiếm 15% tổng số trẻ tử vong dưới 5 tuổi và là một trong những bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao nhất trên thế giới[8], thông qua số liệu thống kê cho thấy cần có sự can thiệp kịp thời để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.

Từ khóa: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, trẻ dưới 5 tuổi, Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh.

Parental Knowledge, Attitudes, and Practices in the Home Care of Acute Respiratory Infections Among Children Under Five: A Study at Tra Vinh Obstetrics and Pediatrics Hospital

Summary:

Acute respiratory infections (ARIs) are common diseases in children, especially children under 5 years old. The disease is the leading cause of disease burden and the third leading cause of death in children under 5 years old, especially in developing countries[7]. According to the WHO report (2019), ARIs have caused the death of 2.6 million children, accounting for 15% of all deaths in children under 5 years old and are one of the most deadly infectious diseases in the world[8]. Through statistics, timely intervention is needed to limit the incidence and mortality of ARIs.

Keywords: Acute respiratory infection, children under 5 years old, Tra Vinh Maternity and Pediatrics Hospital.

Ngày nhận bài: 14/02/2025

Ngày hoàn thiện biên tập: 18/03/2025

Ngày duyệt đăng: 20/03/2025

Bài đăng trên Tạp chí in Sức Khỏe Việt số Tháng 3+4/2025

Đặt vấn đề

Tại Việt Nam, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ. Theo thống kê của Bộ Y Tế (2016) cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi là khá cao với 24%[1], đồng thời thông qua báo cáo tại Hội nghị Khoa học thường niên Hội Hô Hấp Việt Nam (2019) cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng gây tử vong ở Việt Nam cao gấp 10 lần so với các nước Úc, Nhật[2], do đó nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là vấn đề cấp thiết cần được quan tâm, chính vì thế trong những năm gần đây thống kê về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở các tuyến bệnh viện và cộng đồng có xu hướng tăng lên đáng kể cụ thể là theo nghiên cứu của tác giả Trần Thị Mai Trinh (2018) nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 cho thấy có đến 104 trẻ dưới 5 tuổi mắc viêm phổi, 5,8% trong tổng số trẻ mắc bệnh có diễn tiến nặng và tử vong[6].

Tại Trà Vinh thông qua nghiên cứu của tác giả Lý Thị Chi Mai (2011) về tình hình mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trong 2 tuần tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh là 36,5%, với độ tuổi mắc bệnh của trẻ ở nhóm dưới 1 tuổi là 1,2% và nhóm từ 1 – 3 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn với 19,5%, đồng thời nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (31,2%) thì có con mắc bệnh thấp hơn so với các bà mẹ có kiến thức chưa đầy đủ 47,9%[4]. Nhận thấy tính cấp thiết và quan trọng của vấn đề do đó tiến hành nghiên cứu đề tài “ Kiến thức, thái độ và thực hành của phụ huynh về chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh”

Tổng quan tài liệu

Theo báo cáo UNICEF và WHO năm 2006 tỷ lệ trẻ em tử vong dưới 5 tuổi do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 19% các trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, thống kê còn cho thấy tỷ lệ ở từng khu vực là khác nhau với Nam Châu Á là 21% và Mỹ Latinh là 14% . Một thống kê khác từ UNICEF (2011) cho thấy có đến ¾ trường hợp mắc viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới và Việt Nam cũng là 1 trong 15 nước trên thế giới có tỷ lệ mắc bệnh cao với khoảng 2 triệu trường hợp mắc bệnh [7].

Nghiên cứu của tác giả Esraa Ali Mahjoub Saeed và cộng sự (2020) về kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại một địa phương ở khu đô thị Khartoum Sudan cho thấy có 88,7% bà mẹ có kiến thức về bệnh, chỉ có 11,3% chưa có thông tin về bệnh. Số bà mẹ lựa chọn thuốc thay thế hay y học cổ truyền khi trẻ mắc bệnh viêm phổi là 43,3%, 17,3% bà mẹ lựa chọn sử dụng kháng sinh tại nhà và có 4,7% bà mẹ cho rằng nên để bệnh tự khỏi. Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn cho ta thấy tỷ lệ bà mẹ có thực hành đúng khi trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là 50,7% với lựa chọn là đưa đến bác sĩ, 34% chọn cách tự mua thuốc và 25% bà mẹ lựa chọn tham khảo ý kiến gia đình về những gì cần làm. Thông qua nghiên cứu có thể thấy có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của bà mẹ trong chăm sóc trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính .

Theo nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Phượng (2020) nghiên cứu về khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc và phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị tại khoa hô hấp bệnh viện nhi tỉnh Nam Định, thông qua nghiên cứu tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về bệnh lần lượt là 87,8%, 84,1% và 73,8%, ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy có mối liên quan về các đặc điểm nhân khẩu học bao gồm nhóm tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp với kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ trong nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Kết quả và thảo luận

Qua nghiên cứu trên 119 phụ huynh là người trực tiếp chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đang được điều trị tại Khoa Nội nhi Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh. Kết quả cho thấy phụ huynh có mối quan hệ với trẻ là mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,2%, kế đến là cha với tỷ lệ 15,1%, phụ huynh là bà của trẻ có tỷ lệ thấp nhất với 1,7%. Phụ huynh thuộc dân tộc Kinh có tỷ lệ cao nhất với 62,2%, tỷ lệ này có sự chênh lệch so với nhóm dân tộc Khmer là 32,8% và tỷ lệ phụ huynh thuộc dân tộc Hoa thấp nhất với 5,0%. Hầu hết đối tượng nghiên cứu sống ở nông thôn (75,6%) chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm sống ở thành thị (24,4%). Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Hòa (2017) với tỷ lệ bà mẹ sống ở nông thôn và thành thị lần lượt là 74,7%, 25,3%[3] , sự tương đồng trên cho thấy phần lớn đối tượng được khảo sát của 2 nghiên cứu phân bố ở nông thôn nhiều hơn so với thành thị. Đa phần phụ huynh có 1 con trong gia đình chiếm 61,3%, tỷ lệ này cao hơn với nhóm phụ huynh có từ 2 con trở lên với 38,7%. Điều này có thể giải thích được cho phụ huynh thuộc nhóm tuổi từ 26 đến dưới 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 82,4% và cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Phượng (2020) là 62,02%[28], sự khác biệt trên có thể nghĩ đến đa phần phụ huynh (có mối quan hệ với trẻ là mẹ) có tìm hiểu về sức khỏe sinh sản với độ tuổi sinh sản phù hợp nhất là ở nhóm dưới 35 tuổi[30]. Về trình độ học vấn, tỷ lệ phụ huynh có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,4%, kế đến là trung học phổ thông với 30,3%, cao đẳng, đại học và sau đại học là 17,6%, tỷ lệ phụ huynh có trình độ tiểu học thấp hơn với 5,9% và có 0,8% không biết chữ, tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Lý Hoàng Trí (2015) với tỷ lệ cao đẳng, đại học là 17,2% và 1,2% không biết chữ[5]. Qua khảo sát cho thấy sự phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu tương đối đồng đều, trong đó công nhân có tỷ lệ cao nhất với 26,9%, tương đồng với tỷ lệ trên là nhóm phụ huynh có nghề nghiệp là nội trợ và nông dân với tỷ lệ lần lượt là 25,2%, 20,2%, phụ huynh thuộc nhóm nghề nghiệp công chức chiếm 16,0% và phụ huynh thuộc nhóm khác ( buôn bán, thợ may) có tỷ lệ thấp nhất với 11,8%. Từ kết quả cho thấy, tất cả phụ huynh là người trực tiếp chăm sóc trẻ đang trong độ tuổi lao động và đã trưởng thành, có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên do đó sẽ có sự hiểu biết tương đối để tham gia trả lời câu hỏi và có những kinh nghiệm cơ bản trong chăm sóc trẻ

Kiến thức, thái độ và thực hành của phụ huynh về chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại Khoa Nội nhi Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh Về phần kiến thức: Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đạt về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 36,1%. Dấu hiệu khởi phát của bệnh được phụ huynh biết đến nhiều nhất là ho – chảy nước mũi chiếm 74,8%. Sốt là dấu hiệu phụ huynh cho là nguy hiểm cần đưa trẻ đến cơ sở y tế chiếm tỷ lệ cao nhất với 72,3%, kế đến là ngủ li bì với 32,8% và 21% lựa chọn là bỏ bú. Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đạt trong xác định yếu tố nguy cơ gây bệnh cho trẻ chiếm 73,1%. Về phần thái độ: Tỷ lệ phụ huynh có thái độ tích cực về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 61,3%. Phụ huynh có thái độ tích cực trong việc đưa trẻ đến cơ sở y tế, vệ sinh mũi họng và phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ có tỷ lệ khá cao, lần lượt là 99,2%, 84,0% và 54,6%. Về phần thực hành: Phụ huynh có thực hành đúng về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 46,2%, tỷ lệ phụ huynh có thực hành đúng trong cho trẻ ăn và uống nhiều hơn với tỷ lệ lần lượt là 68,1% và 89,1%. Có 66,4% phụ huynh có thực hành đúng trong lựa chọn biện pháp phòng ngừa cho trẻ, trong đó không cho trẻ tiếp xúc khói thuốc lá, bụi có tỷ lệ cao nhất với 48,7% . Các mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thự hành về chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ với các đặc điểm nhân khẩu học của phụ huynh

Kết luận

Qua phân tích cho thấy có mối liên quan đáng kể giữa kiến thức, thái độ và thực hành của phụ huynh trong chăm sóc trẻ. Đa phần phụ huynh có kiến thức đạt sẽ có thái độ tích cực và thực hành đúng cao hơn so với phụ huynh có kiến thức chưa đạt và phụ huynh có thái độ tích cực thì tỷ lệ thực hành đúng cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y Tế (2016) Kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em gia đoạn 2016 – 2020, Hà Nội

2. Võ Minh Hiền, Nguyễn Ngọc Huy, Keisuke Yoshihara, Lay Myin Yoshida (2018) “ Dịch tễ học – Lâm sàng và các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng ở trẻ em dưới 5 tuổi. Hội nghị Khoa học Nhi khoa Bệnh viện Nhi Đồng 1”, Tạp chí Y học thực hành, số 4, tập 23.

3.Đỗ Thị Hòa (2017) “Thay đổi thái độ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sau giáo dục sức khỏe của bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định”. Luận văn Thạc sỹ Điều dưỡng.Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

4. Lý Thị Chi Mai, Huỳnh Thanh Liêm (2011) “Nghiên cứu tình hình mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh”, Trung tâm Y Tế dự phòng Trà Vinh

5. Đoàn Thị Phượng (2020) “Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc và phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị tại Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định”. Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.

6. Trần Thị Mai Trinh, Phạm Thị Minh Hồng (2018) “Đặc điểm viêm phổi kéo dài ở trẻ dưới 5 tuổi tại Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Đồng 2”.

7. UNICEF (2014) “The UN inter – agency Group for child Mortality Estimation Levels and Trends in child Mortality Report”

8. WHO (2019) Reveals leading causes of death and disability worldwide 2000 – 2019 . https://www.who.int/news/item/09-12-2020

Ths. Bùi Thị Kim Tuyến 1, TS. Huỳnh Thị Hồng Thu 2, Ths Nguyễn Thị Ngọc Ngoan 3, CNĐD. Bùi Anh Thư 4 - 1,2,3 Trường Đại học Trà Vinh 4 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ
https://suckhoeviet.org.vn

Tin liên quan

Kiến thức về sử dụng thuốc hợp lý của sinh viên dược, Trường Đại học Trà Vinh

Kiến thức về sử dụng thuốc hợp lý của sinh viên dược, Trường Đại học Trà Vinh

Kiến thức về việc sử dụng thuốc hợp lý đề cập đến khả năng tiếp cận, sàng lọc, đánh giá thông tin và đưa ra quyết định liên quan đến việc sử dụng thông tin để thay đổi hành vi, lựa chọn các thông tin, dịch vụ và sản phẩm liên quan đến sức khỏe.
Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên điều dưỡng

Yếu tố liên quan kiến thức, thái độ về biện pháp tránh thai của sinh viên điều dưỡng

Tóm tắt: Biện pháp tránh thai (BPTT) là hành động ngăn ngừa mang thai. Đây có thể là một thiết bị, một loại thuốc, một quy trình hoặc một hành vi. Tránh thai cho phép mọi người kiểm soát sức khoẻ sinh sản và khả năng tham gia tích cực vào kế hoạch hóa gia đình.
Thái độ về tiêm tĩnh mạch an toàn của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh năm 2023

Thái độ về tiêm tĩnh mạch an toàn của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Trà Vinh năm 2023

Tóm tắt: Tiêm là thủ thuật phổ biến nhất, đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị tại cơ sở y tế, đặc biệt là trong trường hợp bệnh diễn tiến nặng, bệnh cấp cứu.

Cùng chuyên mục

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

Phòng và điều trị bệnh sa sút trí nhớ theo Y học Cổ truyền

TÓM TẮT: Y học cổ truyền (YHCT) xem bệnh sa sút trí nhớ (Alzheimer, Tâm căn suy nhược, Kiện vong) là do các tạng Thận, Can, Tỳ, Tâm mất chức năng, khí huyết suy kém, đờm ứ, tinh thần bị ảnh hưởng; phòng ngừa bằng cách bồi bổ cơ thể, ăn uống lành mạnh, tập thể dục, giữ tinh thần lạc quan, còn điều trị tập trung vào các bài thuốc, món ăn có tác dụng bổ thận, hoạt huyết, an thần như dùng óc dê, long nhãn, kỷ tử, thục địa... kết hợp châm cứu, xoa bóp để cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển bệnh.
Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Phương pháp luyện thiền: hỗ trợ phòng ngừa sa sút trí tuệ và cải thiện trí nhớ

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thiền định như một liệu pháp không dùng thuốc trong việc bảo vệ sức khỏe hệ thần kinh. Thông qua việc giảm thiểu căng thẳng (stress) và tăng cường mật độ chất xám tại vùng hải mã, các phương pháp luyện thiền không chỉ giúp làm chậm quá trình lão hóa não bộ mà còn hỗ trợ phòng ngừa hiệu quả các triệu chứng sa sút trí tuệ (Dementia). Đồng thời, bài viết cũng cung cấp các bằng chứng khoa học về khả năng tối ưu hóa trí nhớ và sự tập trung thông qua việc rèn luyện tâm trí thường xuyên.
Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Kích hoạt não bộ xã hội: Oxytocin, gắn kết và sức khỏe tinh thần cộng đồng

Tóm tắt : Trong thế kỷ 21, khi tốc độ phát triển công nghệ và cuộc sống cá nhân hóa tăng cao, con người dường như kết nối nhiều hơn qua màn hình nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn trong đời thực. Đây chính là mặt trái của xã hội hiện đại, khoa học công nghệ (4.0). Vì điều này đi ngược lại với thiết kế sinh học nguyên thủy của chúng ta: con người được lập trình để kết nối cộng đồng. Não bộ không chỉ là một trung tâm xử lý logic hay ký ức, mà nó còn là một cơ quan xã hội. Khả năng thấu hiểu, tin tưởng và gắn kết cộng đồng là nền tảng cho sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Vậy, điều gì đã thúc đẩy bản năng kết nối mạnh mẽ này? Câu trả lời nằm ở một hệ thống phức tạp trong não bộ, được điều phối bởi một "phân tử kỳ diệu "được mệnh danh là hormone tình yêu: Oxytocin. Bài viết này sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với những khám phá đột phá về Não bộ Xã hội, vai trò của Oxytocin, và cách chúng ta có thể chủ động kích hoạt hệ thống này để xây dựng sức khỏe tinh thần bền vững cho cả cá nhân và tập thể.
Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Thiền chánh niệm trong việc cải thiện suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ là một trong những thách thức sức khỏe hàng đầu ở người cao tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự độc lập của cá nhân. Trong các phương pháp can thiệp phi dược lý, thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation) đang ngày càng được chú trọng nhờ những tác động tích cực đến cấu trúc và chức năng não bộ.
Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

Những thay đổi cùa cơ thể khi có tuổi và nhu cầu dinh dưỡng ở người có tuổi

TÓM TẮT: Quá trình lão hóa là một quy luật tự nhiên dẫn đến những thay đổi sinh lý toàn diện trong cơ thể người, từ sự suy giảm khối lượng cơ, mật độ xương đến những biến đổi trong hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất. Bài viết này tập trung phân tích sự tác động của quá trình lão hóa đối với các hệ cơ quan và mối liên hệ mật thiết giữa những thay đổi này với nhu cầu dinh dưỡng ở người cao tuổi. Kết quả tổng hợp cho thấy, để duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh mạn tính, người cao tuổi cần một chế độ ăn uống chuyên biệt: ưu tiên thực phẩm giàu mật độ dinh dưỡng, điều chỉnh lượng protein để chống teo cơ, và tăng cường bổ sung các vitamin, khoáng chất thiết yếu như Canxi, Vitamin D, và B12. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cá nhân hóa dinh dưỡng nhằm nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người cao tuổi.
10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

10 Cách thức tuyệt vời giúp cải thiện tăng cường trí nhớ

TÓM TẮT: Trí nhớ là một chức năng nhận thức cốt lõi, đóng vai trò quyết định đến chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của con người. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình lão hóa và áp lực từ lối sống hiện đại, khả năng ghi nhớ thường có xu hướng suy giảm. Bài viết này tổng hợp và phân tích 10 phương pháp tối ưu đã được khoa học chứng minh giúp cải thiện và tăng cường trí nhớ. Các phương pháp bao gồm từ việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng (bổ sung Omega-3, chất chống oxy hóa), thiết lập thói quen rèn luyện thể chất, đến các bài tập chuyên sâu cho não bộ như thiền định và kỹ thuật ghi nhớ (Mnemonics). Kết quả cho thấy việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ thông tin mà còn góp phần bảo vệ não bộ khỏi các bệnh lý thoái hóa thần kinh trong dài hạn.

Các tin khác

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Ứng dụng của thuốc quy tỳ nghi hưng long trong chăm sóc sức khỏe bảo vệ não bộ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (asd) và tăng động giảm chú ý (adhd)

Tóm tắt: Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder - ASD) và rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder - ADHD) là những rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ em. Trẻ mắc ASD thường có khó khăn trong giao tiếp xã hội, hành vi lặp lại, kèm theo các vấn đề về nhận thức và giấc ngủ. Trẻ mắc ADHD biểu hiện kém chú ý, hiếu động quá mức hoặc bốc đồng, thường gặp khó khăn về trí nhớ làm việc và điều hòa cảm xúc. Hiện nay, việc điều trị hai rối loạn này chủ yếu dựa vào can thiệp hành vi và dùng thuốc tác động thần kinh, nhưng hiệu quả trên các triệu chứng cốt lõi còn hạn chế và có nhiều tác dụng phụ. Do đó, ngày càng có sự quan tâm đến các liệu pháp bổ trợ từ y học cổ truyền. Bằng nghiên cứu các bài thuốc cổ phương kết hợp với phương thức bào chế gia truyền dòng họ Vũ Gia đã cho ra đời sản phẩm Quy Tỳ Nghi Hưng Long trải qua nhiều năm ứng dụng với tư cách là một bài thuốc y học cổ truyền trao tay trực tiếp đến người bệnh bằng kết quả kiểm chứng lâm sàng uy tín, tin cậy và trải qua các kỳ kiểm định tiêu chuẩn, sản phẩm đã được Cục Quản lý y, dược cổ truyền – Bộ Y tế cấp phép lưu hành toàn quốc với mã số đăng ký: TCT-00189-24. Đặc biệt, từ năm 2023 được sự hỗ trợ, đồng hành của Lương y Vũ Hữu Thắng, trẻ em ASD và ADHD đã được kiểm tra và kê đơn sử dụng thuốc trong việc hỗ trợ sức khỏe não bộ, tăng cường trí nhớ và an thần kinh, mang lại hiệu quả an toàn cao.
Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tác động của aga trầm hương lên sóng não và trạng Thái thiền trong cơ chế tự chữa lành

Tóm tắt:
Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Một số thảo dược hỗ trợ điều trị và phục hồi suy giảm trí nhớ

Tóm tắt:
Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Suy giảm trí nhớ của người cao tuổi: Thực trạng và giải pháp bảo vệ sức khỏe não bộ tăng cường trí nhớ bằng y học cổ truyền

Tóm tắt:
Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Phòng ngừa và phục hồi suy giảm trí nhớ bằng dưỡng sinh tâm thể (DSTT): Cân bằng dinh dưỡng và điều hòa khí huyết não bộ

Tóm tắt:
Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

Sức khỏe não bộ và nhịn ăn gián đoạn 16:8

TÓM TẮT:
Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Quan điểm mới về phục hồi chức năng toàn diện trong Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam

Tóm Tắt:
Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Ứng dụng y học cổ truyền trong sinh hoạt hàng ngày để tăng cường sức khỏe não bộ

Tóm tắt: Bộ não có nhiều chức năng vô cùng quan trọng. Bộ não là cơ quan trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người, điều khiển lời nói, suy nghĩ, hành động, cảm xúc, tư duy, đến các chức năng sinh lý như nhịp tim, hô hấp hay điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp con người phản ứng lại với các tình huống trong cuộc sống, điều hòa lại cơ thể khi stress, căng thẳng.
Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Liệu pháp hydro trong hỗ trợ suy giảm trí nhớ và bệnh Alzheimer: Từ cơ chế chống oxy hóa đến kết quả lâm sàng

Tóm tắt: Các bằng chứng lâm sàng đã chứng minh Hydro phân tử (H₂) có tính an toàn cao và dung nạp tốt. Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cho thấy việc uống nước giàu Hydro trong 1 năm giúp giảm đáng kể chỉ số stress oxy hóa và ngăn chặn sự suy giảm trí nhớ. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân mang gen APOE4 (có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer), nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm số nhận thức (p = 0,037 cho tổng điểm ADAS-cog).
Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Enzyme học và nam dược học trong phục hồi trí nhớ và tái tạo tế bào thần kinh não bộ

Tóm tắt: Suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson và các rối loạn thần kinh hiện đang nổi lên như một “đại dịch âm thầm” trong thế kỷ XXI, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số.
Xem thêm
Phiên bản di động